Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Mai Văn Phấn - Người Đi Tìm Ánh Sáng Của Thơ


Cuốn sách "Thơ cần thiết cho ai" của tác giả Nguyễn Đức Tùng mà Nhã Nam vừa xuất bản trong nước là tập hợp các bài tiểu luận cùng tên đăng rải rác trên các trang mạng hải ngoại và trong nước trong mấy năm qua.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu lời tựa của nhà thơ Mai Văn Phấn được in trong tập sách. 
Mười gương mặt thơ trong tập sách này được Nguyễn Đức Tùng chọn ngẫu nhiên, ngỡ như nhà thơ vô tình thắp lên mười ngọn nến trong màn đêm mờ mịt các khuynh hướng, quan niệm thơ. Mỗi ngọn nến ấy tỏa một cường lực, soi bằng ánh sáng riêng biệt, chan hòa, ngự trị đời sống này, cho con người nhận đường, nhìn rõ thiện-ác và hướng đến những mục đích cao đẹp. Như những gợi ý nhẹ nhàng và hết sức tự nhiên trong cuộc tri nhận thế gian đầy mông lung và khó khăn, một câu hỏi đặt ra cho những ai cầm cuốn sách, với tiêu đề tưởng chừng quen quen, nhưng rất độc đáo và lạ lẫm: Thơ Cần Thiết Cho Ai! 

Nguyễn Đức Tùng là nhà thơ, dĩ nhiên vậy, nhưng ông không bị lệ thuộc vào văn bản tác phẩm, cảm xúc, cũng như không bị ràng buộc bởi những duyên cớ, hay có thể gọi là hệ lụy của thi pháp. Ông đi tìm nguồn sáng phát ra từ mỗi gương mặt, từ mỗi bài thơ, câu thơ của họ. Ông tiếp cận cẩn trọng, kỹ càng những di sản mà mười gương mặt thơ để lại, như nâng niu từng viên ngọc, rồi đặt chúng ngay ngắn vào mỗi chiếc hộp. Và..., ông ra đi! Sự “ra đi” của ông để được sống hồn nhiên và tự nhiên, sống hết mình để thấy ánh sáng từ những gương mặt kia lan tỏa, soi rọi lại. Ánh sáng ấy đã đến với ông trong mọi tình huống, trạng thái ở mọi cung bậc đời sống. Lúc đang lái xe bỗng nghe được bài thơ của nhà thơ W.C. Williams, ông “nổi hứng chạy chậm lại rồi tấp vào giữa hai bụi gai có nhiều trái dâu blackberries, gần một hồ nước, lao xao bầy vịt trời hạ cánh”. Hay vô tình gặp một “tháng sáu lạ lùng, trời đang nắng bỗng lạnh bất ngờ, tuyết rơi trắng xóa”, và thơ Mary Oliver đã cuốn hút ông, cứu ông thoát khỏi sự giả trá, đe dọa, thậm chí thôi thúc ông tiến về nơi nguy hiểm để làm lại, đến với một đích mới. Chối từ cách tiếp cận công thức, nhờn mòn (cliché) sẵn có của chính mình, ông thường đến với mỗi tác giả bằng con đường riêng, đôi khi độc đạo. Người đọc ngỡ như đã ông trải nghiệm cùng Patrick Lane trong đời sống khốn quẫn, gặp tai nạn khi đang lái xe “Cuộn tròn và xe tải/ Lăn quay cuồng bên đồi”, bị chủ giận dữ đuổi việc. Và khi ấy, ông được thấy vẻ đẹp thơ Patrick Lane như báu vật “tình cờ xuống trên tay” như thiên sứ, như cứu rỗi. Ông sẻ chia, đồng hành với William Stafford trên “Đường qua bóng tối” để có được những liên tưởng rất độc đáo và hợp lý này: “Thơ Stafford không làm người đọc sợ hãi, trái lại chúng kéo dài đời sống của chúng ta, như phong tục kỵ giỗ của người Việt Nam. Có lẽ vì thế mà ông cho tôi cảm giác về một người thân trong gia đình. Tôi tưởng tượng ông vừa viết xong những câu thơ trên đây bên cửa sổ, căn nhà thôn quê yên tĩnh, ngoài sân vẳng lại tiếng cười đùa trẻ con trong buổi chiều ấm áp, rồi sắp xếp lại giấy tờ trên bàn, chuẩn bị bước ra đường.” Nhưng với Wallace Stevens, Nguyễn Đức Tùng đã đến với thơ ông trong một trạng thái nghiêm cẩn như cử hành một nghi thức tôn giáo, “vừa là nguồn rung động trước vẻ đẹp, vừa là nỗi thương xót đối với con người, sự chiêm nghiệm thanh khiết về hạnh phúc”. 
Lần giở, chiêm ngưỡng mười gương mặt thơ trong cuốn sách này, tôi hình dung nhà thơ Nguyễn Đức Tùng là người đi gỡ những “mối nhân duyên” trong nhân thế, thay vì “se duyên” như nhiều người đã làm. Bởi ông không chú tâm bình thơ, không khêu gợi những bí ẩn tiểu sử tác giả, mà dõi tìm ánh sáng của bài thơ, câu thơ đang lan tỏa, chiếm lĩnh, chi phối đời sống thường nhật. Dưới con mắt của Nguyễn Đức Tùng, bài thơ, câu thơ hay và hấp dẫn đang được tồn tại sống động như một sinh linh độc lập. Chúng có số phận riêng, và, luôn chuyển động song hành cùng đời sống chúng ta, tựa người thân luôn có mặt để sẻ chia, tri ngộ trong từng hoàn cảnh cụ thể. “Trước khi biết lòng tử tế là gì/Bạn phải mất đi nhiều thứ”. Câu thơ ấy của Naomi Shihab Nye, được ông dẫn chiếu, không còn là sợi dây mong manh nối giữa hai nền văn hóa Đông và Tây, mà trở thành một triết lý sống và đốn ngộ của đời sống nhân loại. Nếu không đọc kỹ, có thể ai đó cho rằng, Nguyễn Đức Tùng đã viết lan man, viết như nhàn đàm, tản mạn về thơ, và một số đoạn tựa như tùy bút, hồi ký. Đây là một chủ ý độc đáo của tác giả, cố ý “lơi lỏng dây cương” để “con tuấn mã” phê bình chạy chậm lại nhặt những ngọn cỏ xanh non tự nhiên của thơ. Trong lời kết bài về thơ Naomi Shihab Nye ông viết: “Nếu điều này làm cho bạn có chút nghĩ ngợi mông lung, ngay giữa một ngày bận rộn, chuyện này lan qua chuyện khác, đó mới thật là thơ. Ngoài ra, thì không phải.”. 
Tôi cảm nhận bàn tay vô hình của Nguyễn Đức Tùng đang khéo léo gỡ những “mối tơ duyên” bòng bong của đời sống vốn ẩn nấp, ngủ sâu trong thơ ca, hoặc chỉ mới xuất hiện qua lớp sương mù của nghệ thuật văn bản. Những mối nhân duyên ấy đan kết lại, trôi lơ lửng trước mắt chúng ta, giờ được gỡ ra cho chúng phân tán, bắt đầu những duyên khởi khác, hợp nhất trong những vận hội khác. Trong nhiều câu thơ, bài thơ khi được “gỡ ra” theo cách của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, bạn đọc sẽ thấy ánh sáng  tỏa ra mạnh hơn, dễ nhận biết hơn. 
Từng tác phẩm của mỗi nhà thơ trong cuốn sách này đều gắn với những kỷ niệm, thậm chí riêng tư của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Nó thực sự là những sẻ chia, nơi níu bám, có lúc là mộng báo, là căn để trong những biến động cuộc đời ông. Trong những ngày được ân hưởng hạnh phúc, và cả trong những thời khắc được sống, phải sống, Nguyễn Đức Tùng đã được ánh sáng thi ca soi chiếu và che chở. Ông đã ghi chép lại, vừa cẩn trọng và tự nhiên, vừa ngẫu nhiên và chủ ý, để minh chứng cho những điều hết sức bình dị và thiêng liêng của thơ ca. 
Hải Phòng, 12/3/2014

M.V.P

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét