Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Mai Loan - THẢM NẠN THUYỀN NHÂN TẠI ÂU CHÂU

Thống kê của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc về số lượng những người tị nạn gốc Syria
Từ vài năm qua, và gần đây là từ vài tháng trước, các quốc gia tại Âu Châu gần như đã ngoảnh mặt làm ngơ trước thảm nạn đã xảy ra từ cuộc nội chiến tại Syria, đẫm máu và kinh hoàng với khoảng 300,000 người chết, hơn 130,000 bị mất tích do những cuộc đụng độ dữ dội giữa một bên là lực lượng của chính quyền lãnh tụ độc tài Bashar al-Assad và phía đối nghịch bao gồm nhiều thành phần ô hợp và cũng đối chọi lẫn nhau, trong đó đáng kể và nguy hiểm nhất là lực lượng của các tổ chức Hồi-giáo cực đoan như Al Qaeda và sau này là ISIS.

Cuộc nội chiến này bùng nổ từ những vụ biến động cách mạng gọi là Mùa Xuân Ả Rập vào năm 2011 tại nhiều nước ở vùng Phi Châu và Ả Rập, nhưng lại không dẫn đến những kết quả khả quan hoặc tốt đẹp cho xứ sở cũng như người dân tại Syria. Chính quyền của lãnh tụ al-Assad tuy đã bị điêu đứng rất nhiều nhưng vẫn tiếp tục tồn tại, với sự trợ giúp của các đồng minh như Ba Tư (Iran) và Nga Sô trong khi Hoa Kỳ và Âu Châu (nhất là Anh Quốc) không còn lòng dạ để tham dự vào một cuộc chiến tại vùng đất đầy khói lửa này, có lẽ cũng do ảnh hưởng tai hại của 2 cuộc chiến sa lầy tại A Phú Hãn và Iraq do Hoa Kỳ giật dây chủ động dưới thời chính phủ Bush Con. Phía đối kháng chính quyền trung ương ở Damacus thì gồm nhiều lực lượng ô hợp, với lực lượng đấu tranh cho Syria tự do ôn hoà được Hoa Kỳ và Tây Phương ủng hộ thì lại quá yếu thế, trong khi các lực lượng Hồi-giáo cực đoan khác như Al Qaeda và ISIS lại có cơ hội để bành trướng sức mạnh của mình trong một vùng đất rộng lớn bỗng dưng rơi vào khoảng trống quyền lực và chính trị.

Kết quả thảm thương là con số hàng trăm ngàn người đã phải thiệt mạng chỉ trong một thời gian ngắn có 4 năm nhưng hầu như không được thế giới quan tâm đến nhiều. Trong một đất nước chỉ có 24 triệu cư dân mà có đến hơn 7 triệu rưởi người dân Syria phải chạy sơ tán trong nước vì loạn lạc và khoảng 4 triệu người khác được xem như là có phần “may mắn” hơn khi trốn chạy ra nước người để mong được làm thân tị nạn tại các nước tự do và an lành khác, theo như thống kê mới nhất (hồi tháng 6/2015) của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc.

Nói là may mắn, nhưng thật ra số phận những người tị nạn gốc Syria này cũng chẳng có gì là sáng sủa hay tốt đẹp. Phần lớn người tị nạn đang tạm cư tại các lân bang tiếp giáp với Syria như Lebanon (gần 1 triệu 2), Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey, hơn 800,000 người), Jordan (613,000 người), Iraq (vốn cũng đang rơi trong tình trạng chiến tranh hỗn loạn từ hơn một thập niên qua nhưng cũng đón nhận hơn 215,000 người Syria). Một số các nước khác gần đó như Ai Cập và các nước Bắc Phi như Libya, Algeria, Tunisia cũng nhận một số nhỏ những người tị nạn Syria chạy qua đường bộ.

Từ đây những người này, cùng với những người di dân nghèo khó tại các nước Bắc Phi cũng đang loạn lạc tìm cách vượt biển Địa Trung Hải (Mediterranean Sea) để đến bờ biển nước Ý, được xem như là bến bờ tự do gần nhất để từ đó họ có thể tìm cách tiến sâu vào các nước Âu Châu khác do bởi quy chế thông thương và di chuyển tự do của Liên Hiệp Âu Châu.

Từ nhiều tháng qua, nhiều thảm cảnh của người tị nạn vượt biển tại vùng này cũng đã xảy ra khiến nhiều nạn nhân bị chết thảm vì nhiều nguyên do khác nhau, trong đó có cả việc họ cũng là nạn nhân của những kẻ đầu nậu sẵn sàng khai thác sự thiếu thông tin của người dân chạy loạn cũng như niềm hy vọng lớn lao của họ muốn đến bến bờ tự do nên sẵn sàng trả tiền cho những chuyến đi đầy nguy hiểm và bất trắc này. Tuy vậy, số phận hẩm hiu của khối người tị nạn cũng gần như bị bỏ mặt làm ngơ bởi nhiều quốc gia tại Âu Châu, trong khi chỉ có chính quyền của Ý gần như phải nai lưng gánh chịu vì có bờ biển gần nhất đối với các chuyến tầu vượt biển của khối người tị nạn.

Cùng lúc đó, những người Syria vượt biên giới về phía bắc để đến lánh nạn tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng tìm đường tiến xa hơn để đến gần Âu Châu. Từ nước Thổ, họ cũng kéo đến phía tây để tìm cách vượt qua eo biển tại đây để đến Hy Lạp, cũng nằm trong khối Liên Hiệp Âu Châu, với hy vọng là từ đó cũng có thể tiến sâu vào nội địa Âu Châu. Dọc theo nhóm di dân tị nạn từ Syria cũng có những đoàn người chạy nạn từ A Phú Hãn hay Iraq mong muốn tìm một cuộc sống an lành và tốt đẹp hơn so với xứ sở của họ.

Vì Hy Lạp là quốc gia nhỏ bé và cũng không giầu có gì nên đoàn người tị nạn tiếp tục đi về phía bắc, xuyên qua các nước như Nam Tư cũ (gồm có Macedonia, Serbia, Bosnia, Croatia), Hung Gia Lợi (Hungary), Áo Quốc (Austria) để từ đó tiến sâu vào các thành phố của nước Đức. Tuy nhiên làn sóng người tị nạn theo đường này cũng gặp nhiều trở ngại do bởi chính quyền tại các nước Đông Âu không mấy hăng hái trong việc giang tay đón nhận.

Con đường đi tìm tự do của những người lánh nạn
tại Syria để đi đến các nước tại Âu Châu
Tại Hung Gia Lợi, thủ tướng Viktor Orban đã ra lệnh lập hàng rào kẽm gai cũng như xây lên những bức tường để ngăn cản đoàn người tị nạn xuyên qua biên giới, và đối xử với những kẻ may mắn lọt vào được chẳng khác gì thú vật. Tại nước Tiệp (Czech) có đến 71% dân chúng trong nước chống đối việc nhà nước mở cửa đón nhận dân tị nạn. Còn tại Slovakia, chính phủ nói rõ rằng nếu như muốn được chấp nhận vào nước họ, thì người tị nạn không nên là dân theo Hồi-giáo, theo đúng với luận điệu tuyên truyền của nhiều chính trị gia cực hữu muốn đầu độc tâm lý quần chúng không mấy có cảm tình với người Hồi-giáo do bởi nhiều biến chuyển bất lợi trong những năm gần đây.

Thậm chí trong nhiều nước Âu Châu có truyền thống tự do và cởi mở lâu đời như Pháp và Hoà Lan, tâm lý kỳ thị người Hồi-giáo cũng khá phổ biến trong một số cộng đồng dân bản xứ, với sự tiếp tay của nhiều chính trị gia bảo thủ cực hữu như các lãnh tụ Geert Wilders tại Hoà Lan hoặc bà Marine LePen của đảng Front National tại Pháp, lúc nào cũng hô hào chủ trương chống việc hội nhập di dân đến từ các nước Hồi-giáo.

Những lãnh tụ chống đối việc mở rộng đón nhận làn sóng người tị nạn đã đưa ra nhiều lý lẽ để biện minh cho chính sách khoá cửa không nhân đạo của mình. Ông Wilders nói rằng những người tị nạn chỉ là “những người đang đi tìm hạnh phúc” chứ không thực sự là tị nạn chính trị. Còn ông thủ tướng Orban thì cho rằng đó là những người di dân kinh tế, mưu cầu đến những nước tự do và giầu có ở Âu Châu là để mong được hưởng những phúc lợi về dân sinh và y tế.

Lập luận của những lãnh tụ và chính trị gia này cũng có sức thuyết phục khá cao với nhiều khối dân bảo thủ thiếu lòng bao dung, khi cho rằng nếu như những người Syria chạy nạn này đã sang được các nước lân cận như Thổ Nhĩ Kỳ thì họ đâu có còn bị đàn áp nữa, và do đó coi như đã không còn đầy đủ yếu tố để biện minh cho việc xin quy chế tị nạn. (Thật ra, thì nước Thổ có một ngoại lệ nhỏ. Đó là tuy có ký kết vào Thoả ước Tị nạn của Liên Hiệp Quốc vào năm 1967, nhưng Thổ được hưởng ngoại lệ là chỉ cứu xét các đơn xin quy chế tị nạn từ người dân của các nước Âu Châu mà thôi). 

Nhưng mấy ai ngờ là những thái độ vô tình hay cố ý bỏ mặc làm ngơ của nhiều nước tại Tây Âu như Anh và Pháp, cũng như sẵn sàng chống đối hoặc từ chối của nhiều chính phủ các nước Đông Âu như Hung Gia Lợi và Slovakia, cuối cùng đã phải thay đổi khá nhanh chóng để mở tung cánh cửa của châu lục này và đón tiếp những đoàn người tị nạn đổ về, dưới áp lực của hai biến cố chính trị cùng nổ ra.

Biến cố đầu tiên là lương tâm của nhân loại cuối cùng cũng thức tỉnh, dù có hơi muộn màng, và dù rằng nó chỉ được khơi dậy bởi một sự kiện đau lòng qua hình ảnh của một em bé 3 tuổi người Syria cùng với cha mẹ trên đường vượt biên để tìm tự do, nhưng đã không may bị chết chìm ngoài biển khơi và trôi xác vào bờ biển gần Bodrum của Thổ Nhĩ Kỳ.

Thi thể em bé Aylan Kurdi người Syria trôi vào bờ biển gần Bodrum tại Thổ Nhĩ Kỳ (hình Nilufer Demir, The Independent)
Biến cố thứ nhì là quyết định khá bất ngờ của bà Angela Merkel, thủ tướng của Đức, đã can đảm nói với người dân Đức nói riêng, cũng như người dân Âu Châu nói chung, là hãy gạt sang bên những nỗi lo ngại đối với khối di dân gốc Hồi-giáo này và hãy bộc lộ tinh thần bao dung và rộng lượng đối với những người đang trong bước đường cùng khốn. Hơn bao giờ hết, sự giúp đỡ của các chính quyền và người dân tại các nước tự do mà người tị nạn Syria đang tạm dung là một cái phao cứu vớt rất quan trọng để họ không còn mất hết niềm tin về tình người. Trong một chừng mực nào đó, chúng ta thấy hành động của bà Merkel cũng đầy nhân ái và cao cả không khác gì câu giảng dạy đạo làm người rất cao đẹp của người Việt chúng ta là “một miếng khi đói bằng một gói khi no”.

Đám đông dân chúng tại Đức đón chào những người tị nạn đến từ Syria.
Trong biến cố thứ nhất, hình ảnh em bé nằm như ngủ trên bờ biển Địa Trung Hải đã làm rung động mọi người khi biết chuyện hoặc nhìn thấy. Không phải là hình ảnh của xác chết kinh hoàng do gươm giáo hay súng đạn. Cũng không phải là chuyển cắt cổ kinh hoàng của nhóm Hồi-giáo thánh chiến ISIS gần đây. Nạn nhân là một em bé trai quần áo chỉnh tề, còn cả giầy dép đàng hoàng. Nằm trên bãi cát như ngủ quên trong giấc ngủ thần tiên.

Nạn nhân là đứa con trai 3 tuổi, cộng với người anh 5 tuổi là con của vợ chồng anh Abdullah Kurdi 40 tuổi. Anh Kurdi nói rằng mình đã đóng tiền 2 lần để vượt Địa Trung Hải qua Hy Lạp. Chuyện không thành. Lần này anh liên lạc trực tiếp với chủ tàu. Thật ra chẳng phải là con tàu hay con thuyền. Chỉ là một chiếc ca-nô nhỏ bé chở 12 người vượt Địa Trung Hải. Vừa ra khỏi bờ là gặp sóng lớn. Chẳng có phao cứu nạn, anh Kurdi ôm vợ con rồi tất cả chìm trong con sóng cao ngất trời. Kurdi thấy những đứa con tuột khỏi tay. Nghe tiếng vợ con kêu trên biển cả lần sau cùng. Nhưng rồi anh chẳng tìm thấy ai đành tuyệt vọng bơi vào bờ. (Xem ra cũng chẳng khác gì biết bao thảm cảnh khác mà hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam chúng ta vượt biên trước đây cũng đã trải qua).

Người ta tìm thấy xác hai đứa nhỏ và vợ của anh trôi giạt vào khu nghỉ mát trên bờ biển Bodrum của Thổ Nhĩ Kỳ. Cả hai đứa nằm như ngủ quên trên bãi cát. Gia đình anh đã di tản nhiều lần để tránh bọn khủng bố ISIS và sau cùng đến được Thổ Nhĩ Kỳ. Kurdi có người chị đã định cư tại Canada làm giấy tờ bảo lãnh cho cả gia đình. Đơn bảo lãnh bị từ chối vì xem ra đi khỏi Syria là an toàn rồi. Ở lại Thổ Nhĩ Kỳ được coi là không còn nguy hiểm vì chiến tranh. Nhưng vợ chồng Kurdi nhất quyết ra đi, nên chọn con đường vượt biển. Thảm kịch trên bờ Địa Trung Hải có thể là đoạn cuối. Kurdi đưa ra tấm hình và nói với nhà báo. Tôi có hai đứa con đẹp nhất thế giới. Hình ảnh đứa bé 3 tuổi nằm trên bãi biển được nhiếp ảnh gia Nilufer Demir tình cờ ghi lại, và sau đó đã mở rộng trái tim nhân loại đón chào những người tỵ nạn chiến tranh đến từ đất nước Syria.

Sau đó, một bản tin trên mạng của AG News cho biết thật ra thi thể của em Aylan được tìm thấy trong một hóc đá ở bờ biển, và sau đó được một số người dàn dựng để nằm dưới bãi cát để cho các nhiếp ảnh gia chụp được một tấm hình rõ nét và “ăn tiền” hơn. Hậu ý chính trị của hành động này là muốn khơi dậy lòng thương xót của công luận thế giới và đồng thời cũng lên án chính quyền Al-Assad ở Syria là nguyên nhân gây ra thảm cảnh thuyền nhân vượt biển nên mới lâm nạn.

Chưa rõ nguồn gốc thực sự của tấm hình này ra sao, nhưng điều đó cũng không phủ nhận một sự thực đau lòng là em Aylan, cùng với người anh và bà mẹ của mình đã tử nạn trên đường vượt biên, trở thành một trong số hàng trăm ngàn nạn nhân vô tội khác của cuộc chiến mà gần như thế giới không để ý đến hoặc bỏ mặc làm ngơ. 

Hình em Aylan Kurdi được tìm thấy tại bờ đá bãi biển ở Thổ Nhĩ Kỳ (AG News)
VÌ SAO VIỆC CỨU GIÚP NGƯỜI TỊ NẠN LÀ MỘT NGHĨA VỤ?

Vào năm 1951, một nhóm các nhà ngoại giao hội họp tại thành phố Geneva ở Thuỵ Sĩ để cùng nhau tìm ra những giải pháp để tiếp nhận một số lượng khổng lồ những người tị nạn từ một vùng đất rộng lớn luôn bị chia rẽ và xung đột bởi những hận thù sắc tộc, những ý thức hệ cực đoan và chiến tranh gần như không bao giờ chấm dứt: vùng đất đó chính là Âu Châu.

Thật vậy, cuộc thế chiến lần đầu (được gọi là cuộc Đại Chiến từ 1914 đến 1918) vì những xung đột giữa vài cường quốc tại Âu Châu, nhưng sau đó đã nhanh chóng kéo theo sự tham chiến của nhiều quốc gia khác vì những hiệp ước hữu nghị và hỗ trợ lẫn nhau, để rồi cuối cùng trở thành một cuộc chiến đẫm máu và kinh hồn nhất mà nhân loại trước đó chưa bao giờ phải nếm trải.

Mấy ai ngờ rằng chỉ hơn hai thập niên sau đó, thế giới lại nhanh chóng chìm vào một cơn đại chiến khác cũng giữa các cường quốc tại Âu Châu, nhưng lần này còn kinh khiếp hơn nữa để rồi sau đó lan rộng hầu như khắp nơi trên thế giới. Do đó, cuộc Đại Chiến này đã được gọi là Đệ Nhị Thế Chiến và diễn ra từ năm 1939 đến 1945. Lần này thì con số các nạn nhân bị thiệt mạng còn khủng khiếp hơn nữa, tổng cộng có khoảng 60 triệu người đã bỏ mình, với những hình ảnh ghê rợn kinh hoàng như cuộc diệt chủng của dân Do Thái (Holocaust), và sự ra đời của bom nguyên tử với sức huỷ diệt kinh hồn mà người dân Nhật tại hai thành phố Hiroshima và Nagasaki phải gánh chịu vào đầu tháng 8 năm 1945. Riêng tại lục địa Âu Châu, hàng chục triệu người dân bỗng lâm vào cảnh màn trời chiếu đất trên đường đi lánh nạn trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt và thảm thương.

Chỉ vài năm trước đó, hàng triệu người dân gốc Do Thái sinh sống tại các nước ở Âu Châu đã bị lùa vào các trại tù để bị bức tử bởi các đội quân Nazis dưới chính quyền Phát-xít của Đức do lãnh tụ Hitler sai khiến.

Quả báo của hành động tàn ác này xảy ra sau đó không lâu vì sau khi nước Đức bị bại trận, có khoảng 14 triệu dân Đức cũng bị trục xuất khỏi các nước Ba Lan, Tiệp Khắc và Liên Sô khiến cho một số lớn đã phải bỏ mình trên đường lưu lạc tìm chốn dung thân. Sau khi chiến trận ngã ngũ, biên cương của nhiều quốc gia cũng bị sửa đổi lại theo mong muốn của phe chiến thắng, khiến cho hàng triệu người dân khác gốc Ukraine, Serbia và các sắc tộc khác cũng một sớm một chiều bị tống ra khỏi nhà cửa và quê hương của họ.
Sáu năm sau khi cuộc chiến kết thúc, người ta ước lượng cũng còn có đến hơn 400,000 người vẫn còn phải sống chen chúc trong những căn lều tạm bợ được mệnh danh là trại của “những người bị dời cư” mà vẫn không biết rõ ràng nơi chốn để được tái định cư.
Cuộc họp do Liên Hiệp Quốc chủ trì tại Geneva vào năm 1951 nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề người tị nạn sau đó cũng đi đến một kết quả tốt đẹp: đó là một thoả ước do các nước đồng ký tên vào để cam kết rằng kể từ nay các chính phủ sẽ phải cứu xét đơn xin quy chế tị nạn của bất cứ người dân nào đang cư ngụ trên lãnh thổ do chính phủ đó đang cai quản, và nếu như người nộp đơn có thể chứng minh được rằng họ có “lý do chính đáng để lo sợ sẽ bị truy bức tại quốc gia gốc” thì chính quyền tạm dung phải cấp quy chế tị nạn cho họ.

Thoạt đầu, thoả thuận chịu cứu xét đơn xin và sau đó chấp thuận quy chế tị nạn chỉ được dành cho những người Âu châu mà thôi. Nhưng rồi sau đó, sự giới hạn này đã được loại bỏ, và đến kỳ họp khoáng đại vào năm 1967 thì thoả ước về tị nạn được chính thức mở rộng để được áp dụng trên toàn cầu. Có tổng cộng 147 quốc gia trên thế giới đã đồng ý ký tên vào thoả ước trong kỳ hội nghị về tị nạn lần này; và từ đó đến nay thoả ước này được coi như là nền tảng để giải quyết những cơn khủng hoảng nhân tai xảy ra trên thế giới. Kể từ đó, việc cứu giúp cho những đợt di dân lánh nạn không phải chỉ đơn thuần là một nghĩa cử từ thiện hay nhân đạo mà cũng còn là một nghĩa vụ của các quốc gia khắp nơi có liên hệ xa gần đến những chính phủ tại các nước liên hệ, ít nhiều dính líu đến những vụ khủng hoảng.

Việc các quốc gia đồng thanh ký tên tuân thủ theo thoả ước về người tị nạn được coi như là một điểm son của nhân loại, muốn chuộc lại những lỗi lầm hay hậu quả khốc liệt của chiến tranh gây ra. Nó nói lên lòng quyết tâm của các chính phủ và người dân tại nhiều nước không muốn thấy tái diễn những nghịch cảnh trớ trêu của từng đoàn người phải bồng bế lang thang khổ sở trên đường lánh nạn mà không có nơi nào chịu giang tay đón nhận như các thế hệ cha anh của họ đã phải chịu đựng, và có thể những thế hệ con em của họ sau này cũng phải hứng chịu nếu như thế giới này không chịu cùng ngồi lại để có một sự cam kết chung như vậy.

Vì thế cho nên một bộ phận đã được thiết lập với danh xưng là Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) với những ngân quỹ to lớn để hỗ trợ cho các chính quyền địa phương trong nỗ lực giúp đỡ cho khối người tị nạn có thể bất thình lình đổ ập vào nhiều quốc gia. Trong thực tế, nhiều quốc gia lúc ban đầu không phải lúc nào cũng hăng hái thi hành lời cam kết giúp đỡ này, và cần phải có sự thúc giục của Cao Uỷ Tị Nạn cũng như sự tích cực yểm trợ của các quốc gia giầu mạnh khác thì các nước nhỏ bé mới chịu mở biên cương và cấp ngân khoản để cứu vớt lớp người tị nạn trong bước đầu.

Đó là điều đã xảy ra với tất cả các nước trong vùng Đông Nam Á khi phải đón nhận các đợt sóng thuyền nhân vượt biên để trốn chạy chế độ cộng sản tại Việt Nam vào hai thập niên 70 và 80 để mong tìm một nơi chốn an lành tại các bờ biển của Hương Cảng, Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai Á, Phi Luật Tân v.v. . . Đến khi các lớp người tị nạn đã lên con số quá cao, vượt quá khả năng cứu giúp hay chịu đựng của nhiều chính quyền địa phương, một số các biện pháp ngăn cấm không cho các thuyền tị nạn được cập vào bờ hoặc ngoảnh mặt làm ngơ không thèm cứu giúp trên biển khơi cũng đã xảy ra khiến cho bao người xấu số đã phải thiệt mạng oan uổng. Phải đến khi chính quyền Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Jimmy Carter chịu quyết định nâng cao con số các người tị nạn vượt biển được nhập cư vào nước Mỹ, thì tình hình mới có phần khả quan hơn. Dĩ nhiên, nhiều quốc gia khác tại Âu Châu cũng như nước Úc cũng đã giang rộng vòng tay để đón nhận các gia đình tị nạn và nhờ đó mà các quốc gia đệ tam ở Đông Nam Á đã không còn nhìn vấn đề tị nạn của khối người vượt biên từ VN như là một gánh nặng cho họ.

Và sau này, Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cũng như Hoa Kỳ đã phải tích cực dấn thân thêm nữa khi số người tị nạn tiếp tục vượt biển khỏi VN như bất tận, và tràn ngập vào các đảo như đã xảy ra tại Hương Cảng và triển vọng được đi định cư tại các quốc gia tự do ở Âu Mỹ đã bắt đầu mong manh hơn. Từ đó mới dẫn đến việc điều đình với các chính quyền sở tại cũng như nhà cầm quyền Hà Nội để giải quyết vấn nạn này qua nhiều giải pháp, từ việc hồi hương những người không đủ quy chế cho đến thoả thuận sẽ cứu xét dễ dãi hơn cho các đơn xin đi định cư của những thành phần này sau khi họ đã hồi hương.

Nhiều người lo ngại rằng với quyết định rộng lượng và bao dung của bà thủ tướng Angela Merkel, con số đông đảo người dân tị nạn đổ xô đến nước Đức (và nhiều nước Âu Châu khác) sẽ trở thành một gánh nặng to lớn, sinh hoạt xã hội tại Đức và nhiều nước Âu Châu khác cũng sẽ bị đảo lộn không ít, những phúc lợi dân sinh cho người bản xứ có thể bị giảm bớt để trang trải cho những chi phí cứu trợ này. Đó là chưa kể nỗi lo hoặc ám ảnh của nhiều người cho rằng có thể sẽ có một số không ít những phần tử Hồi-giáo quá khích như ISIS hoặc Al Qaeda trà trộn vào trong đoàn người tị nạn, để rồi sẽ nằm vùng trong một thời gian dài sau đó trước khi có thể quay ra tấn công hoặc làm hại cho các nước ân nhân này.

Tuy nhiên, theo nhận định của ban chủ biên tờ The Economist, những nỗi lo ngại kể trên có phần hơi quá lố và sai lầm, khi người ta chỉ biết nhìn khối di dân và tị nạn như là một gánh nặng. Và do đó, giải pháp cho vấn nạn này không phải là việc thiết lập thêm những hàng rào ngăn cản, như lập luận cố hữu của những chính trị gia như bà Marine LePen tại Pháp và Geert Wilders tại Hoà Lan (tương tự như luận điệu của ông Donald Trump và nhiều ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hoà hiện nay tại Hoa Kỳ). Vấn đề là phải biết tìm cách giải quyết những áp lực cũng như những rủi ro của một tập thể to lớn bỗng xuất hiện trong xã hội, để đi đến một kết quả tốt đẹp là lực lượng di dân có thể trở thành một động lực cải thiện đời sống của chính họ cũng như của xã hội mà họ đang được tạm dung.

Những thí dụ điển hình nhất là các cộng đồng di dân gốc Armenia, hoặc là cộng đồng “thuyền nhân” của Việt Nam bỏ xứ ra đi vào hai thập niên 70 và 80, cuối cùng đã trở thành những cộng đồng vững mạnh và khởi sắc để bồi đắp thêm cho sự thịnh vượng của các quốc gia đón nhận họ, không riêng gì tại Hoa Kỳ mà cũng đã xảy ra tại tất cả các quốc gia khác (như tại Âu châu và Úc châu) đã cưu mang và đón tiếp người Việt tị nạn trong những ngày đầu. 

Trong thời gian đầu, thế nào cũng có những tin tức có phần tiêu cực hoặc bất lợi. Chẳng hạn như những con tàu từ Hung Gia lợi chạy qua các quốc gia Âu châu tạm ngưng hoạt động. Nhiều nước khác đóng cửa biên giới. Rồi lại xảy ra tình trạng những nhóm di dân từ các nước Bắc Phi Châu và dân Hồi giáo có thái độ hung hãn. Tại nhiều nơi dân Hồi Giáo khước từ thực phẩm cứu trợ vì cho là không đúng khẩu vị và không hợp với thức ăn của đạo Hồi. Những hình ảnh trên truyền hình hoặc qua mạng YouTube cho thấy những toán công tác cứu trợ đem thực phẩm đến cho di dân tại một số nơi đã bị lạnh nhạt từ chối. Nhiều nơi khác, dân tị nạn Hồi-giáo còn vất thức ăn vào thùng rác.

Tuy nhiên, những hình ảnh đó chỉ là thiểu số, bao giờ cũng có thể xảy ra và không thể làm thay đổi được cục diện to lớn hơn nhiều. Đó là vấn đề di dân, tự nó không phải lúc nào cũng là một gánh nặng cho chính quyền hay người dân địa phương đang giang tay cứu giúp, bởi vì nói cho cùng, người tị nạn cũng chỉ là người dân bình thường, cũng cần cù và chí thú làm ăn, với mong muốn được sống bình yên tại quê hương của họ, nhưng chẳng may rơi vào cơn hoảng loạn của chiến tranh và không thể sống nổi trong một thể chế áp bức và xã hội thiếu tự do dân chủ nên mới đánh liều bỏ nước ra đi.

Nói theo lời kết luận của tạp chí The Economist, chính sách lo sợ hay nghi kỵ những người di dân đến từ xứ lạ, dù là từ các nước nhược tiểu ở Đông Dương trước đây hay các nước Hồi-giáo ở Trung Đông và Bắc Phi hiện nay, vẫn có thể được vượt qua bởi những chính sách khôn ngoan và biết nhìn nhận phẩm giá của con người. Những lãnh tụ trước đây như cựu tổng thống Jimmy Carter (đã cứu vớt số lượng rất đông thuyền nhân người Việt vào cuối thập niên 70) và bà thủ tướng Angela Merkel không những là những vị nguyên thủ quốc gia có tấm lòng rộng lượng và bao dung đáng ca ngợi, mà họ cũng còn là những lãnh tụ biết rõ vấn đề và biết cách điều hành nó để đi đến thành công. Và do đó, những chính quyền và người dân tại các quốc gia khác trên thế giới cũng nên noi gương theo để cùng mở lòng bao dung như vậy.

Mai Loan
21 tháng 9, 2015



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét