Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

Nguyễn Hiền: Du ký Maroc: Một quốc gia từng chịu nhiều xâu xé


Sống trong cùng môi trường xã hội, có khi ta thờ ơ tới độ không hề biết những người hàng xóm láng giềng của mình ăn ở ra sao, đất nước của họ thế nào, mặc dù chung đụng với nhau hàng chục năm dài. Ý tôi muốn nói tới những sắc dân ngoại quốc nhập cư đang cùng sinh sống trên nước Hòa Lan, mà tôi cũng là một trong những người này.

Trong hơn 16 triệu cư dân Hòa Lan, hiện nay (số liệu của Phòng Thống kê Trung ương CBS, tháng 07/2017) có 3,9 triệu người có cha hoặc mẹ sinh ra ở nước ngoài. Theo thống kê năm 2017, ba sắc dân nhập cư lớn nhất ở Hòa Lan là Thổ Nhĩ Kỳ (400.000), Maroc (391.000) và Indonesia (364.000). Ghi chú: Đầu năm 2017, số người gốc Việt ở Hòa Lan là 22.013.

Tại những thành phố lớn, những cộng đồng ngoại quốc đông đảo đã có những khu phố mang sinh hoạt riêng đặc thù của từng sắc dân. Gia đình tôi thường mua thịt bò hay rau trái tại các tiệm tạp hóa Maroc vì đồ tươi và rẻ, người bán thật thà vui vẻ. Tôi hớt tóc tại tiệm Maroc (rất nhiều người Maroc mở tiệm hớt tóc ở Hòa Lan, rẻ vô cùng). Trong sở, nhân viên cũng có vài người gốc Maroc. Trong suốt tháng Ramadan tôi thường phải châm chế, ngầm cho họ làm việc nhẹ hơn, nhịn đói nhịn khát suốt ngày trong xứ lạnh không phải chuyện dễ làm. Vậy mà cho tới mới đây, tôi vẫn không hề có ý tưởng tìm hiểu đất nước Maroc ra sao. Có lẽ vì hai lý do: không biết một chữ Ả Rập nào thì đi du lịch mất vui, và sợ thịt cừu muốn chết.

Thế rồi những năm gần đây, vấn đề người (có gốc) Maroc ở Hòa Lan đột nhiên nổi cộm. Chủ tịch đảng cực hữu PVV Geert Wilders dây dưa mấy năm nay với vụ kiện về tội kỳ thị sắc dân do bởi ông, trong một buổi vận động tranh cử tại Den Haag (The Hague) năm 2014, đã gián tiếp khích động quần chúng khi ông hỏi “có muốn thành phố bớt lộn xộn, và nếu có thể, bớt người Maroc hay không?”, thế là đám đông hò reo: “Bớt! Bớt! Bớt!”. Thực tế, theo thống kê thì đúng là người gốc Maroc phạm tội hình sự nhiều gấp 3 lần sắc dân nhập cư có cùng số lượng là Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều gấp bội phần so với dân gốc Indonesia. Những cửa hàng chuyển đổi tiền, bán SIM điện thoại và làm dịch vụ gởi hàng đường thủy bị nghi ngờ là mặt nổi của đường dây buôn lậu và rửa tiền. Cho dù thị trưởng Rotterdam và cựu Thứ trưởng Xã hội, Ahmed Aboutaleb, một người Maroc được nhiều người kính trọng bởi tính cương trực thẳng thắn của ông, đã từng âm thầm cố gắng giải hòa những xung đột giữa cộng đồng người nhập cư đồng hương của ông với dân bản xứ, nhưng không mang lại bao nhiêu hiệu quả.
Bởi vậy chuyến du lịch này coi như rất muộn màng, dù sao cũng để thỏa tính tò mò của tôi trước nhất, và sau đó là thử tìm một giải đáp cho câu hỏi vì sao chỉ sau 50 năm nhập cư (họ tới Hòa Lan trong thập niên 60 - 70 để tìm việc làm) tình trạng lại tệ hại như hiện nay.

Vậy là vợ chồng tôi lên đường, tới…

Casablanca

Sau ba tiếng rưỡi ngang qua 4 quốc gia và băng một khúc biển Đại Tây Dương, phi cơ đáp xuống phi trường Mohamed V của Casablanca. Từ trên cao nhìn xuống, những dãy nhà trắng tinh nổi bật trên màu đất nâu thưa thớt màu xanh cây cỏ, đặc điểm của thành phố (kinh tế và tài chính) lớn nhất Maroc. Casablanca tiếng Tây Ban Nha có nghĩa “nhà trắng”, đó là do từ xưa người ta đã quét vôi trắng toàn thành phố. Tuy nhiên, nguyên thủy tên này là tiếng Bồ Đào Nha – Casa Branca, mang cùng nghĩa, khi Bồ đánh chiếm quốc gia Hồi giáo thuộc triều đại Almohadecủa dân Berber. Sau Bồ Đào Nha, đế quốc Tây Ban Nha tới đô hộ, và sau đó là với Pháp cùng chia quyền lợi, cho tới khi Maroc tuyên bố độc lập năm 1956. Sự tranh giành ảnh hưởng của các đế quốc cho thấy vị trí quan trọng của thành phố này.

Casablanca cũng là tên một cuốn phim lãng mạn lồng trong lịch sử và văn hóa (thảm kịch tị nạn) nổi tiếng, dựng trong bối cảnh thành phố Casablanca. Phim ra mắt năm 1943 và được coi là một trong 100 phim giá trị nhất trong lịch sử điện ảnh từ xưa tới nay.

Từ khi có phong trào thuyền nhân tị nạn từ Phi châu cố gắng tìm cách vào Âu châu và bị chặn lại trên Đại Tây Dương và tại vùng tự trị Ceuta (giáp Maroc, thuộc Tây Ban Nha) nơi eo biển Gibraltar, số người từ vùng Trung Phi và Đông Phi dồn cục tại Casablanca. Không phương tiện sinh nhai, họ chỉ có cách tìm việc làm mướn công nhật và “hành nghề” ăn xin tại khắp các ngã tư lớn của thành phố, tối ngủ lang thang trên vỉa hè. Đủ thứ tệ nạn phát sinh, thuê trẻ em, làm chúng tàn phế hay giả tàn phế, ăn trộm vặt v.v… Hình ảnh này làm bộ mặt Casablanca xấu đi rất nhiều, nhất là chúng làm ô uế cảnh đường phố trong giờ tan học có đàn học sinh đồng phục áo trắng tung tăng trên đường.

Với du khách, thành phố này vì thế không mấy hấp dẫn, ngoài những người thích bộ môn lướt sóng, bởi vì “nó chẳng có gì đặc sắc” ngoại trừ khu hải cảng (lớn nhất Maroc), bãi biển với dãy hàng quán ăn, tiệm bán đồ lưu niệm như mọi bãi biển nổi tiếng trên thế giới. Và trên một doi đất lớn, ngôi đền vua Hassan II đồ sộ nhìn ra biển là điểm du khách nào lần đầu tới thành phố này cũng phải đến thăm. Còn những khu buôn bán thì giống tiệm Tây hơn, chúng ít mang tính đặc thù của Maroc mà là một pha trộn giữa Pháp và Hồi giáo.Khi người Pháp đô hộ Maroc, họ xây một nhà thờ Sacré Cœur lớn tại Casablanca, mang nhiều nét Hồi giáo trong kiến trúc và trang trí mặt tiền. Có hoàng cung, nhưng rủi thay, khi chúng tôi ở đó thì họ có buổi lễ, cấm vào trong khu.  Du khách không bao giờ được phép vào thăm nội vi hoàng cung, vì thế không được xem cũng chẳng sao, thời nay vào Google Image lấy hình xuống xem, còn đẹp hơn tự chụp.

Là một trong những ngôi đền Hồi giáo lớn trên thế giới, nếu kể về diện tích, đền Hassan II lớn thứ 4 (90.000m2). Đền có sức chứa 25.000 người và ngoài sân đủ chỗ cho 80.000 người cầu nguyện. Đặc điểm của đền là du khách không là tín đồ Hồi giáo cũng được vào xem bên trong. Vì là điểm du lịch quốc tế, giá vào cửa tương đối cao (120 dirham = 11 €) mà trong đền không có tượng, tranh… cho du khách nhìn ngắm như trong chùa và nhà thờ.
                                                        
       


Hình 2& 3: Đền Hassan II (phía ngoài và một phần gian cầu nguyện chính)

Đương nhiên, người theo đạo Hồi ngày thường ít tới đây cầu nguyện, vì nó quá lớn. Vào tới nơi, cầu nguyện xong, đi ra tới đường cái là lại tới giờ cho buổi sau rồi. Nhưng vào mùa chay Ramadan mỗi năm thì nghe nói là không bao giờ đủ chỗ. Khi đó, chắc chắn là phải đi xe bus tới, bởi vì chỗ đậu xe xem ra quá nhỏ so với tầm vóc ngôi đền.

Trong đền, kiến trúc vĩ đại và tinh xảo. Những trang trí trên tường, trên nóc đều bằng gỗ tùng (ceder). Đặc điểm của những đền Hồi giáo là sự đơn giản mà cân đối vô cùng, đối xứng trong tất cả những chạm khắc trên tường và trên trần. Có những tấm khắc có 4 trục đối xứng, có tấm tới 8. Những chuyên viên trang trí cung điện Trung Hoa nhìn thấy chắc cũng chào thua. Nhìn những nét chạm khắc tỉ mỉ, khó có thể tưởng tượng cả ngôi đền vĩ đại đã được hoàn thành trong vòng có 6 năm (1987 - 1993) theo lệnh vua Hassan II sau khi tiên vương Mohamed V băng hà. Vua Hassan II khi đó đã triệu tập tất cả thợ khéo trong toàn quốc để dựng nên ngôi đền lớn nhất, nhìn ra Đại Tây Dương. Minaret của ngôi đền hiện nay vẫn chiếm hàng đầu thế giới về độ cao trên mặt đất (200m), đó là chưa kể phần ngầm sâu dưới đất. Hồi giáo quan niệm những gì quý giá thì phải nằm trong lòng, đó là lý do vì sao có phần ngầm này.Tấm thảm lót sàn trong ngôi đền cũng là một kỳ công, hàng ngàn miếng nối với nhau khéo tuyệt vời, không thấy mối ráp. Những phần không lót thảm để lộ nền là đá cẩm thạch bóng lộn, ánh đèn trên trần chiếu xuống ở xa trông như mặt nước có gợn sóng. Xem những chi tiết tinh xảo thì thấy rõ ràng sự tôn kính những thợ xây cất đã dành cho đấng Allah và cho nhà vua, là đại diện.

Phía ngoài, nơi những bậc cấp dẫn vào khuôn viên đền có hai tòa tháp cao trấn hai bên, một bên là viện bảo tàng, bên kia là thư viện. Nếu muốn xem tường tận cả khu và ngắm cảnh biển hùng vĩ, một ngày chắc mới đủ.

Trong tầng dưới đất, ngoài những văn phòng điều hành, còn có một khu nhà vệ sinh rất rộng, khá khang trang; và khu phòng tắm (hammam) có cả những bồn rửa mặt bằng đá quý. Không hiểu nơi đây họ chia nam nữ ra sao, hay là không có phân chia giới tính. Mỗi người, nam cũng như nữ, tự động xách xô nước nhỏ vào phòng (nhớ dùng tay trái nhé, vì tay phải là tay bốc đồ ăn, không được để ô uế).

Trong khi đó, phòng cầu nguyện lại được chia rõ ràng. Đàn ông tầng dưới, lơ lửng bên trên có hai gác treo rộng hai bên dành riêng cho quý bà, mỗi bên chứa được cả vài ngàn người. Nam giới tuyệt đối không được bước vào thế giới này.

Vua Hassan II, kế vị vua Mohamed V (vua đầu tiên của nước Maroc độc lập) là một vị vua có nhiều cải cách xã hội. Nhà vua tiên liệu được những chuyển biến của thế giới, thấy được những vấn nạn xã hội của Maroc trong khi có ước muốn là Maroc trong tương lai phải là một quốc gia dẫn đầu Phi châu, cho nên đã đề ra nhiều chương trình cải cách. Một trong những cải cách nền tảng là các bảng tên cơ quan, chỉ dẫn tại công sở v.v… được ghi bằng ba thứ tiếng: Ả Rập, Pháp và thổ ngữ Berber (mới được công nhận là một ngôn ngữ chính thức năm 2011) giúp cho việc tiếp cận với thế giới Âu Mỹ được dễ hơn. Đổi lại, nhiều con đường, dinh thự, cơ sở được vinh dự mang tên Hassan II. Nghĩ lại, thấy số phận các nền cộng hòa của Nam VN hẩm hiu. Những nhân vật lãnh đạo bị nguyền rủa nhiều hơn khen tặng, và chẳng có con đường nào được mang tên của họ!

Trước khi cho thực hiện công trình xây đền Hassan II, nhà vua Hassan đã cho xây ở thủ đô Rabat một lăng cho hoàng gia, mang tên vị tiên vương (lăng Mohamed V). Muốn xem, chúng ta phải ngồi xe một tiếng đồng hồ lên phía bắc, theo con đường xa lộ huyết mạch A1 (xa lộ này dài tổng cộng gần 600km chạy dọc suốt bờ biển từ Nam chí Bắc). Gọi là xa lộ, nhưng cũng như những xa lộ khác ở Maroc, cặp theo đường thường là một con đường đất nện dành cho xe gắn máy và xe lừa. Đúng như tên, rời khỏi Casablanca là phố xá chỉ còn toàn một màu đất đỏ nâu, kiến trúc thường là hình hộp kiểu nhà tiền chế, chán ngắt.

Rabat
Khác Casablanca với kiến trúc mang vẻ Tây Ban Nha và Pháp của thế kỷ 20, thủ đô Rabat có nét cổ kính hơn. Tại Rabat khi xưa (thế kỷ 12) có một chiến lũy cho quân cướp Berber xuất binh đánh phá vùng Tây nam Âu châu, sau được tu bổ lại thành khu thành cổ Udayas có tường cao bằng đất nện bao quanh. Tường đất nện có nhược điểm là phải có nhiều lỗ thông hơi giúp cho tường “thở”, không nứt, nhưng khi mưa thì dễ bị sụt lở. Tuy thế dân Maroc khi xưa chẳng có phương tiện xây cất nào rẻ tiền và dễ thực hiện như tường đất nện. Nhà dân chúng hiện nay ở những làng xa xôi vẫn còn giữ kiểu kiến trúc này, đơn giản như nhà tranh vách đất ở Việt Nam. Nhà nào có con cái đi làm ở ngoại quốc thì họ gởi tiền về để xây nhà xi măng, bê tông bền chắc hơn.

Từ Rabat, nhìn qua bờ sông phía bắc, mờ mờ, là Salé, cũng là một nơi có thời cướp tung hoành. Salé bắt nguồn từ chữ “muối”, vốn là một món hàng quí để trao đổi trong mua bán, từ đó mới có từ ngữ salaire hay salary có nghĩa là tiền lương. Muối giờ đây chỉ có trị giá vài chục cent một kí lô, Salé chỉ còn cái tên và một quá khứ huy hoàng lẫn kinh hoàng. Và một nghĩa trang thành phố khổng lồ tại Rabat, nơi hàng triệu người sắp lớp như cá hộp, yên nghỉ trong tư thế nằm nghiêng, mặt quay về hướng Mecca. Tại nhiều khách sạn, trong phòng có dán sticker với mũi tên chỉ cho biết hướng nào là Mecca để khách trọ biết đường mà cầu nguyện. Trong nhà thì tivi có ăng ten chảo lại quay mặt răm rắp về chiều nghịch lại, vì vệ tinh phát sóng nằm phía đó.

Nhìn phố xá, tôi chợt nghĩ giả sử như Việt Nam, sau khi Pháp trao trả độc lập cho Quốc Gia Việt Nam, nếu sau đó không có những chuyện lộn xộn đưa đến sự nhúng tay của Hoa Kỳ với viện trợ kinh tế dồi dào nhằm thắng điểm nhân tâm đối với phía cộng sản, thì Việt Nam Cộng Hòa ngày nay sẽ tương tự Maroc chăng? Những điểm nhỏ nhặt ghi nhận dọc đường gợi cho tôi quay lùi ký ức lại vài chục năm. Hàng quán trong chợ bán những cục kẹo lẻ cho trẻ em đựng trong lọ thủy tinh. Những vật dụng trong nhà bằng đồng, bằng kẽm thô sơ, ít có đồ plastic. Cửa nẻo trông phức tạp nhưng thực ra khá đơn giản, chỉ dựa trên vài mẫu mã. Tay nắm cửa phòng của tất cả những khách sạn chúng tôi trọ – cho dù 4 sao, đều xệu xạo. Những cây xăng khắp nơi, giá tiền không chênh lệch bao nhiêu chứng tỏ người ta thường không đổ đầy bình (ít tiền?), đặc biệt rất nhiều cây xăng có dựng hai cái chái bên cạnh, bảng vàng chữ đỏ: “Rửa xe - Vô dầu mỡ” (Lavage - Graissage) y như Việt Nam khi xưa, mặc dù họa hiếm mới thấy một chiếc xe cũ kỹ nằm trong đó. Xe gắn máy kiểu mobylette và xe Honda dame tả tơi vẫn chạy ngoài đường. Rất hiếm thấy thùng rác công cộng, mà có thì chắc cũng chỉ là vật trang trí, chúng móp méo, còn rác rưởi vất tràn lan khắp nơi. Và giống Việt Nam nhất: đừng bao giờ tin lời hứa hẹn công việc sẽ xong ngày đó. Nhiều thứ thấy làm như tùy hứng, uể oải. Nhân viên tại trạm kiểm soát thông hành ở phi trường như rùa. Vậy mà dân Maroc tự hào nước họ là một trong những quốc gia hàng đầu của Phi châu!

Lăng Mohamed V nằm trên khoảng đất rộng, đối diện với tháp Hassan. Tháp này – là một phần của ngôi đền Hồi giáo cùng tên – được khởi công từ cuối thế kỷ 12 theo lệnh của vị tiểu vương thứ ba của nhà nước Hồi giáo Almohade, với chủ đích làm một ngôi đền có minaret cao nhất thế giới. Rủi thay, năm 1199 vị tiểu vương băng hà, thế là ngọn tháp xây dở cùng với hơn 200 cột đá dự định làm trụ cho ngôi đền cũng bị bỏ phế luôn, cái cao cái thấp. Hơn 800 năm trôi qua, chẳng ai thấy chướng mắt, ngay cả khi vua Hassan II cho dựng ngôi lăng đồ sộ nguy nga bên cạnh cũng không bận tâm cho chỉnh trang lại. Đó là một thí dụ về tính “thích thì làm, không thích thì thôi” của dân Maroc. Vì mục đích du lịch, phế tích tháp Hassan hiện nay vẫn được tu bổ, giữ nguyên trạng là một tòa tháp, một khúc tường thành và một bãi cột nhấp nhô.

Cũng như lăng của các vị chúa tể khác trên thế giới, lăng Mohamed V là một kiến trúc đồ sộ, vuông vức, bốn bề giống nhau. Phía ngoài có lính canh cưỡi ngựa cầm thương, đổi phiên gác mỗi giờ. Du khách chỉ được nhìn từ hành lang phía trên xuống ba ngôi mộ đá (may mắn là họ còn cho phép vào trong): giữa là tiên vương Mohamed V, phía sau là mộ vua Hassan II và mộ hoàng tử – em vua Hassan II. Cuối phòng là một tấm thảm lông, trên để quyển kinh Koran khổng lồ, là nơi khi có vương lễ sẽ có một imam ngồi đó đọc kinh cho một vị vương nào đó ngồi trên tấm thảm đỏ trải kế bên nghe. 
           


Hình 4 & 5: Lăng Mohamed V (trái) và tháp Hassan (phải)

Trong sách du lịch ghi lăng này do một kiến trúc sư người Việt, khi đó là bạn với vua Hassan II vẽ kiểu và cai quản xây cất (có lẽ họ quen nhau khi vua Hassan II học tại trường đại học ở Bordeaux chăng?). Hỏi hướng dẫn viên địa phương, ông ta nói tên ông kiến trúc sư này là Tuan Vu (Vũ Tuân?). Hai câu hỏi này để cho quý vị nào thích nghiên cứu cổ sử thử tìm lời giải. Dù sao, nghe được một tên Việt Nam, cho dù ở xứ mà ta xưa nay cho là mọi rợ, cũng thấy khoái chí, mấy người có được vinh hạnh được một vị vua nước ngoài trọng vọng như thế.

Nếu tới Maroc vào tháng 5, du khách có thể dự tuần lễ liên hoan âm nhạc Mawazine – lớn thứ 2 thế giới – do vua Mohamed VI đích thân mời những danh tài đến trình diễn trong những show nhạc qui tụ tới hơn 150.000 người tham dự (năm 2017 có Charles Aznavour, Rod Stewart, rapper người Pháp Booba v.v…). Về âm nhạc, có điểm cần nêu là trên tivi, rất ít nữ ca sĩ xuất hiện với khăn trùm đầu, ngay cả khi họ mặc Kaftan (y phục Hồi giáo của phụ nữ. Djellaba là y phục cho nam giới, may rộng hơn và có mũ trùm đầu).

Nhưng giờ đây, tháng 11, ngoài thăm khu đền này và đi phất phơ bên ngoài vòng hoàng cung, nơi cư ngụ của vua Mohamed VI hiện nay, thì chỉ còn kasbah (khu phố bên trong thành cổ)với những con ngõ nhỏ hẹp, và chợ souk, nhưng hai nơi này cũng không có gì đáng ghi nhận. Ngày chúng tôi đến Rabat cũng là ngày cầu đảo, đã nhiều tuần không có giọt mưa nào rơi xuống. Người ta ngồi, quỳ mọp trước đền hay ngay ngoài đường. Đây đó có những vị imam thuyết giảng ngoài trời, những bài giảng này có chủ đề sẵn, được vị giáo chủ tối cao định đoạt và truyền xuống cấp dưới. Có lẽ lòng thành thấu đến đấng Allah, cho nên 6 ngày sau một trận mưa tầm tã suốt đêm và sáng, suốt hơn nửa nước được tắm mát, sáng ra thấy cây cỏ xanh tươi hẳn lên. Những chuyện nhỏ nhặt như vậy càng làm tăng thêm sự tin tưởng nơi phép mầu của Thượng Đế.

      

Hình 6 & 7: Vài góc đường trong Kasbah tại Rabat

Fès

Vậy là chúng tôi rời Rabat, bỏ xa lộ A1, tiến vào sâu nội địa. Qua khu rừng bạt ngàn những cây điên điển (cork, vỏ cây dùng làm nút chai rượu, lót sàn lót tường hay những tấm cách âm, cách nhiệt) bên phải và khuynh diệp bên trái, xe đi vào vùng trồng olive, nằm giữa hai rặng núi Rif phía bắc và Atlas phía nam. Nghe nói chính phủ đang thực hiện kế hoạch dẫn nước vào cả một vùng đất rộng tới 100.000ha này và có những chương trình cấp không bò cừu, cho vay nhẹ lãi để thúc đẩy nông lâm nghiệp và giảm đói nghèo. Từ đây đổ lên là vùng sinh sống của dân Berber. Berber là sắc dân (bán) du mục sống ở vùng duyên hải Bắc Phi, nước da ngăm, quần áo sặc sỡ. Về nguồn gốc họ từ đâu tới, có nhiều thuyết trái ngược nhau. Nhưng chắc chắn đó phải là một giống dân dữ tợn và xông xáo – berber bắt nguồn từ tiếng La-tinh barbara (dã man). Khi người Hồi giáo chiếm vùng Bắc Phi, mà trong đó có nước Maroc hiện nay, người Berber bị dồn lên vùng núi. Hiện tại người ta biết được còn chừng 130 bộ lạc khác nhau. Phần đất phía Nam Maroc, trong sa mạc Sahara, là khu vực sinh sống của một sắc dân du mục khác – người Hồi giáo Bedouin.

Fès là thành phố lớn thứ ba của Maroc, sau Casablanca và Marrakech, và trong thời Pháp bảo hộ, Fès là kinh đô của Maroc cho tới năm 1925, sau đó kinh đô được dời về Rabat cho tới ngày nay. Điểm đặc biệt của Fès là đứng trên đồi cao, ta có thể thấy ba phần riêng biệt của thành phố nối tiếp nhau, theo thứ tự thời gian. Bên trái là khu cổ có từ thế kỷ thứ 9, khu này hiện nay khá hoang tàn. Kế tiếp là vùng được xây dựng lên trong thế kỷ 14, và bên tay mặt là khu hiện đại thuộc thế kỷ 20, có nhiều cơ sở thương mại quốc tế. Khi vào thành phố, chỉ trong một tiếng đồng hồ, bạn đã đi lùi lại 7 và 12 thế kỷ!

Là cố đô của Maroc, đương nhiên hoàng cung nơi đây (tên chính thức: Dar el Makhzen) phải cực kỳ tráng lệ. Điều này du khách chỉ có thể tưởng tượng, vì cũng như những hoàng cung khác, từ 1960 những hoàng cung đã không còn mở cửa cho khách vào thăm, mặc dù chỉ là đi dạo trong khu vườn của khoảnh đất mênh mông 80 mẫu. Thế nhưng, đứng trước hoàng cung với 7 bộ cổng hình vòm từ lớn tới nhỏ – cổng chính dành cho vua, mỗi cặp hai bên là dành cho những nhân vật theo từng thứ bực trong gia đình hoàng gia – để chụp hình cũng bõ công. Trang trí toàn bộ của bộ cổng này được làm hoàn toàn bằng tay, thật khó tìm ra một chỗ không cân đối. Tuy “hoành tráng” thật, nhưng đã bao ngày nay xem biết bao đền đài cung điện, bắt đầu thấy nhàm, vì nhìn chung thì cũng chỉ một kiểu kiến trúc mà thôi, mái nào cũng chỉ một màu xanh lá cây tượng trưng cho hòa bình theo quan điểm của Hồi giáo. Những màu khác là màu đơn giản lấy từ thiên nhiên như lá henna (đỏ nâu), saffran (đỏ tươi), cây thuốc nhuộm indigo (xanh lơ), một thứ rau húng (màu lục) v.v…. Chúng chỉ khác nhau ở mức độ tinh vi và kích thước. Khác những nước Á châu như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…, người Maroc gần như không dùng vàng trong trang trí cung điện, mà dùng bạc, đồng hay thiếc. Đó là bên ngoài, còn trong hoàng cung thì không rõ ra sao. Hỏi, thì được trả lời là Hồi giáo dạy phải cần kiệm trong cuộc sống. 
    


Hình 8 & 9: Cổng vào hoàng cung ở Fès (trái) và khung cửa sổ 
một phòng nội trú trong đại học al-Qarawiyyin (phải)

Tuy thế, ở Fès có một tòa nhà bạn nên đến thăm, đó là đại học nổi tiếng al-Qarawiyyin, được công nhận là đại học cổ xưa nhất thế giới (xây năm 859) còn hoạt động liên tục từ khi mới thành lập. Trường đại học này tuyển chọn những học sinh xuất chúng – nam cũng như nữ – từ khắp nước để đào tạo thành những nhân tài theo một chương trình học khắc khổ – cả về thần học và khoa học chính xác, ở nội trú và không phải trả tiền, nhằm nâng đỡ những mầm non tương lai, vì có nhiều sinh viên xuất thân trong gia đình nghèo vùng quê hay núi. Tuy nâng đỡ như vậy, nhưng trường ít khi có số sinh viên đầy 100 phòng, chứng tỏ sự chọn lọc gắt gao (hay không kiếm đủ nhân tài?). Những trang trí dầy đặc các bức tường và trần trong các sảnh đường bên trong trường phải được kể là do những bậc thượng thừa về chạm khắc thực hiện. Ngoài đại học nổi tiếng này, thành phố Fès còn một khu đại học tân tiến vĩ đại mở cửa từ năm 2012 và hiện vẫn còn đang xây tiếp (Université Euro-Méditerranéenne de Fès – UEMF), chuyên về những ngành khoa học thực nghiệm và khoa học xã hội hiện đại.

(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét