Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

PHẠM TRỌNG CHÁNH: NGÔ THÌ NHẬM (1746-1803) - CÚC THU BÁCH VỊNH - 50 Bài thơ đối thoại với Phan Huy Ích(1751-1802)


 (Tiếp theo và hết)



25. GẶP NGÀY SINH NHẬT CHA KÍNH VIẾNG

Không phải mặc áo màu để múa trước thềm. Lão Lai trong Nhị Thập Tứ Hiếu, 80 tuổi cha mẹ vẫn còn sống, nên mặc áo màu như trẻ thơ múa mua vui cho cha mẹ, ý  câu thơ nói cha mẹ không còn nữa. Xum xuê hoa hạnh nở bên ao biếc. Ý nói con cháu giờ đông vui đầy nhà. Nơi nao mây núi theo hầu người cầm hạc. Ý cha mẹ đã cỡi hạc qui tiên. Tích Triệu Biện đời Tống làm quan Tham Tri khi vào đất Thục cỡi ngựa và đem theo cây đàn cùng chim hạc tỏ v giản dị vui thú tiêu dao. Câu thơ nhắc lại chuyện cha Ngô Thì Sĩ khi làm Đốc Trấn Lạng Sơn thường ngao du nơi động Nhị Thanh. Nay làm quan to  gấm vóc dư thừa, mà xót xa không mẹ cha để phụng dưỡng. Cổn chương là người làm quan to. Đứa con lênh đênh chẳng phải nói đến cây nga, thẹn với tóc bạc như tuyết. Kinh Thi thơ Lục Nga : ”Lục lục giả nga, phỉ nga y cao, ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao“ Cây nga xinh tốt kia, không phải là cây nga mà là cây cao, thương cha mẹ ta sinh ta vất vả. Thương cha mẹ quá cực khổ sinh dưỡng ta nay nay mắt lòa, không phân biệt rõ  cây nọ với cây kia. Không cần nói cây nga nữa vì cha mẹ đã mất. Từ đường chốn quê nhà tịch mịch trong nắng thu. Nhị Thanh mờ mịt đây động thần tiên. Không kế gì tìm lại được cha mẹ để phụng dưỡng.


Chẳng múa áo màu vui mẹ cha,
Xum xuê vườn hạnh biếc ao nhà.
Nơi nao mây núi theo cầm hạc.
Thừa thãi gấm the phận xót xa.
Lênh đênh tóc bạc thơ nga thẹn.
Tịch mịch từ đường quê nắng tà.
Nhị Thanh mờ mịt thần tiên động.
Tìm đâu phụng dưỡng mẹ cha già.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

CUNG VÃN TIÊN NGUYÊN ĐÃN TIẾT
Bắt thị y ban vũ tại đường,
Bích trì niểu ái hạnh hoa đường.
Vân sơn thậm xứ bồi cầm hạc,
Phong vận duy dư ngưỡng cẩm chương.
Du tử phi nga tàm huyết mấn,
Thế từ hữu hức đối thu dương.
Nhị Thanh phiêu diểu thần tiên động,
Vô kế trùng tầm tựu dưỡng phương.

26 . TUÂN THEO Ý

Nguyên dẫn : Việc đã qua như giấc mộng. Bạn ta là hạng người trong tuần lễ Đế Quán. Hồi tưởng lại cuộc gặp gỡ xưa. mong gặp lại lần nữa thì thật là khó. Nay tiếp được quý thơ nhắc lại quang cảnh đi sứ, bấc giác thêm khảng khái, bèn kính thơ họa lại mong được nhận cho.

Đế quán là thời suy vong  sau thời thịnh trị  Chu Thành Vương.  Luận Ngữ, thiên Bất Dật, Tử viết : “Đế tự ký quán nhi vãng gia, ngô bất diệc quan”. Tế Đế Tử tuần rót rượu đế thần giờ trở đi ta không muốn xem nữa. Ý Khổng Tử nước Lỗ đời Chu Thành Vương  lễ đế thời thịnh trị, khi nước Lỗ suy sinh ra lười biếng không thể xem được,

Nhớ xưa vua sáng tôi hiền tụ họp một triều đình. Hầu xa giá  bên sông Hương xe theo lối tiên. Năm đi sứ được sai truyền từ cửa Kim mã. Vua Quang Trung mất, Ngô Thì Nhậm được cử làm Chánh sứ sang báo tang và thụ phong cho vua Cảnh Thịnh. Nhớ lúc ngự bút báo tang được vua  nhà Thanh cảm động ban khen khi dâng tờ biểu chương. Năm tháng như tên bay giờ thành ông già bạc tóc. Đỉnh hồ mờ mịt trông vời lăng Đan Dương. Vua đã mất trông vời nơi lăng Đan Dương. Muốn gieo quẻ đề cầu may lần nữa. Nhưng nực cười chưa tìm ra phương thuốc làm đen râu.

Kim mã nơi cung Vị Uông đời Hán nơi các Hàn Lâm học sĩ làm việc. Đình hồ : vua Hoàng Đế TQ lấy đồng núi Kinh Sơn đúc đỉnh hồ, đỉnh đúc xong vua cỡi rồng bay mất. Đỉnh hồ chỉ vua Quang Trung mất, lăng Đan Dương là nơi an táng vua Quang Trung.

Vua sáng tôi hiền xưa một đình,
Hương giang ngự giá lối xe tiên.
Xưa qua Kim Mã đường đi sứ,
Dâng tấm ngự chương bút ngợi khen.
Năm tháng tên bay giờ bạc tóc,
Đỉnh hồ mờ mịt nhớ Đan Dương,
Muốn mong trở lại ngày tao ngộ,
Nhưng nực cười không thuốc nhuộm đen,

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

TUÂN 
Ức tích minh hương hội nhất đường,
Hương giang ngự tất hổ tiên đường.
Hoàng hoa tuế khiền truyền Kim mã.
Duệ táo thời bao phụng bảo chương.
Niên tiển xâm tầm thành bạch tẩu,
Đỉnh hồ phiếu diễu vọng Đan Dương.
Thao hồ yêu hạnh trùng tao ngộ,
Khước tiếu ô tu vị đắc phương.

27 . KÍNH VIẾNG LĂNG ĐAN DƯƠNG

Nguyên dẫn :  Ông nhân nghe có lệnh gọi, còn chưa đi ngay được, buồn bã mà thành thơ. Đại đ vua tôi cốt ở nghĩa, cha con cốt ở ân, luân lý lớn của đạo làm người chỉ là một. Nhưng vua biết tôi, cha biết con, vậy cảm kích về ân nghĩa đó như thế nào ? Bài thơ trước tôi có câu “Hữu vọng Đan Dương “ Trông về lăng Đan Dương, nhân nhắc tới chuyện đi sứ trước đây, mà nay được thơ ông, chợt lại có cảm hứng. Nhân sắp đến ngày tiên húy, giữa lúc ốm yếu vẫn cảm nhớ, nỗi lỏng càng thêm trằn trọc, làm được bài Khâm Văn (Kính viếng) và Cung Ức (Kính nhớ) họa theo nguyên vận gửi ông xem, tất cả đều mong ông lượng xét.

Khó níu xe rồng ở cung Tử cực. Vua Hoàng Đế TQ sau khi đúc đỉnh xong cỡi rồng lên tiên, các đại thần vin râu rồng, muốn giữ lại mà không được. Tử Cực đường là nơi quàn quan tài vua. Buồn trông suối vàng chín khúc quanh co. Kim nguyên:  suối  vàng, người xưa cho rằng nguồn ở phía Tây Vực. Võ công hiển hách còn để lại nơi nương tựa.  Mưu lược sáng suốt đã mở nền tảng cho triều đại. Hồn thiêng hiện xuống kính thấy ngay bên tả. Giòng dõi giữ gìn ngưỡng trông đang ở bên ánh dương. Đức trời bồi đắp lo mà đền đáp. Đạo qu Khôn không gì khác. Lợi ở thẳng và vuông. Hào từ qu Khôn, Kinh Dịch : “Trực phương đại, bất tập vô bất lợi.” Thẳng vuông lớn, dẫu không học tập mà vẫn có lợi.

Ngày  29 tháng 9 ,Quang Trung thứ 5 (1792) Nguyễn Huệ mất. Năm sau Cảnh Thịnh năm thứ nhất, Ngô Thì Nhậm làm Chánh sứ sang báo tang và cầu phong.

Khó níu xe rồng Tử Cực Đường
Quanh co chín khúc suối vàng trông.
Võ công hiển hách nơi nương tựa,
Mưu lược anh minh lưu hiến chương.
Hiện xuống hồn thiêng khâm tại tả,
Giữ gìn giòng dõi ngưỡng vầng dương.
Đất trời bồi đắp lo đền đáp,
Khôn đạo không ngoài lợi thẳng vuông.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

KHÂM VÃN ĐAN DƯƠNG LĂNG
Long ngự nan phàn Tử Cực Đường,
Kim nguyên trướng vọng cửu hồi đường.
Nhung y thần vũ lưu bằng tạ,
Phương sách anh mô địch hiến chương,
Trắc giáng hoàng linh khâm tại tả,
Bảo minh thanh dận ngưỡng đương dương.
Tài bồi thiên đức tư thù đáp,
Khôn đạo vô tha lợi trực phương.

28, KÍNH NHỚ ĐỘNG NHỊ THANH. Bài này Ngô Thì Nhậm nhớ tới cha là Ngô Thì Sĩ đã trùng tu động Nhị Thanh khi làm Đốc Trấn Lạng Sơn, ông lấy hiệu Nhị Thanh Động Chủ.

Mây ráng là phòng, vách đá là nhà. Tùng bách mới trồng trên bờ muôn trượng. Uy nghi Thần, Phật sáng trưng sắc ngọc. Điển sách vương hầu bài bia ký rực rỡ sắc rồng. Dân trong bảy châu Lạng Sơn đầu yên vui sinh sống. Tấc cỏ sao đáp đền ánh dương soi đã lâu. Riêng người còn để lại mãi chữ Hiếu trên vách. Đâu na vời như đứa con này, nào được vẹn toàn.

Mây ráng là phòng vách đá nhà,
Bách tùng mới cấy vạn bờ xa.
Uy nghi Thần Phật ngọc trong sáng,
Điển sách vương hầu rồng lượn sa.
Bảy châu vui sống dân yên ổn,
Tấc cỏ đáp đền ân đức nhà,
Riêng người chữ Hiếu còn trên vách,
Chẳng phải nửa vời thẹn nỗi  ta.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

CUNG ỨC NHỊ THANH ĐỘNG
Yên hà vi thất, thạch vi đường,
Truông bách tân tài vạn trượng đường.
Thần Phật uy nghi chiêu ngọc sắc,
Vương hầu điển sách xán long chương.
Thất châu tẩm đức đồng bào hộ,
Thốn thảo an thù cửu chiếu dương,
Tiêu bích duy công lưu vĩnh hiếu,
Bán như tử thử cảm toàn phương.

29. TIỄN THU
Nguyên dẫn : Ngày Liễu Cốc đã chuyển đi dần.  Chuông Ứng Chung sắp kỳ rung tiếng. Chứa giai nhân, chọn nhà vàng. Những e gió thổi lưu thi khách nơi lầu ngọc, luống ngại không trăng. Nhớ ông lòng nhớ, lòng dám xa lòng! Nhân mượn bút mực mà tiễn thu, suối lan đọc câu thơ cũ, bèn quăng sành đá mà kiếm ngọc,  nhà chi mong vị hương thơm.

Liễu Cốc là thần coi mùa thu. Ngày thu, “Liễu Cốc chi đán.” Chương Thượng Thủ trong Đại truyện. Kinh Lễ : Chuông Ứng Chung dùng vào tháng 10 (ÂL), mùa thu đang dần qua, mùa đông sắp đến. Suối lan, nhà chi. Chi lan là tình bạn thân thiết.

Tiễn thu sao không đến được ngôi nhà ở phía Đông. Tình sâu trân trọng tiễn nhau lên yên lưng ngựa. Chỉnh rượu vừa cấp cho vào đêm Nhâm Tuất. Nhắc thơ Tô Đông Pha bài Hậu Xích Bích. Vợ nói :” Tôi có chỉnh rượu cất đã lâu ngày.” Ý thơ hẹn ngày trở về, như Tô Đông Pha chơi thuyền đêm Nhâm Tuất. Bức Hồi Văn lại dệt vào tháng Tất Canh. Hồi Văn bài thơ dệt lên gấm dâng vua. Đây nói việc Ngô Thì Nhậm đi sứ báo tang vào mùa thu. Sao Tất và sao Trường  Canh ở phương Tây thuộc về mùa thu. Mỹ nhân thầm nhỏ giọt lệ trong xe Ngư Hiên. Tích Chiêu Quân cống Hồ, ý nói việc đi sứ xa nhớ đến vua Quang Trung đã mất.  Du khách khó đuổi theo ánh dương vùng Nhạn Đảng. Thủy Vân nhàn vịnh bài Hữu Sở thán : Kiến Văn Công nhà Minh chạy trốn đến Thiên Thai, Nhạn Đảng, Kiếm Nam làm nơi trú chân, cha con Sử Bân đi theo điều hành chính sự suốt 40 năm. Niên hiệu Chính Thống năm đầu. Kiến Văn Công tự ra đầu thú, được rước vào cung được phong làm Thọ Hầu bỏ mặc cha con Sử Bân. Ý nói những biến động trong triều Tây Sơn khó mà lường trước được. Trên lưng ngựa biệt ly chúc nhau lời vàng bình an . Cõi bồng lai kia há phải là chốn thu về.

Tiễn thu chẳng phải đến nhà Đông,
Trịnh trọng tình sâu yên ngựa dong.
Đấu rượu cấp đêm Nhâm Tuất ấy,
Hồi Văn lại dệt Tất Canh chương.
Mỹ nhân đau xót Ngư Hiên lệ,
Du khách khó theo Nhạn Đảng dương.
Ly biệt bình an câu chúc tụng,
Bồng lai há phải đợi thu sang.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt .

TỐNGTHU
Tống thu vô nại đáo đông đường,
Trịnh trọng thâm tình mã thượng đường.
Đấu tửu phương cung Nhâm Tuất dạ,
Hồi văn trùng chức Tất Canh chương.
Mỹ nhân ám trích Ngư Hiên lệ,
Du khách nan tùy Nhạn Đãng dương.
Vị khắc kinh an tham biệt giá,
Bồng lai khởi thị phản thu phương.

30. Bài 2. Tiễn thu không sao tới được ngôi nhà phía Tây. Tình thừa vương vấn tan tác bên đường. Người anh hùng Tào Tháo cầm ngang ngọn giáo trận Xích Bích bừng tỉnh giấc mộng sớm. Hoa hải đưng không sức nâng đỡ Dương Quý Phi. Vua Đường Minh Hoàng yêu thương ví Dương Quý Phi như đoá hoa Hải Đường, nhưng khi quân sĩ làm loạn đòi giết Dương Phi, nhà vua không ngăn cản được. Chuông Nam Lữ văng vẳng vọng đến lầu Cảnh Dương.  Nam lữ : Luật âm nhạc xưa có 12 luật lữ, ứng với 12 tháng. 6 luật tháng dương, 6 lữ tháng âm, Nam lữ ứng với tháng 8. Cảnh Dương là lầu do vua Vũ Đế đời Nam Tề dựng có chuông đến canh ba, canh năm cung nhân nghe chuông thức dậy trang điểm. Hãy nâng chén quý bằng ngọc tía tiễn người ly biệt. Cõi trời Đâu Xuất há có phải là nơi trụ lại mùa thu. Phật chia thế giới làm nhiều cõi: Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, Trời, Người, Súc Sanh, Ngạ Quỹ. Các vị thần Bà La Môn không bị Phật  phủ nhận mà xếp vào cõi Trời Đâu Xuất trên cõi Người. Đế Thiên không  tự mình sinh ra và sáng tạo ra vũ trụ, vật chất vũ trụ tự nó mà có trong vòng nhân quả, có hằng hà sa số cõi trời. Cõi người còn gọi là cõi Ta Bà.

Tiễn thu  không ngại đến Tây đường,
Vương vấn tình thừa tan tác buông.
Cắp giáo anh hùng bừng mộng sớm,
Rời lầu thục nữ ngắm mây vương.
Hải đưng không sức nâng Phi Tử,
Nam Lữ chuông vang vọng Cảnh Dương.
Nâng chén tử hà cùng tạm biệt,
Cõi trời Đâu Xuắt bóng thu phương.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Kỳ nhị
Tống thu vô nại đáo Tây đường,
Khiển quyển dư tình tản ủng đường.
Hoành sáo anh hùng kinh hiểu mộng,
Từ lâu yểu điệu đát thiên chương.
Hải đường vô lực phù Phi Tử,
Nam lũ hi thanh đáo Cảnh Dương.
Vi ủng tử hà châm biệt tửu,
Đâu thiên khởi thị trú thu phương.

32. Nguyên dẫn : Phương Bắc không phải là nơi mùa thu sinh ra. Cũng không phải là chốn thu quay về, chắc rằng tình thu không tới, cho nên nhà Bắc không đưa tiễn thu. Nhân đó nghĩ thêm một bài “Bắc đường oán” (Lời oán nhà Bắc) vì được câu Đỗ Công Bô : “Vân thủy chiếu phương đường “ (Mây nước chiếu ao thu ).

Không tiễn thu về tới nhà phía Bắc. Há không mây nước chiếu xuống ao thu chăng ? Vườn Thượng Lâm,  Đường Vũ Hậu từng cho đánh ba hồi trống dục cho hoa n, hoa mẫu đơn không kịp n bị đày đi Giang Nam. Chốn hang tối nối vần thơ “chặt cây”. Kinh Thi, chương Tiểu nhã, bài Phạt mộc :  “ Phạt mộc đinh đinh, Điểu minh anh anh, Xuắt tự u cốc,  Thiên vu kiều mộc. “ (Chém cây chan chát, Chim kêu rối rít, Ra từ hang sâu, Vượt trên cây cao). Như chiếc lộng xanh, cây tùng vượt lên ba thước tuyết. Tựa giải mũ bạc hoa mai thêm năm hào dương. Hoa mai nở vào tháng 11 ÂL Tháng 11 đầu đông, qu địa lợi phục, hào dương bắt đầu sinh ra, ở dưới 5 hào âm, mỗi tháng có thêm một hào dương, âm giảm. Cha biết tới mùa thu mà đã lắm vẻ Đông. Lại đem hành Kim đi qua phương Bắc. Hành kim thuộc ngũ hành chỉ phương Tây mùa thu. Ý nói phương Bắc không có mùa thu. Vì trời hết nóng chuyển sang lạnh ngay, hầu như không có mùa thu chuyển tiếp.

Không tiễn thu về đến Bắc đường,
Há không mây nước bóng ao vương.
Thượng lâm truyền dục cho hoa n,
U cốc chim bay, phạt mộc chương.
Xanh lộng tùng cao ba thước tuyết,
Mai hoa bạc mũ năm hào dương,
Mùa thu chẳng biết đông nhiều vẻ,
Sóc phương mang đến thuộc hành kim.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt : 

Kỳ tứ
Bất tống thu quy đáo Bắc đường,
Khởi vô vân thủy chiếu phương đường.
Thượng lâu tằng bá thôi hoa lệnh,
U cốc phương canh phạt mộc chương.
Thủy cái tùng lâm tam xích tuyết,
Ngân anh mai xướng ngũ hào dương.
Vị tri thu  tú ca đông tứ,
Khước bả kim hành quá Sóc phương.

33.
Nguyên dẫn :  Người xưa có chữ “tiễn xuân“, ”giữ xuân” nhưng lại không nói đến thu, dường như yêu thu không tha thiết bằng yêu xuân. Ôi ! Trang điểm lộng lẫy ấy là tình của hóa công, nhưng trang điểm thanh đạm ấy cũng là ý của hóa công, cho nên lẽ nào chỉ có thể lưu luyến cảnh phồn hoa mà không tiếc thương cảnh thanh bạch. Vừa tiễn thu đi nay lại có ý giữ thu lại. Nối được  năm bài Tiếc thu trình ông phụ chính giúp. Được mắt xanh nhà sáng sẽ lấy làm vinh hạnh.

Bài 1 Tiếc thu muốn dựng căn nhà mơ thu. Tiếc vẻ đẹp của thu ở ngôi nhà trồng cúc. Màu sắc như giáp vàng hoa cúc  đánh tan  cả trận bướm vàng bay tới. Hoa ngọc dệt thành thơ trên tờ gấm. Không để cho ngõ sâu  tri huyện Bành Trạch của Đào Tiềm trở thành nơi hoang vu. Chỉ để cho thuốc tiên giúp Bá Dương Lão Tử trường thọ. Nhắn nhủ ông khôi nguyên thi tướng quốc gia. Phan Huy Ích từng đỗ đầu, từng làm Chánh Sứ.  Chùa Hương núi Long Môn, Lạc Dương, Hà Nam do Bạch Cư Dị lập ra Hương Sơn Thi xã chính là nơi ngắm cảnh thu.

TIẾC THU
Tiếc thu muốn dựng mộng thu đường,
Tiếc vẻ thu dung ở cúc đường.
Kim giáp đánh tan tàn trận bướm,
Ngọc anh dệt gấm, nét văn chương.
Ngõ sâu chẳng để hoang Bành Trạch,
Linh dược giúp cho Lão Bá Dương.
Nhắn với khôi nguyên Thi Tướng Quốc,
Hương Sơn nơi đó thưởng thu phương.

TÍCH THU
Tích thu dục cấu mộng thu đường,
Tích vị thu dung tại cúc đường.
Kim giáp chiến tàn phương diệp trận,
Ngọc anh chiếc tựu cẩm tiên chương.
Bất giao u kính hoang Bành Trạch,
Chi hứa linh đan lão Bá Dương.
Ký ngũ chế khôi  thi tướng quốc,
Hương Sơn chính thị hưởng thu phương.

34. Tiếc thu muốn dựng ngôi nhà ngắm thu,  Tiếc vì tiếng thu reo bên bờ trúc. Xào xạc khó tìm tiếng sắt tiếng vàng. Mài dũa để hứng thành câu thơ ngọc khuê văn chương.  Rừng sương có bạn tùng thêm xanh tốt. Trong cõi đời mờ mịt như sương có bạn ta là cây tùng xanh tốt chống chọi sương giá. Gác ấm đậu bầy chim phượng hợp dưới vầng dương. Triều đình có nhân tài dưới sự chăm sóc của vị vua anh minh. Nhàn khách buông phao bên đài câu cá. Rau thuần đất Ngô ấy là chốn say mùa thu.

Tiếc thu muốn dựng vọng thu đường,
Tiếc tiếng thu reo bờ trúc vang.
Xào xạc khó tìm vàng sắc lá,
Dùi mài thi hứng ngọc văn chương.
Rừng sương có bạn tùng xanh tốt,
Gác ấm đậu bầy phượng hợp non.
Nhàn khách buông câu bên điếu vọng
Ngô thuần  ấy chính  chốn thu phương.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Kỳ nhị
Tích thu dục cấu vọng thu đường,
Tích vị thu thanh tại trúc đường.
Sưu sắt nan tầm kim thiết hưởng,
Trác ma dị hứng bích khuê chương.
Sương lâm đắc hữu thiêm tùng mậu,
Noẵn các  thê bằng tụ phương dương.
Ký ngữ điếu đài thùy địch khách,
Ngô thuần chính thị túy thu phương.

35.
Tiếc thu muốn làm ngôi nhà níu mùa thu lại, Tiếc ánh thu trong rọi xuống ao sáng như gương. Bóng quế tròn xoe vào hôm đêm rằm. Áo lông Hằng Nga rực rỡ thành mây năm vẻ. Mỹ nhân mê mn trong trướng lan vườn Phương Lạc. Vườn do Đông Đôn hầu nước Tề mở ra có chợ, hàng quán. Khách thơ say đắm cảnh sông tạnh Hán Dương ở Hoàng Hạc Lâu. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích khi đi sứ từng thăm lầu này và làm thơ. Gửi lời nhắn ông già đội giải mũ phong lưu, từng làm quan  mang phẩm phục Chánh Sứ. Lầu nam chính thị là nơi ngắm cảnh thu.

Bài ba

Tiếc thu muốn dựng Hệ thu đường,
Tiếc ánh thu ao sáng soi gương.
Bóng quế đêm rằm trăng tỏa sáng.
Áo lông năm sắc kết mây vương,
Mỹ nhân mê trướng lan Phương Lạc,
Thi khách say sông tạnh Hán Dương.
Muốn gửi người phong lưu áo mũ,
Lầu Nam nơi ngắm cảnh thu phương.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Kỳ Tam
Tích thu dục cấu hệ thu đường,
Tích vị thu quang tại kính đường,
Quế phách đoàn đoàn tam vọng hậu,
Vũ y xán xán ngũ vân chương.
Mỹ nhân lan trướng mê Phương Lạc,
Thi khách tình xuyên túy Hán Dương.
Ký ngữ phong lưu linh trải lão,
 Nam Lâu chính thị ngoạn thu phương.

36.    Tiếc thu muốn cất ngôi nhà lưu luyến mùa thu. Luyến tiếc tình thu ở nơi bờ liễu. Cành liễu quét vào song cửa, chồi non đang sợ tuyết lạnh. Trước khung cửa sổ, tơ liễu bay muốn vẽ nên tranh. Hái cỏ tiêu nỗi nhớ dài thêm ba tháng. Thơ Thái Cát, Kinh Thi : “Thái bỉ cát hề, nhất nhật bất kiến như tam nguyệt hề. Thái bỉ tiêu hề. Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.” Hái rau sắn kia chừ, một ngày không gặp lâu như ba tháng chừ. Hái cỏ tiêu chừ, một ngày không gặp lâu như ba mùa thu chừ. Ý câu thơ mong nhớ bạn tha thiết. Cầm cây đuốc chơi đêm, cuộc vui say đắm tiếc nuối buổi xuân tàn. Thành ngữ ”Bỉch chúc dạ dư,” cầm đuốc chơi đêm. Gửi lời nhắn bạn thơ áo xanh. Tỳ bà đình chính là nơi ôm ấp mùa thu. Thơ Bạch Cư Dị bài Tỳ Bà hành :  “Tựu trung đối khớp hạ thùy đối, Giang Châu Tư Mã thanh san thấp.”  Trong đó ai nhỏ lệ nhiều nhất (khi nghe tiếng đàn tỳ bà người ca kỷ trên bến Tầm Dương) Tư Mã Giang Châu vạt áo xanh ướt đẫm.

Bài
Tiếc thu muốn dựng luyến thu đường,
Vì tiếc tình thu tơ liễu vương.
Phơ phất bên song chồi tuyết lạnh,
Bay bay khung cửa cảnh thi chương.
Hái tiêu nỗi nhớ dài ba tháng,
Cầm đuốc  hoan nồng suốt buổi xuân.
Nhắn gửi áo xanh người mấy kẻ,
Tỳ bà nơi  chốn giữ thu phương.

Kỳ tứ
Tích thu dục cấu luyến thu đường,
Tích vị thu tình tại liễu đường,
Phát hạm nhu đề phương khiếp tuyết,
Niêm song phi nhứ hựu thi chương.
Thái tiêu hoài vọng tăng tam nguyệt,
Bỉnh chúc hoan nồng kế ngũ dương.
Ký ngữ thanh san phong vận hữu,
Tỳ bà chính thị bão thu phương.

37.
Bài 5.  Tiếc thu muốn cất ngôi nhà giữ mùa thu lại. Tiếc vì nhớ thu ở bên ao rau xanh. Đồng xanh nổi màu biếc trải ra gấm vóc.  Suối nâu  hơi lạnh sương bay như giải lụa. Ly chương là tấm dãi lụa che mặt cô dâu. Sáo trẻ mục đồng mấy khúc đón vầng trăng mới mọc. Lời ca ngư phủ một khúc tiễn mặt trời lặn xa. Gửi lời nhắn ông già ôm bầu ngọc thét hoài. Đạo sĩ  Lý Thiết Quài tu tiên nhưng thường ôm chiếc hồ lô ngọc say lúy túy, đây chỉ Phan Huy Ích. Rằng nhà đình trên bãi rau tần chính là nơi ngắm cảnh thu trôi nổi.

Tiếc thu muốn dựng lãm thu đường,
Vì tiếc tình thu ao sắc xanh.
Đồng ruộng biếc xanh thơ gấm vóc,
Suối nâu lạnh trải lụa sương vương.
Mục đồng thổi sáo chờ trăng mới,
Ngư phủ  ca ngâm tiễn ánh dương.
Nhắn bảo ông ôm bầu rượu ngọc,
Tần đình trôi nổi  cảnh thu phương.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Kỳ ngũ
Tích thu dục cấu lãm thu đường,
Tích vị thu hoài tại lục đườ ng.
Lục dã bích phù thi cấm tú,
Hám khê hàn tẩm thổ ly chương.
Sổ xoang ngưu địch nghênh tân nguyệt,
Nhất khúc ngư ca tống viễn dương.
Kỷ ngữ ngọc hồ trương khiếu tẩu.
Tần đình chính thị phiếm thu phương.

38
Nguyên dẫn :  Được thư ông thăm hỏi, tinh thần thực là phấn chấn. Song bệnh tôi thuộc loại ngoại thương nội cảm, phải đợi dùng phương thuốc phát tán phong tụ, mới có thể đỡ mệt mỏi bải hoãi. Tôi biết rõ ràng việc bang giao khẩn cấp là việc đáng mong sợ, đã nhận điều phó thác phải hết lòng. Vậy nên làm giấy tờ sổ sách kính trình ông xem xét tiếp nhận và chuyển đạt lên trên,  chắc cũng không có gì trở ngại. Khi bệnh điều trị hơi đỡ, tức ngày mồng một này tôi sẽ vào chầu ngay. Mọi việc thù ứng thì nhờ ông giúp. Nay kính hoạ vần thơ ông đưa cho. Xin gửi đến ông mong ông soi xét.

Cơm hẩm canh rau tựa như ở dưới mái lều tranh. Thân ốm lây lất đùa bên khóm cúc. Thân vướng vào tước quý ở chốn âm u càng lợi. Lòng chưa được như hồ băng, ở chổ u ám há có thể tỏ soi  ? Đọc thơ Ký Ức vẫn cân nhắc ý mài ngọc bên bờ trúc.Kinh Thi, thơ Vệ phong, bài Ký Ức ca ngợi Vệ Vũ Công có tài văn chương, vừa biết mài dũa đức hạnh, nên được thiên tử nhà Chu mời làm Tướng quốc lo việc chính sự. Mơ tới kinh đô tấm lòng hoa quỳ vẫn tha thiết hướng về mặt trời. Lòng trung với vua. Tự điều hoà sẽ có nguồn vui mong được khỏi bệnh. Đâu dám rên rỉ xem là phương thuốc dối mình.

Canh rau cơm hẩm dưới nhà  tranh,
Thân ốm vui bên khóm cúc vàng.
Tước hảo thân mang lòng muốn dấu,
Băng hồ lòng chữa gạn khơi trong.
Nhắc cân ký ức thơ mài ngọc,
Mộng hướng đô thành quỳ hướng dương.
Vui sống điều hoà thân chẳng bệnh,
Dối mình phương thuốc dám đâu rên.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Phán xú canh lê tự thảo đường,
Bệnh khu triển chuyển cúc y đường.
Thân anh hảo tước âm vô lợi,
Tẩn vị băng hồ ám khởi chương.
Kỳ ức thôi xao ma trúc bích.
Đô thành mộng mị thiết quỳ dương.
Điều hoà hữu hỉ vong vô vọng,
Cảm dụng thân ngâm khí dĩ phương.

39
Nguyên dẫn: Vừa rồi đọc các bài thơ hoa cúc về mùa thu, đó là những bài bọn ta xướng họa, nhân cảm hứng về nàng Hồ Dương, không ngờ đã lên tới hơn 20 bài, Người ngoại cuộc có khi sẽ cười chúng ta là lũ si tình, nhưng bình tâm mà suy nghĩ thì thấy đạo lý trong kinh truyện đại để đều ký thác vào tính tốt.

Kinh Thi có câu rằng :  Khéo đùa cợt chừ ! Không độc ác chừ !  (Thiện hỷ hước hề ! Bất vi hước hề !) Như vậy điều cốt yếu là để bn cợt, chứ không phải giỏi làm điều độc ác. Đần độn như Tăng Tử, tương truyền  giỏi phép trị nước, cũng nói rằng : ‘Chưa hề có chuyện học nuôi con rồi mới lấy chồng’ .”Vị hữu học dưỡng tử nhi hậu giá giả dã” vả lại một âm một dương thì gọi là “đạo”. Thông hiểu được đạo âm dương thì hoặc ‘xuất’  hoặc  ‘xử’ hoặc im lặng, hoặc nói ra, mở ra cho rộng, suy ngẫm cho sâu thảy đầu hợp với cái nghĩa. Xử trí đúng lúc, sắp đặt phải thời. Ví dụ chuyện nam nữ kịp thời là thuận, vợ chồng sống chung một nhà phải ngay. Nếu làm trái với lẽ đó, sẽ sinh ra nỗi oán hờn ‘quả mơ rụng’,  ‘trên bộc trong dâu’ khác nào như việc tiến thủ kẻ sĩ, một đằng giữ tiết tháo mà tiến thủ, một đằng xu thời cầu vinh. Cho nên thơ là để hướng dẫn tính tình, lại có cội rễ từ chuyện nam nữ. Nam nữ quả là đầu mối của muôn sự vậy. Không phải là người hiểu biết về  “đạo” thì không thể biết được điều đó. Nếu đã biết rõ được  “đạo “ thì đó chẳng riêng gì Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu phàm là những ch khởi hứng từ tính tình có thể thấy rõ được. Bèn làm 5 bài khởi hứng từ Ngũ Kinh, họa nguyên vận trước để góp vào trận thơ trong mùa thu hoa cúc. Hết thảy mong được ông xét định.

Khổng Tử chê Tăng Tử chậm chạp và đần độn  (Lỗ như Tăng Tử)

Phiếu mai, Thiệu mai Kinh Thi nói niềm ai oán của người phụ nữ quá lứa lỡ thì và lòng khát vọng kịp thời xây dựng hạnh phúc lứa đôi.

Trên bộc trong dâu bài Tang Trung trong Dung phong Kinh Thi : quan hệ nam nữ bất chính.

Sinh ra dưới trời kẻ Nam người Bắc vốn không cùng nhà. Việc chi mà vương vấn vào đường tình ái như bài thơ tìm hái rau hạnh. Thơ Chu nam, Kinh Thi :  hình ảnh hái rau hạnh để ví trai tài chọn người yêu. Thân nếm đủ lo âu nguy hiểm trở thành lời Thoán trong Kinh Dịch. Vân Vương ở Dữu Lý diễn Kinh Dịch viết ra  Quái từ và Thoán từ, Ngô Thì Nhậm lúc chạy trốn ở Thái Bình viết lời bàn Kinh Xuân Thu. Lòng tơ tưởng tới người yểu điệu truyền tụng trong Kinh Thi. Quan Thư Kinh Thi: “Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu, Cầu chi bất đắc, Ngộ mi tư bạc.” Người thục nữ yểu điệu, chính là người bạn tốt đôi của người quân tử. Người quân tử theo đuổi người đó mà chẳng được, nên lúc tỉnh lúc mê đều tơ tưởng tới. Đáng thương cho cây tùng kia dãi dầu trong tuyết lạnh. Luống nghĩ tới hoa đào nọ còn lưu luyến buổi xuân về. Phải biết chỗ ngụ ý sâu xa của bậc thánh nhân. Khuôn phép  “Trị Bình” xuất phát ngay từ chốn phòng khuê.

CẢM TƯỞNG VỀ CÂU: BẠN ĐẸP LỨA ĐÔI NGƯỜI QUÂN TỬ TRONG KINH THI

Dưới trời Nam Bắc chẳng chung nhà,
Hà tất tình như hạnh hái ra.
Thân đủ ưu nguy như Dịch thoán,
Thương người yểu điệu Kinh Thi ca.
Đáng thương tùng dãi dầu sương tuyết,
Luống tưởng đào lưu luyến buổi xưa.
Biết ch sâu xa lời thánh dạy,
Trí bình khuôn phép tự phòng khuê.

Kỳ nhất

THI  KHỞI  QUÂN TỬ  HẢO  CẦU

Hậu thiên Nam Bắc bất đồng đường,
Hà sự anh tình hạnh thái đường.
Thân bão ưu nguy thành Dịch thoán,
Tâm quan yểu điệu bá Thi chương.
Khả lân tùng thụ kinh  nghiêm tuyết,
Mạn tưởng đào hoa luyến thiếu dương.
Yếu thức thánh hiền thâm ý xứ,
Trị bình quy phạm tự khuê phương.

40  Cảm nghĩ về chuyện VUA  NGHIÊU GÃ HAI CON GÁI CHO ĐẾ THUẤN TRONG KINH THƯ.

Kinh Thư :  Vua Nghiêu nghe nói Thuấn hiền đức đã cảm hóa mẹ kế và  em khác mẹ độc ác ương ngạnh, bèn mời về triều gả cho hai con gái Nga Hoàng và Nữ Anh để thử tài xử thế trước khi nhường ngôi.

Vua thánh tôi hiền gặp nhau tương đắc trong triều đình. Lẽ ra Thuấn phải già đời đánh cá trong đầm Lôi Trạch. Trai muộn vợ vốn đã quen sống đời cô độc. Gái con vua cần chi xuống chiếu kén chồng. Tiếc cho gái một đôi chẳng phải là gương vỡ, từng có chồng mà goá bụa. Nào biết tuổi ba mươi quả còn trai tân. Thánh nhân muốn ổn định ngôi vị càn khôn,  nên trước hết th đặt phép tắc nơi khuê phòng để làm khuôn mẫu cho muôn phương.

Theo Thuấn Điển sách Thượng Thanh: “ Đô du hu phất “:  Đô du là tán thành, hu phất là phản đối. Trong triều vua Nghiêu Thuấn khi bàn việc chính sự dùng từ này.

Theo Sử Ký,  Ngũ Đế Bản Kỷ Thuấn khi còn hàn vi cày ở núi Lịch Sơn, đánh cá đầm Lôi Trạch ở Sơn Đông. Thuấn là người tốt nên ở đâu mọi người đều quần tụ đến đấy.

Tương đắc triều đình vua thánh tôi.
Chẳng làm ngư lão chốn đầm Lôi.
Thân trai muộn vợ quen cư ngụ,
Phận gái con vua há kén người.
Đôi gái chẳng vì gương kính vỡ,
Thân trai ba chục vẫn còn trai.
Thánh nhân muốn định càn khôn lại,
Đặt phép phòng khuê để thử tài.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Kỳ nhị THƯ KHỞI NHI NỮ LY GIÁNG

Tế hội đô du hu phất đường,
Khởi ưng Lôi Trạch lão ngư đường.
Quan phu nguyên dĩ thành cư  tụ,
Đế nữ hà tu hạ tức chương.
Khả tích nhất song phi phá kính,
An tri tam thập quả cô dương.
Thánh nhân yếu dịch kiền khôn vị,
Thiên thí hình vu thức vạn phương.

41 Bài ba  CẢM TƯỞNG VỀ QU ĐẾ ẤT GẢ EM GÁI TRONG KINH DỊCH

Hoà khí chan chứa đầy nhà lớn, đây chỉ  triều đình. Ấm cúng nồng nàn chẳng phải chỉ do tình nghĩa anh em.  Em gái vua cớ chi can dự vào hình tượng Kinh Dịch. Phép tắc đế chế việc gì gả  em xuống cho dân thường. Vì con em vua chúa phần nhiều hợm hĩnh kiêu căng, ỷ vào địa vị tôn quý. Nên khiến họ tự hạ bớt tôn quý để phục tùng chồng. Thánh nhân đã tỏ rõ cái tôn chỉ : thân với người hiền. Muốn đại cát phải từ lòng trung chính mà lên.

Kinh Dịch dùng qu này để tượng trưng cho đức nhún nhường của những kẻ tôn quý như vua chúa. Kinh Dịch qu Thái hào lục ngũ : “Đế Ất quy muội di chỉ nguyên cát”. Đế Ất  gã em gái đã có phúc, đủ phận phúc.  Rất tốt là do trung chính từ tâm niệm.

Lệ hoa đường  chữ trong bài thơ Thường Lệ, Tiểu Nhã trong Kinh Thi nói về tình nghĩa anh em.

Mao chinh tượng trong quẻ Thái  : “Bạt mao như dị kỳ vương chính cát,  nhổ cỏ tranh lấy cả vòng đi rất tốt. Theo Trình Di : Thời đa thái thì để chí ở sự tiến lên, người quân tử tiến lên tất cùng bạn bè dắt díu nhau lên như rể cỏ tranh. Vua quân tử  được yên thì người hiền khắp thiên hạ, quy tụ ở triều đình đồng tâm hiệp lực làm nên cuộc hạnh thái cả thiên hạ.

Hoà khí tràn trề chung một nhà,
Anh em nồng ấm mẹ cha ra.
Em vua sao dự vào hình tượng,
Phép đế sao không gả thế gia.
Hợm hĩnh kiêu căng nhà quý tộc,
Hạ mình tôn kính theo chồng là,
Thân người hiền thánh nhân tôn ch,
Nguyên cát theo đường trung chính ta.

Kỳ tam DỊCH KHỞI  ĐẾ ẤT QUY MUỘI

Hoà khí phân vân mãn thái đường,
Nùng hương phỉ trực lệ hoa đường,
Vương cơ hà dự mao chinh tượng,
Đế chế thiên đa hạ giá chương.
Hỗ xỉ đại đô bằng tạ súng,
Giáng tôn yếu xử thuận tòng dương.
Thánh nhân xiển phát thân hiền chỉ,
Nguyên cát trung hành nhận thử phương.

42.
Bài 4  KINH  XUÂN THU  KHỞI ĐẦU : KHƯƠNG THỊ  HỘI TỀ  HẦU

Kinh Xuân Thu: “ Năm Trang Công thứ 5 , mùa đông tháng 12 Khương Thị v hội với Tề Hầu ở đất Cáo, Khương Thị là vợ Lỗ Hoàn Công, em gái Tề Tương Công. Tức  năm Hoàn Công 18, Khương Thị theo Hoàn Công sang nước Tề. Hoàn Công mất ở Tề. Khương thị bèn thông dâm với anh ruột là Tề Tương Công “.

Nực cười thay về thăm anh hoá ra chuyện động phòng. Yến hỉ đường nơi động phòng hoa chúc đây châm biếm nơi Khương Thị thông dâm với anh. Cuộc ngao du thành ra chuyện dâm bôn. Thước thuần đường, Kinh thi thơ Dung phong : “Thuần chi bôn bôn, Thước chi bôn bôn, Nhân chi vô cương, ngã chi vi huynh. “(Chim thuần song song, Chim thước song song, Người này bất lương, Ta gọi là anh.) Chim thuần chim thước khi bay đều có đôi, Ngoan là con người bất lương mà ta phải gọi là anh. Thơ này do nước Tề thất Tuyên Công mới mất, vợ Tuyên Công là Tuyên Khương và là mẹ Huệ Công, thông dâm với tên Ngoan là con riêng của Tuyên Công, nhân đó làm thơ đả kích. Gã gian phu thêm vợ lẽ như đã kể trong thơ Y Ta, Kinh Thi. Ả dâm phụ làm gì biết thẹn với câu thơ Tệ Cẩu thơ Tề phong, Kinh Thi chê Khương Thị. Loài chuột lớn có bao giờ biết lễ nghĩa đâu ?  Thơ Dung phong Kinh Thi : “Tướng thử hữu thể, Nhân chi vô cơ, Hổ bất xuyến tử”. (Con chuột lớn còn có hình thể, Con người mà không biết lễ nghĩa, sao không sớm chết đi.) Con cáo khỏe vốn chẳng chịu được cảnh thiếu xuân tình. Thơ Nam Sơn, Kinh Thi nói loài cáo rất dâm. Nước Tề chê Khương Thị và Tề Tương Công anh em thông dâm như loài cáo. Thánh hiền cố gắng nói rõ cái ý sâu xa. Băng giá đến phải chọn giầy bện  bằng cỏ cát mà đi. Hài sơ lục, qu Khôn, Kinh Dịch: “Lý sương kiến băng chí.” Giầy đi sương khi băng giá đến. Ngụy phong Kinh Thi: “Củ củ cát lũ, khả dĩ lý sương.” Dép vải dày dn có thể đi sương. Ý nói việc gì cũng phải thận trọng.

Cười đến thăm anh hóa động phòng,
Ngao du mà hoá chuyện dâm bôn.
Gian phu thêm vợ Y Ta chép,
Đâm phụ thẹn gì Tệ Cẩu chương.
Chuột lớn biết chi là lễ nghĩa,
Cáo chồn chẳng chịu cảnh xuân không,
Thánh nhân nói rõ sâu xa ý,
Băng giá chọn giầy cỏ cát mang.

Kỳ tứ  XUÂN THU KHỞI KHƯƠNG THỊ  HỘI TỀ  HẦU

Tiếu sát quy ninh yến hỉ đường,
Du ngao phiên tác thước thuần đường.
Ngoan phu đa đắc Y Ta thiếp,
Đảng phụ ninh tâm Tệ Cẩu chương,
Thạc thử hà tằng tri hữu lễ,
Hùng hồ nguyên bất nại vô đương.
Thánh nhân khiết khẩn minh vi chỉ,
Băng chí suy tòng cát lũ phương.

43  Cảm tưởng về câu trong  thiên Nội Tắc Kinh Lễ : “ Vợ thiếp tuy già, nhưng  nếu tuổi chưa quá 50 ắt phải được dự năm ngày một lần ngự.”

Nhan sắc đã tàn đâu dám mong được hầu trong tẩm đường. Nhưng nhờ làn gió lành thổi dậy đoá hoa rụng bên đường. Tạm vui với người áo trắng chẳng phải vì tham sắc. Người áo trắng chỉ người vợ hiền từ thửa hàn vi do từ thơ Xuất kỳ Đông môn. Màn rách còn cất giữ, vật dùng đã lâu trở thành thân thiết. Kinh Lễ thiên Đàn Cung : “Tệ duy bất khí”, màn rách không vứt bỏ. Trai biển nẩy hạt châu do sống lâu năm. Ruộng lam trồng được cây ngọc từ độ đang xuân. Lam điền tên quả núi ớ huyện Lam Điền, tỉnh Thiếm Tây, theo Hán Thư núi này có nhiều ngọc đẹp. Thánh nhân nhắc đến chỗ khó thi hành. Ch rõ cách dùng cày nghĩa để làm ruộng tình.

Nhan sắc tàn không hầu tẩm đường,
Nhờ làn gió mát thổi hoa tàn.
Tạm vui áo trắng không tham sắc,
Màn rách cảnh già hoá thiết thân.
Trai biển nẩy châu do tuổi lão,
Lam điền cây ngọc tự xuân dương.
Thánh nhân nhắc chuyện làm khi khó,
Cày nghĩa ruộng tình chỉ cách mang.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Kỳ ngũ

LỄ NỘI TẮC KHỞI : THIẾP TUY LÃO NIÊN VỊ NGŨ THẬP  TẤT DỰ  NGŨ NHẬTCHI NGỰ
Cảm vọng điêu nhan xí tẩm đường,
Khải phong suy khởi lạc hoa đường.
Cảo y liêu lạc phi tham sắc,
Tệ trướng do tàn khởi quý chương.
Hải bạng sinh châu duyên tế lão,
Lam điền sản ngọc vị xuân dương.
Thánh nhân để khởi nan hành xứ
Minh thị tinh điền nghĩa nậu phương.

44  THU VỀ
 Nguyên dẫn :  Thu cao, sương lạnh xót người đồng bệnh, vì tinh thần giao cảm, bất giác đồng thanh tương ứng. Chúa thu cũng nên biết đến ân tình của chúng ta. Tuy cúc vẫn còn, lẽ nào lại không giữ thu lại được. Sắp đón đông tới, chợt tiếp thu về. Tấm thân ốm yếu nương tựa lều tranh, nếu đem được thu tới bên giường bệnh chắc sẽ khỏe ra. Thiết tưởng mong thu sẽ vì người yêu thu mà nhắn gửi tình. Vậy nên họa 5 bài để tỏ nghĩa đồng tâm, mong được xem tới, sẽ làm vinh hạnh.

Bài 1. Thu về lại đến nhà chơi đàn. Song không thạo gảy khúc phượng múa bên hồ. Ông Bành Trạch gảy đàn không dây mà vẫn vui. Đào Tiềm khi về điền viên thường vỗ đàn mà hát tỏ ý chí mình. Thầy Tăng Điểm gảy đàn chầm chậm vì muốn giấu chí hướng tốt đẹp. Gió Nam không nổi, không vội vặn  căng dây trục. Trời phía đông thu lại, ánh nắng tĩnh lặng. Xét đạo lý suy ra từ chuyện cầm hạc. Phong cách người làm quan đi xa mang theo cây đàn và con chim hạc làm bạn. Khi hạc cất tiếng kêu là lúc đùa giỡn với đàn. Thơ Hạc minh, Tiểu Nhã Kinh Thi : Minh cao, Hạc cất tiếng kêu.

Thu về lại đến chốn cầm đường,
Chẳng thạo gảy cung vũ phượng đường.
Bành Trạch ôm đàn vui tiếng vỗ,
Tăng Gia gảy chậm chí lưu chương.
Gió Nam không vội căng dây trục,
Cốc Chấn hương thu trời lặng trong.
Cầm hạc tiêu dao quan chốn vắng.
Tiếng thanh vang vọng hạc kêu đàn.
 Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

THU HỒI
Kỳ nhất
Thu hồi trùng tiếp đáo cầm đường,
Khước bất am khiêu vũ phụng đường.
Bành Trạch vô huyền hoàn tự thú,
Tăng Gia hi cổ vị lưu chương.
Tốn phong bất quả hưu giao trụ,
Chấn cốc phương thu hảo tĩnh dương.
Tựu hạc suy cầm quan đạo lý,
Minh cao thời hậu lộng đàn phương.

45.  Bài 2
Thu về lại tiếp đón đến nhà chơi cờ. Song chẳng thạo suy nước cờ tượng mã. Trong cuộc dễ mê cần dừng nửa chừng. Quẻ Cấn trong Kinh Dịch : “Cấn kỳ bối.” Dừng ngay trên lưng, đừng nửa chừng chỉ sự tỉnh táo khi đánh cờ. Thắt túi không lỗi, ấy là khéo khôn. Người xưa thường mang tiền trong thắt lưng. Ông tiều để mục cán búa trải đã ngàn năm. Sách Thất Dị Ký : “Vương Chất vào rừng đốn ci, thấy hai đứa trẻ đánh cờ,  bèn chống búa đứng xem, tan cờ cán búa đã mục”. Quan Trạng dùi thủng lọng chỉ nước cờ bằng điểm nắng. Vũ Huyên làng Mộ Trạch, Đường An tỉnh Hải Dương tay giỏi cờ. Tương truyền sứ Tống sang nước ta đánh cờ với vua. Vũ Huyên làm người cầm lng che cuộc chơi giữa sân nắng. Ông dùi lng một lỗ nắng rọi lên bàn cờ, khi gặp nước cờ hay ông chỉ nước cho vua thắng, vua phong ông là Trạng Cờ. Nhọc lòng sao bằng cứ để lòng không nhọc. Lặng thinh cũng biết được hội gió mây biến hóa.

Thu về lại đến chốn kỳ đường,
Chẳng thạo cuộc chơi mã tượng đường.
Trong cuộc dễ mê dừng nửa cuộc,
Thắt nang không lỗi ấy là khôn,
Ông tiều cán mục cờ theo nước,
Quan Trạng lộng soi nắng điểm bàn.
Lòng nhọc sao bằng không nhọc sức,
Lặng thinh biết được gió mây sang.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Kỳ nhị
Trùng hồi trùng tiếp đáo kỳ đường,
Khước bất am suy tượng mã đường,
Đương cục dị mê tu cấn bối,
Quát nang vô cửu thị khôn chương.
Lạn kha tiểu tẩu can thiên tuế,
Toản cái khôi nguyên kỷ điểm dương.
Tâm phí hà như tâm bất phí,
Phong vân tĩnh hội biến thông phương.

46 . Thu về lại đến với nhà làm thơ. Song không khéo niêm luật thơ Đường. Khó tìm thấy khúc ngâm Lương phủ nơi Ngọa Long cương của Khổng Minh. Chỉ biết có chữ chu hành trong thơ Lộc minh, Kinh Thi : “ Nhân chi hiếu ngã, thị ngã chu hành”. Người khách yêu ta, chỉ ta đường lớn. Khí phách Ly tao ca Khuất Nguyên còn nơi  hoa lan. Khuất Nguyên khuyên ngăn vua Sở không được bị ruồng bỏ, đến  sông Mịch La, cài hoa lan để tỏ chí mình trong sạch. Sáng tác khúc Ly Tao. 9 bài ca có bài Tương Quân  và trầm mình xuống sông Mịch La vì  không muốn thấy nước Sở mất. Tiếng ngâm thơ hồn Trương Hát còn vang vọng Quế Dương, Lý Thường Kiệt đánh Tống lập phòng tuyến sông Cầu tại Quế Dương, cạnh đền Trương Hống, Trương Hát. Để khích lòng quân sĩ ông cho lên đồng, hồn Trương Hát nhập  đồng vào ngâm thơ:  “Nam quốc sơn hà nam đế cư. Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Nhữ đẳng thành kham thủ bại hư”. Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận ở sách trời. Nếu như lũ giặc bây xâm phạm. Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.

Bài  3
Thu về lại đến chốn thi đường,
Nhưng chẳng khéo nên niêm luật đường.
Lương Phủ khó tìm Long Ngoạ khúc,
Chu Hành chỉ  hát Lộc Minh chương,
Khuất Nguyên khí phách miền lan nhược,
Trương Hát còn ngâm khúc Quế Dương.
Gió lạnh không cần kinh dạ Đẩu,
Ôn hoà đôn hậu ấy hoà phương.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Kỳ tam
Thu hồi trùng tiếp đáo thi đường,
Khước bất công suy vận luật đường.
Lương Phủ nan khuy Long Ngọa khúc,
Chu hành cẩn thúc Lộc Minh chương,.
Tương Nguyên tao khách anh lan nhược,
Trương Hát ngâm hồn trệ Quế Dương,
Bất dụng phong hàn kinh dạ Đẩu,
Đôn nhu ôn hậu kiến hoà phương.

47. Bài 4. Lại đón thu về tới nơi nhà vẽ. Song chửa biết đường tô nét đỏ xanh. Đành tạm treo bức tranh hoa cúc của Đào Tiềm. Đào Tiềm tri huyện Bành Trạch từ quan về trồng hoa cúc.  Vì khó tìm ra cây biếc chốn đào nguyên của Nguyễn Triệu. Lưu Thần  và Nguyễn Triệu đời Hán vào núi Thiên Thai hái thuốc lạc vào chốn thiên thai gặp hai nàng tiên kết duyên làm vợ chồng, sau về quê cũ thời gian trôi qua  đã mấy đời người không ai còn biết đến. Không vẽ được vẽ đẹp của hoa trên tuyết. Cố vẽ ánh sáng dịu của nắng trong sương. Từ nền trắng nghĩ ra đề tài để vẽ. Tranh Diêm Vương trong các chùa đời Đường không đáng học theo.

Lại đón thu về chốn họa đường,
Song chưa biết vẽ nét đan thanh.
Đào Tiềm treo bức tranh hoàng cúc,
Nguyễn Triệu khó tìm cây biếc xanh.
Chẳng vẽ được hoa trên tuyết trắng,
Cố công vẽ nắng dưới sương trong.
Thử tìm cảnh vẽ trên nền trắng.
Diêm cảnh đời Đường chẳng muốn trông.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Kỳ tứ
Trùng tiếp thu hồi đáo họa đường,
Đan thanh vi hội tố điêu đường,
Hoàng hoa liêu quải Đào Tiềm trục,
Bích thụ nan tầm Nguyễn Triệu chương.
Duy đã bất miêu hoa thượng tuyết,
Tư quang yểu hội kính trung chương.
Thả tòng hậu đố suy nghiên đáo,
Đưởng quán Diêm đồ khởi túc phương.

48  Bài 5. Lại đến nhà uống rượu đón thu về. Chén bằng ngọc tía rót đầy nhưng tửu lượng kém. Không đua tranh với điệu múa uyển chuyển gái nước Vệ. Theo Tứ Lăng Ngọc Đài Tân Vinh : ‘Gái nước Vệ thời Chiến Quốc nổi tiếng có bàn tay nhỏ xinh xắn, múa hay hát giỏi. Đây chỉ không tranh đua với người có tửu lượng cao. Thường tự khuyên mình bằng cêu thơ của Nghiêu Phu đời Tống: “Ẩm tửu mạc giao thành lạc đính, Khán hoa thân vật đáo ly phi “ “Uống rượu chớ nên say bí tỉ, Xem hoa chớ đợi lúc tàn phai.” Tạm rót chén thái hòa, điều độ  tiêu khiển ngày nhàn hạ. Đâu dám đem rượu tiên rượu thánh buộc vào ánh dương, Ý nói đên Lý Bạch say trước mặt vua Đường Minh Hoàng. Chớ uống đến loạn phải biết lúc dừng. Bởi trăng trên cây ngô đồng, gió thổi qua bờ liễu luôn luôn gợi hứng. Thơ Nhàn ngâm Thiệu Tử : “Nguyệt đáo ngô đồng thượng. Phong lai dương liễu biên. Viên thân nhân phục tỉnh.  Thử cảnh cộng thùy ngôn.”  Trăng lên ngọn ngô đồng, Gió lay cành dương liễu. Nhà ngõ sâu nhàn hạ. Cảnh biết tỏ cùng ai ?

Chẳng tiếp đón thu chốn tửu đường,
Tử hà đầy chén chóng say men.
Không tranh Vệ quốc tài ca múa.
Ngâm khúc Nghiêu Phu tự giữ thân.
Tạm chén thái hòa ngày rỗi rãnh,
Dám đâu rượu thánh buộc vầng dương.
Biết dừng chẳng uống say lời loạn,
Trăng ngô gió liễu hứng trời trong.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Kỳ ngũ
Trùng tiếp thu hồi đáo tửu đường,
Phù chung lượng hiệp tử hà đường.
Bất tranh Vệ auốc phiên thiên vũ,
Hằng giới Nghiêu Phu lạc đính chương.
Lược chước thái hòa tiêu hạ nhật,
Cảm tương tiên thánh hệ phi dương.
Âm vô cặp loạn tu tri chỉ,
Ngô nguyệt dương phong trạo khánh dương.

49  ĐỌC BÀI THƠ TÂM ĐẮC CỦA PHAN HẦU VUI MỪNG LÀM THƠ

Nguyên dẫn :  Lần trước bàn về ba điều tương đắc, suy nghĩ cho k, đều thuộc về  cái tâm, đúng như tiên nho khi bàn về thơ  nói rằng : Thơ là do cảm xúc từ tính, xuất phát từ tình và được chi phối bởi tâm. Nếu không phải là người thông hiểu về thơ thì không thể nói chuyện ấy được. Song ba điều tương đắc đó, chỉ thấy được khi đạo lý được thể hiện. Còn như chỗ hoà hợp về tinh thần thì lại chính là chỗ tương đắc của hai ta. Đại để đó là những thú vào chỗ nào cũng có thể tự đắc được, những thứ đó có thể lĩnh hội bằng ý mà không thể truyền đạt bằng lời. Song những điu tự đắc đó chỉ lẳng lặng mà biết, chứ không thể viết ra được. Vậy xin làm bài thơ “Đại hữu đắc “ để ghi lại niềm vui về học vấn, đạo đức của chúng ta. Kính nối vần trước, chỉ mong sửa giúp.

Tam đắc là : tính, tình, tâm.

Cùng thi đỗ, cùng làm quan, lại là chỗ thông gia. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích cùng đỗ Tiến sĩ đời Lê, cùng làm quan thời vua Lê chúa Trịnh, thời Tây Sơn, Phan huy Ích còn là em rể . Tình bạn chi lan thơm phức sum họp một nhà. Như Lỗ, Vệ vốn do cùng mùi vị thơm tho. Lỗ, Vệ đều dòng dõi nhà Chu. Lỗ dòng Chu Công Đán,  Vệ dòng Thiệu Công Thích. Tựa Thẩm, Lưu há phải đọ tài văn vẻ. Thẩm Thuyên Kỳ và Lưu Vũ Tích là hai nhà thơ đời Đường phong cách khác nhau, mỗi người đều hay. Không có lòng nào đua tài thơ phú với Đỗ Công Bộ. Đỗ Phủ nhà thơ lớn đời Đường, từng giữ chức Công Bộ Viên ngoại lang. Chỉ có lời hẹn ước họp bạn già ở Lạc Dương. Văn Ngạn Bác đời Tống về già có lập Hội Kỳ Anh ở Lạc Dương để tiêu dao. Cần biết chỗ tương đắc ca bọn ta. Luôn luôn cố gắng đạt hiệu quả.

Phận cùng khoa hoạn chỗ thông gia,
Thơm phức chi lan cùng một nhà.
L, Vệ gốc từ cùng xứ vị.
Thẩm, Lưu văn chẳng đọ tài ba.
Vô tâm Công Bộ văn không sánh,
Cùng hẹn Lạc Dương họp bạn già.
Tương đắc biết lòng ta với bạn,
Gắng công, nên việc tránh sa đà.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
PHỤNG ĐỘC PHAN HẦU TÂM ĐẮC CHI TÁC HỈ NHI THÀNH

Phận liên khoa hoạn nghị gia đường,
Chi phúc lan phương tụy nhất đường,
Lỗ, Vệ do lai đồng xứ vị,
Thấm, Lưu khởi tất tấu ba chương.
Vô tâm thi phả tranh Công Bộ,
Hữu ước kỳ du hội Lạc Dương.
Yếu thức ngô đồng tiêu đắc xứ,
Nghiên thành vì vĩ giới mê phương.
50, Nguyên dẫn :  Vừa qua phụng mệnh triều đình, về triều thay phiên thứ nhất. Nghiền ngẫm cho k việc đi đứng vì đã có định sẵn. Vâng theo chiếu thư mà làm đúng nghĩa vụ. Nhân đó làm một bài thơ Thuật hoài họa đúng vần trước, mong ông sửa giúp.

Tờ sắc từ triều đình ban ra,  phụng mệnh bước vào triều. Màu mực mới như pha lê, óng ánh hương thơm. Có lệnh vào chầu vua Cảnh Thịnh vội bước đến nhà tuyên thất nơi các Đông Các học sĩ cố vấn vua. Ra quan ải tiếp sứ nhà Thanh đều bình yên việc bang giao tốt, hợp với  sắc thư triều đình. Muốn không có bệnh tật chính nên tìm đạo quẽ Phục. Kinh Dịch : quái từ quẽ Phục : “Xuất nhập vô tật “, ra vào không bệnh tật. Có lòng tin thành thật gặp hào dương qu Kiền thì lợi. Kinh Dịch :  qu Kiền, 6 hào dương, hào cữu nhị (92)  nói  “Hiện long tại điền. Lợi kiến đại nhân” Rồng hiện trên ruộng, thấy bậc đại nhân thì lợi. Nói việc vào chầu vua là tốt. Mừng ông được thăng mười cấp ứng với điều hay. Tranh luận về bờ cõi nên tìm cách biện luận thật hay.

Một sắc triều ban đến điện đường,
Pha lê mực mới ánh hương thơm.
Về triều nhập lệnh nhà Tuyên Thất,
Ra ải bình an thơ  vãn chương,
Vô bệnh chính tìm nơi qu Phục,
Lòng tin thành thật thấy Càn dương.
Mừng thăng  mười cấp điều hay đến,
Biên giới phân minh giỏi luận bàn.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
Nhất chỉ khu trung khủng thưởng đường.
Pha lâ tân mặc cánh phương đường.
Nhập triều hữu mệnh xu  tuyên thất,
Xuất tái hàm khang hiệp vãn chương.
Vô tật chính nghi tầm phục đạo.
Hữu phu thành lợi kiến càn dương.
Hỉ công thập cập phù gia triệu.
Mã bạch đề phong hão biện phương.

*

Cúc Thu Bách Vịnh có lẽ là tập thơ cuối cùng của Ngô Thì Nhậm. Qua những bài thơ chúng ta đoán biết :  Những ngày cuối cùng triều Tây Sơn hai ông được vua Cảnh Thịnh triệu về triều. Phan Huy Ích lo việc bàn định tranh luận về biên cương với sứ nhà Thanh. Năm 1802 khi  Gia Long đánh Phú Xuân thất thủ hai ông không theo kịp vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc bị bắt, bị đóng gông giải theo đoàn quân Gia Long ra Bắc truy đuổi vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Nể đưa Nguyễn Thiếp từ Nghệ An, lo việc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô mới tới. Gia Long cho gọi ra. Nguyễn Nể dâng sớ. Gia Long tha cho đi theo từ Phú Xuân đến Bắc Thành, lo việc bang giao nhà Thanh, Nguyễn Thiếp được tha cho về quê quán La Sơn Hà Tĩnh. Gia Long ra Bắc đến huyện Phù Dung trấn Sơn Nam Thượng thì Nguyễn Du từ Quỳnh Hải, Thái Bình dẫn học trò, tráng đinh đem bò ngựa lương thực ra dâng sớ tiếp đón, Gia Long phong ngay làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này giống như Phi Tử thời Chiến Quốc dâng ngựa cho vua Chu Hiiếu Vương được phong đất Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử. Nguyễn Hành trong bài Đi săn có nhắc đến danh hiệu này. Ngô Thì Vị (1774-1821), em út Ngô Thì Nhậm không rõ ra gặp vua Gia Long lúc nào mà được phong Hiệp Trấn Lạng Sơn. Kỳ thi cuối cùng thời Lê Trịnh ông mới 9 tuổi,  có lẽ Gia Long đặc cách  tổ chức bốn kỳ thi  sát hạch Ngô Thì Vị đều đỗ đầu, nên Nguyễn Du trong một bài thơ gọi ông là Ngô Tứ Nguyên. Ngô Thì Vị làm Phó Sứ sang nhà Thanh năm  1807. Khi Nguyễn Du mất năm 1820 chưa kịp đi sứ, Ngô Thì Vị được cử làm Chánh sứ  đi thay. Ngô Vị đi sứ về đến Quảng Tây thì mất năm 47 tuổi. Triều Gia Long, Nguyễn Du và Ngô Vị  được vua trọng đãi, danh tiếng ngang nhau. Con Phan Huy Ích là Phan Huy Thực (1778-1844), Phan Huy Chú (1782-1840), cháu Phan Huy Vịnh (1800-1870) đều được vua triều Nguyễn   trọng đãi đi sứ. Kho tàng di sản văn học  hai họ Ngô và Phan thật là đồ sộ,  là những bộ Bách Khoa tự điển, một kho tàng quí giá  khi muốn tìm hiểu về nước ta thời quân chủ.

Khi vua Gia Long từ Bắc  về Phú Xuân, đem theo vua Cảnh Thịnh cùng 300 tướng lĩnh hành hình. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích được tha  được hỏi việc bang giao  dưới quyền Tổng Trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành,  chẳng may Ngô Thì Nhiệm gặp Đặng Trần Thường người cùng làng có mối thù riêng. Thường theo Gia Long làm đến  Binh Bộ Thượng Thư. Thường đem Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan ra đánh đòn tại Văn Miếu. Gặp Ngô Thì Nhậm, Thường ra câu đối .” Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai ?” Ngô Thì Nhậm đáp lại : “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu gp thời thế thế thời phái thế.” Thường căm giận cho người đánh nặng, sau trận đòn thù ông từ trần năm 1803. Nhưng số phận Đặng Trần Thường cũng không lâu dài, năm 1816 ông bị kết tội phong thần cho  tướng nhà Trịnh Hoàng Ngũ Phúc là tướng nhà Trịnh đem quân đi đánh sụp Chúa Nguyễn năm 1885, và tội tham nhũng ẩn lậu ao ruộng. Thường bị xử tội thắt cổ.

Một trăm bài thơ Bách Thu Cúc Vịnh của Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích là một tập thơ kiệt tác trong kho tàng văn học chữ Hán Việt Nam. Qua tập thơ chúng ta có cái nhìn khác hơn, thú vị về Tứ Thư Ngũ Kinh của ngưi xưa  biết những điển tích thi ca phong phú văn học cổ điển. Qua tập thơ chúng ta biết được tâm sự hai danh nhân cuối triều Tây Sơn:  qua những trao đổi thú vị về tình yêu, tình bạn, đạo vợ chồng, nhớ tới vua Quang Trung, bài thơ viết nhân ngày sinh nhật cha thật cảm động.  Mượn chuyện công chúa Hồ Dương chị vua Hán Quang Vũ được vua gã chồng cho quan Đại Phu Tống Hoàng, xui ông bỏ vợ cũ lúc hàn vi để cưới công chúa nhưng Tống Hoàng từ chối, hai ông viết nên tâm sự nàng Hồ Dương bằng những bài thơ tuyệt đẹp.  Bài 23 tả cô gái ngồi dệt nhưng tưởng nhớ đến người yêu nên dệt vụng về, cô chỉ nghĩ đến :  “Mong cửa nhà chàng treo chỉ thắm, Để may áo cưới rộng thu sang.”

PHẠMTRỌNGCHÁNH
Paris 2-4-2018

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét