Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

TS. Phạm Trọng Chánh - NGUYỄN DU ĐI SỨ TRÊN QUÊ HƯƠNG LÝ BẠCH (Tiếp theo và hết)


Chúng ta hãy đọc bài Hành Lạc từ của Nguyễn Du phảng phất không gian thơ Lý Bạch mời ruợu, hãy sống vui chơi hôm nay, đừng lo danh tiếng hảo xa vời khi đã chết, công danh, giàu sang trần thế như phù vân, có rồi lại mất, đời người ai sống lâu chỉ tám chục tuổi, tội gì ngàn năm lo. Khác thơ Lý Bạch đầy dao to búa lớn, viết những điều phi lý, Nguyễn Du trong bài Hành Lạc từ có lý hơn. Nguyễn Du không đòi giết dê, bò không biết là của ai để làm thịt nhậu, mà là vui thú sau một cuộc đi săn: Chó tốt lông vàng đốm trắng, cổ đẹp đeo chuông vàng. Chàng trai trẻ mặc áo cộc, dắt chó đi về phía núi Nam Hồng Lĩnh. Núi Nam có nhiều nai hương, huyết ngọt thịt thơm ngon. Dao vàng thái thành món ăn quý, rượu ngon uống trăm chung. Đời người ai sống trăm tuổi, vui chơi cho kịp thì, tội gì sống  bần tiện, lo âu suốt một đời người. Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc không thần phục nhà Chu, lên núi Thú Dương ở ẩn, nhịn đói mà chết, chứ không thèm ăn thóc nhà Chu cũng chẳng có danh lớn.  Chích Cược hai tên trộm cướp nổi tiếng thời Xuân Thu, Đạo Chích em Liễu Hạ Huệ có khoảng chín nghìn lâu la đi cướp của người vợ người. Trang Cược em Sở Trang Vương cũng là tay ăn cướp đại bợm, hai kẻ ấy cũng chẳng giàu to. Có chó cứ làm thịt, có rượu cứ nghiêng bầu. Nguyễn Du không đòi giết dê bò, bán cả ngựa quý, áo cừu để mua rượu như Lý Bạch. Hay dở trên đời không sao biết được. Cần gì lo tiếng hảo về sau. Câu thơ này Nguyễn Du phản đối kịch liệt người đời sau cho rằng Nguyễn Du đòi ba trăm năm lẻ có kẻ khóc mình trong bài Độc Tiểu Thanh Ký...


Trên núi có hoa đào, tươi đẹp như tấm lụa đỏ, sáng sớm còn đùa giỡn với mùa xuân đẹp, chiều đã nằm giữa bùn lầy. Câu thơ này Nguyễn Du  viết hay và có lý hơn câu thơ Lý Bạch : Nhà cao, gương xót mái đầu, Sớm còn tơ biếc, tối hầu tuyết pha. Người ta chỉ thấy khi cả nhúm tóc bị bạc, chớ có ai để ý từng sợi tóc, sáng xanh chiều bạc đâu ? Hoa đẹp không được trăm ngày, người sống lâu mấy ai trăm tuổi, chuyện đời lắm đổi thay, sống kiếp phù sinh nên cứ vui chơi. Trên tiệc rượu có gái đẹp như hoa. Trong vò có rượu quý nổi sóng vàng, tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu khi mau khi chậm, được dịp hát to, cứ hát cho nở nang buồng phổi. Người không thấy ông Vương Nhung cầm thẻ ngà, ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn chưa thấy đủ. Vương Nhung là một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu vườn ruộng ở khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận ngày nào cũng cầm bàn toán, thẻ ngà để tính toán. Trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống nên dùi nát hộtđi rồi mới bán. Thế mà đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết, bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng. Lại không thấy ông Phùng Đạo thời Ngũ Đại lúc về già, phú quý xiết bao, trải mấy triều vua không rời ngôi khanh tướng, thế mà miếng đỉnh chung rốt cục vẫn là không. Nghìn năm chỉ lưu bài Trường Lạc tự, kể chuyện mình thờ bốn họ : Đường, Tấn, Hán, Chu, sáu ông vua. Phú quý trước mắt không khác gì phù vân, người nay chỉ biết cười người xưa, người chết mồ mả đã ngổn ngang, người nay đời sau vẫn bôn tẩu rộn ràng. Xưa nay kẻ hiền ngu  cũng chỉ trơ lại một nấm đất, không ai vượt qua được cửa ải sống chết, khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi, kìa nhìn trong cửa sổ phía Tây, bóng mặt trời đã xế. Cùng một tư tưởng nhưng thơ Nguyễn Du hợp lý và vừa phải, không ngoa ngữ dao to búa lớn như thơ Lý Bạch.

HÀNH LẠC TỪ

Bài I :
Chó săn vàng đốm trắng,
Cổ đẹp đeo chuông vàng.
Chàng trai mặc áo ngắn,
Dắt về phía núi Nam.
Núi Nam nhiều nai hương,
Huyết ngọt thịt thơm ngon.
Dao vàng thái món quí,
Rượu ngon uống trăm chung.
Đời ai sống trăm tuổi,
Gặp thời cứ vui chơi.
Tội chi sống bần tiện,
Lo âu suốt đời người.
Di Tề chẳng danh lớn,
Chích Cược không giàu to,
Sống lâu chỉ tám chục,
Tội gì ngàn năm lo.
Có chó cứ làm thịt,
Có rượu cứ nghiêng bầu.
Hay dở trên đời sao biết được,
Cần gì lo tiếng hão về sau.

Bài II
Núi cao hoa đào nở,
Tươi như màu lụa đỏ,
Sáng mai đùa xuân xanh,
Chiều tối rơi bùn nhọ.
Hoa nào đẹp trăm ngày ?
Người ai sống trăm tuổi ?
Chuyện đời lắm đổi thay,
Kiếp phù sinh chơi mãi.
Trong tiệc mỹ nữ đẹp như hoa,
Trong hồ có rượu như vàng pha,
Tiếng kèn tiếng sáo ngân khoan nhặt,
Được dịp hát to cứ hát ca.
Anh có thấy ông Vương Nhung tự tay cầm bàn ngà,
Ngày ngày tính toán lòng chưa vui sướng.
Đài Tam công đổ, cây mận ngon tàn,
Bạc vàng tiêu tán người khác hưởng.
Lại thấy không, ông Phùng Đạo khi về già còn phú quí,
Trải mấy triều vua ngôi cao khanh sĩ,
Chuông minh đỉnh vạc lại hoàn không,
Nghìn năm lưu bài Trường Lạc tự.
Giàu sang trước mắt như phù vân,
Người nay chỉ biết cười người trước,
Người trước chết chôn đầy tha ma,
Người nay sao vẫn còn xuôi ngược.
Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,
Nào ai vượt qua được sống chết,
Anh ơi uống rượu rồi vui chơi,
Kìa trông phía Tây trời đã xế.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ
Nguyên tác phiên âm Hán Việt

HÀNH LẠC TỪ

I
Tuấn khuyển hoàng bạch mao,
Kim linh hệ tú cảnh,
Kim sam thiếu niên lam,
Khiển hướng Nam Sơn lĩnh.
Nam Sơn đa hương mi,
 Huyết nhục cam thả phì,
Kim đao thiết ngọc soạn,
Mỹ tửu lũy bách chi.
Nhân sinh vô bách tải,
Hành lạc dương cập kỳ.
Vô vi thủ bần tiện,
Cùng niên bất khai mi.
Di Tề vô đại danh,
Chích Cược vô đại lợi.
Trung thọ chỉ bát thập,
Hà sự thiên niên kế.
Hữu khuyển khả tu sát,
Hữu tửu thả tu khuynh.
Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận,
Hà sự mang mang thân hậu danh.

II
Sơn thượng hữu đào hoa,
Xước ước như hồng ỷ.
Thanh thần lộng xuân nghiên,
Nhật mộ trước nê trỉ.
Hảo hoa vô bách nhật,
Nhân thọ vô bách tuế.
Thế sự đa suy di,
Phù sinh hành lạc sự.
Tịch thượng hữu kỹ kiểu như hoa,
Hổ trung hữu tửu như kim ba.
Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp.
Đắc cao ca xứ thả cao ca.
Quân bất kiến,
Vương Nhung nha trù thủ tự tróc,
Nhật nhật cối kê thường bất túc.
Tam Công đài khuynh hảo lý tử,
Kim tiền tán tác tha nhân phúc,
Hựu bất kiến,
Phùng Đạo vãn niên xung cực quí,
Lịch triều bất ly khanh tướng vị,
Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không,
Thiên tải đồ lưu Trường Lạc tự.
Nhãn tiền phú quí như phù vân,
Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân.
Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy.
Kim nhân bôn tẩu hà phân phân.
Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ,
Sinh tử quan đầu mạc năng độ.
Khuyển quân ẩm tửu thả vi hoan,
Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

Chú thích:
Vương Nhung: Một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán sợ người ta được giống, nên dùi nát hột đi rồi mới bán.

Phùng Đại: Người đời Ngũ Đại, tính chất phác, văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều: Đường, Tấn, Hán, Chu tự đặt hiệu là Trường Lạc lão có làm bài Trường Lão lạc tứ tự, kể chuyện mình thơ bốn họ, sáu ông vua.

TỪ THỤC ĐẠO NAN ĐẾN MINH NINH GIANG CHU HÀNH

Nguyễn Du còn mang  ảnh hưởng Lý Bạch trong việc tả sông núi hiểm trở. Nguyễn Du chưa đi qua Ba Thục, nhưng đọc thơ Lý Bạch bài Thục Đạo Nam, lấy ý tả Minh Ninh Giang lúc đi sứ, để so với đường từ Tần vào Thục. Cảnh Minh Ninh Trung Quốc là đường xứ Việt vào Trung Quốc, chúng ta thử đọc bài Thục Đạo Nan của Lý Bạch và Minh Ninh Giang chu hành của Nguyễn Du. Đoạn đường đi Tứ Xuyên ngày nay không còn nguy hiểm, nguy hiểm nhất thế giới ngày nay là đoạn đường từ Tứ Xuyên đi Tây Tạng, đài truyền hình các nước có làm nhiều phim về đoạn đường nguy hiểm này.

Trong lúc vua Đường Minh Hoàng phải chạy vào Thục, khi loạn An Lộc Sơn, Lý Bạch cảm xúc làm ra bài này để tả cái cảnh hiểm trở của xứ Thục.  Than ôi ! Đường đi vào Thục khó hơn đường lên trời xanh. Theo như sách sử những đời từ Tam Tòng, Ngư Phù mở ra xứ Thục kể có 4 vạn 8 ngàn năm. Thế mà chỗ nước Thục với nước Tần chỗ tiếp giáp, vẫn cách biệt nhau đến nỗi, bóng khói hai xứ vẫn chưa thông nhau. Cách đây mười năm tôi có dịp xem một cuộc triển lãm các khảo cổ vật đào được ở tỉnh Tứ Xuyên tại Paris, cho thấy hình dạng các vật dụng, và một nền văn minh hoàn toàn khác với Trung Quốc ngày nay và có gì gần gũi với nền văn minh Maya, Inca Châu Mỹ. Đường vào đất Thục hiểm lắm, chỉ ở phía Tây núi Thái Bạch, có một chỗ đá núi đứt quãng, nhưng chỗ đứt quãng ấy cũng cao chót vót, riêng có loài chim mới bay qua đó, mà sang đỉnh núi Nga My, chứ người không thể đi được. Mãi đến đời nhà Tần, trời mới sai năm vị lực sĩ, có sức khiêng đồi vác núi, xuống giúp vua Thục. Đến lúc năm vị lực sĩ ấy theo lệnh vua Thục cùng đi dọn đường để đón một người con gái của vua nước Tần xin dâng, chẳng may núi đổ, đá lở, năm vị lực sĩ ấy đều bị chết bẹp, bấy giờ rặng núi chắn ngang hai xứ Tần Thục, mới có chỗ hở. Về sau người ta nhân đó mà dựng thang và bắc cầu đá, để đi từ quả núi nọ sang quả núi kia, thì đất Thục mới có đường vào. Nhưng con đường ấy có phải dễ đi đâu ! Trên thì có núi Cao Tiêu hình giống như sáu con rồng của Hoàng Bá Đăng đã cưỡi, có thể làm cho mặt trời phải vướng mà quay trở lại, dưới thì khe suối quanh co, nước chảy lộn ngược coi rất dễ sợ. Cho nên bay cao như con hạc vàng, cũng không thể qua, leo giỏi như loài khỉ vượn, khi muốn vượt qua cũng lo ngại trèo vịn. Hơn nữa giữa đưòng đi lại có ngọn đèo Thanh Nê, vừa cao vừa quanh co, có khi đi một trăm bước, phải ngoặt đi ngoặt lại đến chín lần. Những người qua đây thường phải với hòn đá này, đạp hòn đá khác, tưởng như với lên sao Sâm, đạp vào sao Tỉnh, là hai sao thuộc về địa phận xứ Thục, rồi thì mỏi quá, phải ngồi vươn ngực mà thở, vỗ bụng mà than : Không biết mình đi vào xứ Thục thì bao giờ về ? và lại sợ rằng : đường đi hiểm quá, chưa chắc có trèo được không ? Bởi vậy đường ấy vắng vẻ, không có ai đi, ban ngày chỉ có quạ kêu trên cây ; vì nhiều núi loài quạ cũng sợ lạc đường cho nên con trống con mái không dám rời nhau. Ban đêm chỉ có cuốc kêu dưới ánh trăng của đám núi hiu quạnh. Than ôi ! Đường vào Thục khó hơn đường lên trời, nghe câu đó người ta sẽ vì lo sợ mà già người đi, mặt mũi trăn lại. Nhưng đã hết đâu ! qua núi Thanh Nê, lại có những trái núi khác cao hơn, tưởng như cách trời không đầy một thước. Bởi bọn tiều phu không thể đến đó, cho nên những cây thông khô gẫy xuống, vẫn cứ treo ngược cạnh những tảng đá thẳng như bức tường. Rồi thì suối ở lưng núi tóe ra, nước trong khe bắn lên, lúc nào cũng nghe ầm ầm. Có khi nước suối dội xuống các khe mạnh quá, đá mòn rồi lở, trong khe như thể  sấm động. Cái chỗ đã hiểm như thế, những người xa lạ đến đó làm gì ! Hay là tham sự hiểm hóc của núi Kiếm Các mà muốn vào đó tranh bá đồ vương ? Cửa Kiếm Các quả có hiểm thật, nó đã cao vòi vọi, đường đi lại những đá nhọn lởm chởm, hang hốc gập ghềnh, một người đứng ở cửa ấy, muôn người không thể đi qua. Nhưng vì nó hiểm như thế, cho nên nhiều người muốn chiếm, kẻ nào chiếm được, cũng phải giao cho người tâm phúc đóng giữ. Nếu kẻ đóng giữ không phải là người tâm phúc, tất nhiên chúng sẽ hóa ra tâm địa sài lang mà phản lại mình.  Thế thì đất ấy cũng không đáng than. Huống chi, ngoài cái lo về sự phòng bị loài người, lại cái lo phòng bị loài vật nữa chứ. Ngày thì cọp dữ, đêm thì trăn dài, những con vật ấy vẫn mài nanh liếm máu, giết người như chặt cành gai vậy. Thôi cái xứ Cẩm Thành (Thành Đô) là kinh đô nước Thục kia, tuy có vui thú, cũng không bằng sớm sớm về nhà. Đường vào Thục khó hơn đường lên trời xanh. Đành phải nghiênh mình đứng trông về phía Tây mà thở dài.

THỤC ĐẠO NAN (LÝ BẠCH)

Ô kìa! Thật ! Hiểm mà cao thay!
Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời xanh !
Tam Tòng và Ngư Phù,
Mở nước trải bao thu !
Tính năm khi đã bốn vạn tám
Bóng khói ải Tần vẫn chẳng thông.
Phía Tây núi Bạch đường chim qua,
Nơi tuyệt vời cao đỉnh non Nga.
Đất sụp, núi lở, tráng sĩ chết,
Cầu đá về sau nối thang trời !
Trên là núi Cao Tiêu, như sáu con rồng ngăn bóng ác.
Phía dưới sông quằn quại, thác dội, sóng vỗ, nước chảy ngược.
Cánh chim hạc vàng không thể vượt.
Khỉ vượn muốn qua lo vịn leo !
Rặng núi Thanh Nê càng hiểm nghèo.
Khúc quanh, khúc ngoặt đường cong queo.
Với sao Sâm, đạp Tỉnh, vươn sườn nghỉ.
Vỗ bụng ngồi thở dốc, phì phèo.
Sang Tây chẳng biết bao giờ về ?
Sợ đường chon von không thể leo.
Ban ngày quạ gào trên cổ thụ,
Quạ mái bay lượn, quạ trống theo.
Cuốc kêu đêm vọng dưới trăng thâu.
Đồi núi quanh đều quạnh hiu !
Đường Thục khó khó hơn đường lên trời xanh !
Nghe nói má hồng lo nhăn nheo,
Dãy núi cách trời chẳng đầy thước;
Thông khô vách đá vẫn treo ngược !
Suối tung ầm sóng, nước sáng choang.
Khe ngòi đá chuyển như sấm vang.
Nó hiểm là như thế !
Hỡi người nơi xứ khác, làm chi mà tìm sang ?
Núi Kiếm Các cheo leo lại lởm chởm,
Một người canh cửa, muôn người khó vượt !
Kẻ giữ chẳng thân thuộc
Sẽ thành giống sói lang !
Sớm lánh cọp dữ,
Tối lánh trăn dài,
Mài nanh liếm máu,
Giết người như chặt gai !
Cẩm Thành dẫu vui thú,
Chẳng bằng về nhà thôi.
Đường qua Thục khó khó hơn đường lên trời xanh.
Nghiêng mình về Tây đành ngậm ngùi !
Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

THỤC ĐẠO NAN (LÝ BẠCH)

Y ! hu !  hi ! nguy hồ cao tai !
Thục đạo chi nan, nan vô thượng thanh thiên !
Tàm Tòng và Ngư Phù,
Khai  quốc hà mang nhiên !
Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế,
Bất dữ Tần tái thông nhân yên.
Tây dương Thái Bạch hữu điểu đạo,
Khả dĩ hoành tuyệt Nga My điên,
Địa băng, sơn tồi, tráng sĩ tử,
Nhiên hậu thiên thê, thạch sạn tương câu liên.
Thượng hữu lục long hồi nhật chi Cao Tiêu,
Hạ hữu xung ba, nghịch triết chi hồi xuyên.
Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá,
Viên nao dục độ, sầu phan viên.
Thanh nê hà bàn bàn !
Bách bộ cửu triết oanh nham loan !
Môn Sâm, lịch Tỉnh, ngưỡng hiếp tức,
Dĩ thủ phủ ưng, toạ trường than,
Vấn quân tây du hà thì hoàn ?
Úy đồ sàm nham bất khả phan !
Đãn kiến bi đô hào cổ mộc,
Hùng phi tòng thư nhiễu lâm gian;
Hựu văn tử qui đề
Dạ nguyệt sầu không sơn.
Thục đạo nan, nan vu thượng thanh thiên.
Xử nhân thinh thử điêu chu nhan !
Liên phong khứ thiên bất doanh xích.
Khô tòng đảo quải ỷ tuyệt bích.
Phi thoan, bộc lưu tranh huyên hôi.
Băng nhai, chuyển thạch, vạn tác lôi,
Kỳ hiểm giả như thử !
Ta nhĩ viễn đạo chi nhân hà vi hồ lai tai ?
Kiếm các tranh vanh nhi đôi ngôi,
Nhất phu đương quan, vạn phu mạc khai.
Sở thủ hoặc phỉ thân,
Hóa vi lang dữ sài.
Triêu ty mạnh hổ,
Tịch tỵ trường sà,
Ma nha noãn huyết,
Sát nhân như ma !
Cầm thành tuy vân lạc,
Bất như tảo hoàn gia !
Thục đạo nan, nan vu thượng thanh thiên,
Trắc thân tây vọng trường tư ta !

Chú thích:

Thục: Tên cũ tỉnh Tứ Xuyên, thủ phủ Thành Đô.

Tam Tòng, Ngư Phù. Tên hai ông tổ huyền thoại vua nước Thục xưa. Sách Thục Vương bản kỷ của Dương Hùng: Tiên tổ vua Thục là Tam Tòng, Bách Quân, Như Phù, Bồ Trạch, Khai Minh. Từ Khai Minh tính ngược lên đến Tam Tòng là 34000 năm.

Tần: xứ giáp giới nước Thục Thái Bạch: dãy núi rất cao chỗ nước Thục, nước Tần giáp nhau.

Nga My: dãy núi biên giới Thục và Tần.

Lục long hồi nhật: Sáu con rồng kéo mặt trời lại. Sách Xuân Thu mệnh lịch viết: Khi Hoàng Bá Đăng ra xứ Phù Tang là chỗ phía Nam mặt trời, cưỡi sáu con rồng bay lên bay xuống, mặt trời bị vướng không đi được, phải quay trở lại.

Cao Tiêu: Núi cao như cây nêu ở phủ Gia Định, còn gọi là núi Cao Vọng, núi chủ sơn vùng đó.

Thanh Nê: Tên ngọn núi ở Miện Châu từ Tần vào Thục.

Sâm Tỉnh: tên hai ngôi sao thuộc phận giới nước Thục.

Kiếm Các: Tên núi rất hiểm trở huyện Kiếm Các tỉnh Tứ Xuyên.

Nguyễn Du viết bài Minh Ninh Giang Chu Hành tả cảnh hiểm trở của sông nước từ Việt vào Trung. Bài thơ này  hùng tráng có thể sánh với bài Thục Đạo Nan của Lý Bạch. Vùng núi Việt Tây có nhiều khe suối. Qua nghìn năm chảy họp thành một dòng sông. Nước như đổ xuống tự trên trời cao. Trên thác nghe thấy gì ? Nghe như tiếng con rồng có cánh nổi giận, sấm động ầm ầm.  Dưới thác thấy những gì ? Thấy  như máy nỏ bật mạnh tên lìa khỏi dây. Một dòng tuôn vạn dậm không ngừng. Núi cao giáp bờ như bức tường. Giữa có những hòn đá kỳ lạ chen chúc nhau. Có những hình hòn rồng, rắn, cọp, beo, trâu, ngựa bày la liệt trước mặt. Lớn như cái nhà, nhỏ như nắm tay. Hòn cao như đứng, hòn thấp như nằm ngủ. Hòn thẳng như chạy, hòn cong như xoay vòng. Nghìn hình, vạn vẻ không nói hết. Thuồng luồng, ly long ra vào thành vực sâu. Sóng vỗ bọt phun ngày đêm ầm ầm. Nước lụt mùa hè vừa dâng, nước sôi sục. Một mạch ba ngày đi, lòng chơi vơi. Lòng chơi vơi vì sợ nhiều. Nguy hiểm thay chìm sâu không đáy. Mọi người đều nói đường trên đất Trung Hoa bằng phẳng. Hóa ra đường Trung Hoa lại thế này! Sâu hiểm quanh co giống lòng người. Nguy vong ngiêng đổ đều là do ý trời. Tài cao văn chương thường bị ghen ghét. (Ý nói chuyện Lý Bạch bị Cao Lực Sĩ và Dương Quốc Trung ghen ghét). Thịt người là thứ ma quỷ thích nhất. Sóng gió làm sao yên hết được. Giữ trung tín nhưng rốt cuộc không đủ cậy nhờ. Nếu không tin câu “ra khỏi cửa đều là con đường nguy hiểm”. Thì hãy thử nhìn dòng sông cuồn cuộn này.

ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG MINH GIANG

Vùng núi Việt Tây nhiều khe núi,
Qua nghìn năm chảy hợp thành sông.
Nước như đổ tự trời cao xuống,
Trên thác nghe gì chăng ?
Rồng thiêng nổi giận sấm đùng đùng.
Dưới thác nghe thấy gì ?
Máy nỏ bật nhanh tên lìa dây,
Một dòng vạn dậm không ngừng chảy.
Núi cao giáp bờ như tường thành,
Ở giữa đá lạ chen chúc nổi.
Như rồng, rắn, cọp, beo, ngựa, trâu la liệt trước mặt bày.
Lớn như cái nhà, nhỏ như nắm tay,
Hòn cao như đứng, thấp ngủ say.
Hòn thẳng như chạy, cong vòng xoay,
Nghìn hình vạn vẽ không nói hết,
Giao long ra vào thành vực sâu.
Sóng vỗ phun bọt ngày đêm ầm ầm tiếng,
Nước lụt hạ dâng tuôn trào sôi.
Một ngày ba ngày lòng bồi hồi.
Bồi hồi lo sợ điều trông thấy,
Nguy thay hiểm thay chìm sâu không đáy.
Ai cũng nói đất Trung Hoa bằng phẳng,
Hóa ra đường Trung Hoa lại thế này.
Sâu hiểm quanh co giống lòng người,
Nguy vong, nghiêng đổ đều ý trời.
Tài cao văn chương thường bị ghét,
Thịt người là thứ ma quỷ thích,
Làm sao dẹp yên hết phong ba ?
Trung tín thảy không nhờ cậy được.
Không tin: “Ra cửa đường hiểm nguy”
Hãy  ngắm dòng sông cuồn cuộn chảy.

Nhất Uyên dịch thơ
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

MINH NINH GIANG CHU HÀNH

Việt Tây sơn trung đa giản tuyền,
Thiên niên hợp chú thành nhất xuyên.
Tự cao nhi hạ như bát thiên,
Than thượng hà sở văn ?
Ứng long kích nộ lôi điển điển,
Than hạ hà sở kiến ?
Nổ cơ kịch phát thỉ ly huyền,
Nhất tả vạn lý vô đình yên.
Cao sơn giáp ngan như tường viên,
Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên.
Hữu như long, xà, hổ, báo, ngưu, mã la kỳ tiền.
Đại giả như ốc, tiểu như quyền.
Cao giả như lập, đê như miên,
Trực giả như tẩu,khúc như tuyền.
Thiên hình vạn trạng nan tận ngôn.
Giao ly xuất một thành trùng uyên,
Dũng đào phún mạt đạ tranh hôi huyên.
Hạ lao sơ trướng phí như tiên.
Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền.
Tâm huyền huyền đa sở úy.
Nguy hồ đãi tai cốt một vô để.
Cộng đạo Trung Hoa lột thản bình,
Trung Hoa đạo Trung phù như thị !
Oa bàn khuất khúc tự nhân tâm,
Nguy vong khuynh phúc giai thiên ý.
Cao tài mỗi bị văn chương đố.
Nhân nhục tối vi ly mị hỷ,
Phong ba na đắc tận năng bình.
Trung tín đáo đầu vô túc thị.
Bất tín “xuất môn giai úy đồ “
Thị vọng thao thao thử giang thủy.

Chú Thích:
Minh Ninh giang:  sông Minh Giang chảy qua Minh Ninh.

Ứng long: Rồng hiện.

Trung tín: Đường Giới đời  Tống: Bình sinh thượng trung tín, Kim nhật nhiệm phong ba: Ngày thường giữ trung tín, Hôm nay mặc kệ phong ba.

Trong thơ gửi Ngô Tứ Nguyên tức Ngô Thời Vị khi Thời Vị viết bài họa thơ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu: Lý Bạch viết: Trước mắt có cảnh không tả được, Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu. Ngô Thời Vị xưng danh và làm thơ :
Sứ thần nước Việt Ngô Thời Vị,
Chẳng sợ làm thơ trước cảnh này.
Nguyễn Du đáp lời Ngô Thời Vị: 
“Bên sông ngại viết thơ Anh Vũ ,
 Còn nhớ Trung nguyên có bậc thầy.”

Nguyễn Du chịu nhiều ảnh hưởng thơ Lý Bạch, nhưng Nguyễn Du không sao chép, mà đào sâu, khai phá thi ca bậc thầy. Đọc những dòng thơ Nguyễn Du: Đường Trung Hoa không bằng phẳng mà quanh co, sâu hiểm như lòng người. Trung tín thảy không nhờ cậy được. Cụ Nguyễn Du nhắn nhủ gì đây:  đó là di chúc ngoại giao đối với Triều đình Trung Quốc của cụ. 250 qua, thời thế chế độ chính trị đổi khác, nhưng lời cụ Nguyễn Du vẫn sâu sắc như nói với người đời nay.

Paris ngày  25-7-2015
PHẠM TRỌNG CHÁNH

*Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét