Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Thảo Trường - Trong Hang


“Bị can” nguyên là chánh án toà thượng thẩm đại hình. Ông chánh án già của Miền Nam đã từng ngồi xử không biết bao nhiêu vụ án trong suốt mấy chục năm ở khắp ba miền và đã hưu. Ông cũng bị cộng sản đưa đi tù ngoài Việt Bắc xa xôi. Ông già quá rồi nên cai tù cho ông nằm nhà không được đi lao động. Trong phòng giam xảy ra vụ mất cắp mấy tán đường. Nạn nhân bị mất của là anh tù Cu Tý nằm cạnh ông chánh án. Anh ta bị bắt ngày 30 tháng 4 lúc mới mười bảy tuổi về tội vũ trang chống phá cách mạng. Tội này cũng phải đưa đi cải tạo ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Hôm anh tù chính trị bé tí này ôm chiếu tới nằm cạnh ông chánh án, hai người tù bèn hỏi chuyện nhau. Ông chánh án thấy tù nhân là trẻ con bèn thắc mắc:
– Cháu bị tội gì?
Cu con khoái kể tội của mình lắm, bèn khoe:
– Thưa ông, cháu tội phản cách mạng!

– Là sao?
Cu Tý như hăng lên:
– Cháu võ trang súng M. 16 chống chế độ cộng sản, cháu là tiểu đoàn phó Phục Quốc. Ông chánh án ái ngại nhìn đứa trẻ, nó tinh ranh nháy mắt với ông cụ:
– Ngày 30 tháng tư các chú sĩ quan phe mình vứt bừa bãi súng ống ở trường học, cháu và lũ bạn nhặt... chơi.
Ông già như hiểu ra, lắc đầu ái ngại:
– Có thế mà cũng đi tù. Có thế mà cũng bị đưa ra ngoài Bắc này?
– Dạ, chú cháu đến Ban Quân Quản xin bảo lãnh cho cháu về thì bị các đồng chí dọa bỏ tù. Họ nói “anh không biết dạy cháu để nó đi cầm súng chống cách mạng thì anh cũng có tội nữa, hãy lo thân anh cho xong còn đòi bảo lãnh cho ai!” Chú cháu sợ quá bỏ cháu luôn.
Ông cụ cười hiền:
– Không ai bỏ cháu đâu, chỉ sợ cách mạng tí thôi. Thế ai thăm nuôi cháu? Đồ ăn nhiều lắm mà.
– Mẹ cháu gửi quà cho.
– Thế... bố cháu đâu?
– Bố cháu mất tích trong tháng di tản chiến thuật từ Miền Trung về. Sau 30 tháng Tư mẹ cháu đi tìm, hỏi thăm tin tức khắp nơi không thấy. Hỏi cán bộ họ nói “Thế thì chạy theo đế quốc Mỹ rồi, nếu không chết dấm chết dúi ở xó xỉnh nào đó!”
Ông chánh án tỏ vẻ ái ngại cho người bạn tù bé nhỏ, nhưng nó tỉnh bơ:    
– Sức mấy bố cháu chết dấm chết dúi. Bố cháu làm thượng sĩ, không chừng bây giờ đang ở bên Mỹ.  
Rồi nó tiếp:            
– Bố bỏ đi thì còn có mẹ, nếu chẳng may mẹ bỏ đi nữa thì có dì hàng xóm, ông ạ.
Thằng bé còn giở gói quà mới nhận ra khoe với ông chánh án, nó cầm một cục đường tán bỏ vào cái ca nhôm, xong nó bọc mớ đường bằng ba bốn lần bao ni lông, xong nó bỏ gói đường đó vào trong lon gô đậy nắp lại, xong nó để lon gô vào cái hộp nhựa, xong nó bỏ hộp nhựa vào trong cái bao cát, xong nó bỏ bao cát vào lại cái rương, xong nó cất cái rương lên xích đông. Rồi nó ngồi xuống lấy bình nước định rót vào cái ca nhôm có cục đường mới bỏ vào trong ấy. Nhưng nghĩ sao đó nó lục tìm cái muỗng ở đầu nằm, dùng muỗng xắn một phần tư cục đường tán đưa cho ông cụ:             
– Ông nhấm với cháu tí đường cho nó ngọt miệng.
Ông chánh án run run đưa tay cầm mẩu đường thằng bé cho. Đã từ lâu lắm trong cơ thể ông thấy thèm thèm chất ngọt, thèm đến độ khi nhấm một hạt muối ông cũng cảm thấy nó ngòn ngọt. Trong khi ông chánh án nhấm nhấm mẩu đường trong miệng thì thằng Cu Tý chế nước vào cái ca nhôm rồi dùng muỗng quậy cho cục đường tan ra. Nó đưa cái muỗng không lên miệng mà mút:        
– Cháu phải ăn cục đường kiểu pha nước như thế này cho nó... lâu hết và cho nó thấm dần vào tận từng tế bào mình.
Ông chánh án nghe thằng bé nói rất là thấm thía bởi chính trong cơ thể ông hiện cái vị ngọt của mẩu đường cũng đang lan tràn thấm nhập đến tận hang cùng ngõ ngách qua từng đường gân thớ thịt mạch máu trí não ông. Suốt một đời ở ngôi cao, ăn sung mặc sướng, nhưng chưa bao giờ ông chánh án tòa thượng thẩm áo đỏ có được cái vị giác và cảm giác ngon lành tuyệt hảo như thế. Nhưng mẩu đường trong miệng ông tan nhanh quá và ông chánh án càng thấy thằng bé lanh lợi và tốt bụng giỏi. Nó pha cục đường trong nước để nước đường dễ thẩm thấu hơn trong hệ thống tiêu hóa. Và đường pha trong nước cũng dễ dàng chừng mực sử dụng hơn, mình có thể kéo dài cái thời gian thưởng thức ra lâu hơn. Bằng cớ là ly nước đường của nó còn nguyên chưa uống trong khi nó mới chỉ mút cái muỗng vài lần là đã có được cái cảm giác ngon lành, thú vị, khoẻ khoắn, sung sướng, hạnh phúc! Hai ông cháu trở nên thân nhau hơn, câu chuyện của họ chuyển sang “luận” về đường. Ông chánh án hỏi:
 – Sao người ta lại gọi là đường tán?         
 Thằng cháu rành rẽ sự đời:            
 – Tại vì cục đường được đổ khuôn vuông vắn trông giống như tán gạch, tán đá, kê dưới gốc cột nhà.
Ông chánh án chợt hiểu ra, có những điều ông không biết vì không có trong chương trình giáo dục của trường đại học luật khoa Paris, và ông cũng không biết được vì ông chỉ sống ở tầng lớp thượng lưu, nơi đó trong các nhà bếp không có đường tán. Chất ngọt của mẩu đường đã vào trong cơ thể ông dường như đã làm cho ông yêu đời hơn những ngày chán chường bi thảm bịnh hoạn chờ chết vừa qua. Ông lại muốn học hỏi thêm:          
– Thế tại sao lại gọi là đường thẻ?  
Thằng cu bí, nhưng đã lỡ làm kẻ trí thức hiểu biết nhiều nên nó cũng trả lời phứa phựa:
– Tại nó giống cái thẻ. Cũng như đường bát ở Miền Trung, đường móng trâu ở Miền Nam, vì đổ khuôn hình cái bát và khuôn hình móng chân trâu... ngoại có hiểu không?     
Nó hăng say lên lớp và nhất là cu cậu lại còn tiến lên thân mật... ngoại, ngoại, cháu, cháu, nên ông ngoại cũng cảm thấy mình tiếp thu lời giảng dạy của nó một cách dễ dàng. Ông chánh án gật đầu:
– Hiểu, nghe cháu giải thích tôi mới biết.    
Cu Tý phân bua:       
– Cháu mới học được những cái đó ở trong tù, gia đình cháu cũng chưa bao giờ ăn đường tán, nay nhờ cách mạng từ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa vào cháu mới biết lắm thứ. Rồi nó còn khuyến học ông ngoại:        
 – Chịu khó ở tù một thời gian nữa ngoại sẽ học được lắm điều hay ho!    
Thế rồi một tuần lễ sau thì anh Cu Tý phát giác ra gói đường mẹ nó mới gửi cho cất trong rương đã bị mất ba tán. Sự việc đến tai cán bộ nhà nước, cán bộ bèn tập họp cả đội lại ở vườn sắn chỉ đạo cho ban tự quản tối về phòng giam phải sinh hoạt kiểm điểm, làm cho rõ, tìm cho ra kẻ gian, đã ăn cắp ba tán đường của một trại viên tuổi trẻ. Cán bộ còn nói tầm mức quan trọng của “vụ án” là “cực kỳ dã man” và “tội ác có tính bản chất của giai cấp bóc lột”. Trong khi tuổi trẻ đăng hăng say lao động sản xuất ngoài đồng thì kẻ xấu chây lười ăn bám đã nỡ tâm lấy đi tài sản của anh ta. Cho nên đây không phải là việc xấu mà còn là tội ác. Những người bị tình nghi gồm có những người đã ở nhà trong tuần lễ vừa qua như trực phòng, mấy anh khai bịnh nghỉ, mấy anh ở nhà làm việc khai báo và ông lão già yếu nằm cạnh kẻ mất trộm. Sau khi phân tích và loại trừ, những nghi can kia đã được coi như vô can. Chỉ còn ông chánh án nằm cạnh nạn nhân được coi như bị can, phải đưa ra xử trước đội. Ban tự quản điều khiển và tổ chức các đêm kiểm thảo in như một phiên toà vậy. Ba chục tù nhân ngồi xếp bằng trên sạp ngủ hai bên, bị can là ông chánh án già phải ngồi trên một cái ghế thấp giữa nhà. Anh thư ký đội kê một cái hộp làm bàn viết, anh ngồi xếp chân bằng bằng, tay cầm viết, mắt mang kiếng lão. Anh được ưu tiên sử dụng nguyên một ngọn đèn dầu cho đủ ánh sáng phục vụ sự đầy đủ chính xác của biên bản. Không khí như đọng lại, muỗi bay vo ve, mùi hôi hám của phòng giam tối mù mù nồng nặc. Đâu đó ngoài cửa sổ trong bóng tối có ai đứng nhìn vào theo dõi chăng? Vụ án kéo dài đã gần một thế kỷ. Tất cả mọi người đều phải lần lượt phát biểu, không trừ một ai, gọi là đóng góp ý kiến xây dựng vì đây là học tập cải tạo. Bị can thì quả quyết mình không bao giờ làm những việc đê tiện như thế. Người tù trẻ tuổi mất của cũng nói anh ta không nghi cho ông ngoại và cũng không nghi cho ai. Nói thế anh bị sửa ngay, thứ nhất là anh phải nghi cho một người nào đó, anh có mất ba tán đường thì phải có người lấy cắp ba tán đường, nếu anh không nghi cho ai thì chẳng hoá ra anh không bị mất cắp sao, chuyện bịa sao? Cu Tý nghe nói thế đâm hoảng bèn nói có nghi nhưng không dám nghi cho ai sợ không đúng mang tội! Thứ hai đây là đang học tập cải tạo, tất cả đều bình đẳng ở chỗ tất cả đều là những kẻ có tội với nhân dân với cách mạng, không có ông cháu gì cả mà chỉ có anh anh tôi tôi, thế là Cu Tý phải gọi bị can là anh và xưng tôi! Anh đội trưởng còn nói cán bộ bảo “tất cả các anh đều bình đẳng, nghĩa là ngang nhau, bằng tội nhau, chỉ có vấn đề ai tiến bộ thì sẽ vượt lên để đi đến chỗ cải tạo tốt và được trả tự do về nhà”. Vì thế có một vài anh em vì khờ dại và mong về quá nên đã “đóng góp” hơi tận tình tưởng sẽ được coi là tiến bộ. Tình trạng này nó có thể xảy ra từng lúc nhất là những khi sức khoẻ và tinh thần suy nhược, nhưng khi qua cơn thì sự phục hồi nghị lực sẽ giúp cho người ta vượt được sự sa ngã đó. Ban đêm, sau mỗi phiên toà luận tội, đèn đóm đã tắt ngấm, phòng giam âm u, nghe đâu đó những tiếng thở dài, chép miệng, có cả những tiếng sụt sịt và cả tiếng nấc, về khuya còn nghe những tiếng ú ớ hay những câu nói mê lảm nhảm gì đó không rõ, đôi khi còn có cả tiếng thét hay kêu rú lên như heo bị thọc huyết vậy, ghê gớm lắm! Anh Cu Tý thì buồn lắm, nó lựa lúc không ai để ý để thanh minh với ông chánh án:        
 – Cháu thề là không thưa kiện gì ngoại cả, cháu chỉ nói chuyện với mấy anh em trong đội là cháu bị mất ba tán đường, không hiểu sao đến tai cán bộ thành to chuyện, làm khổ ông ngoại, làm mất danh dự ông ngoại, cháu buồn lắm.
Ông chánh án cũng xúc động không nói được gì, ông bậm môi cắn răng kìm hãm cho nỗi đau và nỗi nhục nhã không bật ra ngoài. Anh Cu Tý chậm rãi nói:
– Trong đội có anh thù ông ngoại, cũng có anh đố kỵ với chức chánh án của ông ngoại ngày xưa, cũng có anh dở hơi nói rằng phải vạch mặt chỉ tên ông ngoại để gỡ... danh dự cho tập thể đội kẻo mang tiếng cả đội ăn cắp! Ôi, cháu không hiểu danh dự là cái gì trong nhà tù này!           
Ông chánh án như hết chịu nổi, ông xua tay ra dấu cho anh ta ngưng nói. Ông mếu máo:
 – Cháu ạ, ta cám ơn cháu đã nói những lời tốt với ta, ta nghĩ có lẽ cuộc đời làm chánh án của ta có thể đã có những lầm lẫn gây oan cho người vô tội, nay ta bị báo oán lãnh hậu quả nhãn tiền. Ta cũng còn nhớ đời mẩu đường tán mà cháu đã mời ta hôm trước.
Anh Cu Tý như chợt nhớ ra:           
– Ấy, cũng vì hôm trước cháu đưa gói đường cho ngoại xem và mời ngoại một mẩu cho nên có anh trong đội nói rằng “ngoại là người đã thấy, đã nếm, biết chỗ cất đường, quen mui thấy mùi ăn mãi” bèn quả quyết chỉ có ngoại là thủ phạm.
Ông chánh án toà thượng thẩm như bị từng mũi nhọn đâm vào tim mình. Ngày xưa khi xét xử người, có lúc ông đã có những suy luận như vậy. Suốt một tuần lễ, tối nào cũng “ngồi đồng” nên cả đội thấm mệt, nhưng vụ án bế tắc vì bị can vẫn khăng khăng quả quyết là mình vô tội, không chịu tự giác nhìn nhận tôi lỗi, cuối cùng cán bộ quản giáo đã nói với cả đội:        
 – Vì muốn cho anh ta nhìn thấy khuyết điểm của mình mà sửa chữa để thành người tốt nên mới cho tập thể đội sinh hoạt giúp đỡ anh ta, nhưng anh ta đã ngoan cố ù lì làm mất thời gian của đội. Dù anh ta không nhận tội thì anh ta cũng vẫn là một kẻ cắp. Trại cũng vẫn có biện pháp và hình phạt dành cho kẻ cắp. Trước kia anh ta quen xử người thì nay anh ta phải bị người xử. Nếu anh ta bị oan thì cũng là tốt vì như thế để anh ta thấy rằng khi xưa anh ta đã bỏ tù oan bao nhiêu là người. Bao nhiêu là người đã khổ vì anh ta? Bao nhiêu là người đã chết vì anh ta.
Thế là sau đó ông chánh án toà thượng thẩm bị điệu ra sân nghe đọc quyết định thi hành kỷ luật trước toàn trại: “Cùm một chân trong nhà kỷ luật mười bốn ngày, hưởng mức ăn C, cắt thăm gặp gia đình sáu tháng, cán bộ giáo dục và trực trại thi hành quyết định này”. Đọc xong trật tự còng tay ông chánh án dẫn đi về phiá phòng kiên giam. Ông cụ lầm lũi cúi đầu thất thểu bước đi.                                            
ª
Phòng kiên giam như cái hang chuột khoét vào vách núi. Mỗi lỗ một người nằm trên tấm ván, đầu quay vào trong chân thò ra phía ngoài luồn vào lỗ cùm khóa lại. Đóng cửa, cài then ngang rồi cũng khóa cửa lại. Muốn thoát phải ngồi dậy. Mở được cùm rút chân ra rồi khoét núi bằng móng tay mà chui ra. Cai tù khi nhốt người nào vào đó cũng đều chỉ cách cho biết như thế. Họ tin như vậy. Không ai thoát được. Ấy vậy mà kiểu hầm giam này ở dãy núi Hoàng Liên Sơn Yên Báy, cũng bị một đại úy tù binh thoát ra bốn lần, đạt kỷ lục vượt ngục nhiều lần nhất. Mỗi lần thoát ra rừng núi, ông bị chúng săn đuổi bắt lại được đem về tra khảo và giam vào hầm cũ. Chúng thay cùm khác, thay cửa khác, thay khóa khác; rồi ngồi rung đùi, uống trà, hút thuốc lào, kháo nhau: “Phen này thì có... cánh cũng không thóat!” Ông đại úy không có cánh, và cũng chẳng nói chẳng rằng, mấy đêm sau ông lại biến mất. Sáng ra bọn cai tù thấy cánh cửa hầm giam vẫn khép nhưng không có khóa, mở ra thì chẳng có tù nào trong đó cả. Đến lần vượt ngục thứ ba của ông đại úy, bộ nội vụ Hà Nội phải cử một toán chuyên môn xuống tận nơi xem xét cái hầm giam tối tân nhất của chúng bị vô hiệu hóa. Toán chuyên môn chụp hình, đo đạc, rồi sờ mó từng ly từng tý cái hầm giam. Họ bàn bạc nhau, tranh cãi nhau, có anh còn đem cái hiểu biết kỹ thuật giam người học được từ bên Liên Sô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em ra mà phân tách đánh giá và áp dụng vào thực tế sự vụ. Nhưng khi họ hỏi cung đại uý thì anh không nói gì cả, chúng bèn đánh anh gẫy chân trái và đập dập các ngón tay của anh.         
 – Để xem mày có trốn được lần nữa không!          
Chúng lại thay cùm khác, cửa khác, ổ khóa khác mà lần này nghe nói là khóa nhãn hiệu nước ngoài, hình như của Nga hay của Tàu gì đó. Cũng thời gian này ông đại úy đã bị bệnh tiêu ra máu, có lần cai tù đem củ sắn vào cho ông dùng bữa cơm, ông đã quệt mấy ngón tay vào đít mình rồi giơ ra cho hắn xem cục cứt máu, anh cai tù sợ quá đóng sầm cửa, khóa lại, rồi ù té chạy, khạc nhổ tùm lum, chửi tục tùm lum, rằng bọn “ngụy” ăn ở bẩn thỉu không có vệ sinh nếp sống văn minh văn hóa mới! Nhưng mà trời đất ơi! Không tin xuống xã Việt Hồng mà coi ông đại úy đã thoát ra khỏi hầm một lần nữa, một lần cuối cùng, ông chỉ mở cửa bò ra tới đường dẫn nước gần đó rồi nằm gục cho đến lúc trời sáng thì bị chúng ra bắt lôi về. Buổi trưa hôm đó, chúng khiêng ông đại úy trên một cái “ki” khiêng đất, trên đắp chăn đỏ, hai chân thõng xuống đong đưa. Chúng nói là chuyển sang trại T7, nhưng đến chân đèo, chúng đã bắn vào lưng ông rồi giao cho trại T7 chôn, phao lên rằng tù binh ngoan cố trốn trại bị truy kích bắn chết! Tù binh đại úy, thuộc ngành an ninh quân đội biệt phái làm việc ở “Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên”, cùng với “Ủy Ban Quốc Tế 4 Nước”, phối hợp kiểm soát việc thi hành ngưng bắn theo hiệp định Paris, một hiệp định hòa bình được đàm phán và soạn thảo bởi hai chính phạm: Kissinger và Thọ! 
(Còn tiếp)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét