Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Võ Phiến - Nguyên vẹn (Kỳ 20)


Lần này Dung gặp Nghĩa cũng bất ngờ như lần trước trên đảo Guam.
Dung đang ngồi dưới bóng cây sồi. Nghĩa học Anh ngữ, cũng dưới bóng cây ấy cùng với gần chục người nữa. Người con gái nghe tiếng nói, tiếng đọc Anh ngữ ở sau lưng, nhưng nàng không ngoái nhìn. Một lúc lâu, để ý đến một giọng quen quen, nàng quay lại, thì thấy quả là Nghĩa.

Anh ta kêu lên một tiếng nhỏ, nhảy bật dậy, chạy lại chỗ nàng:
— Nãy giờ tôi vẫn ngờ ngợ thấy giống bà, nhưng không tin là bà. Sao kỳ vậy?
— Sao kỳ?
— Thì bà đi California, tại sao lại ngồi đây?
— Ờ!... Thôi. Cái đó hơi dài dòng, để rồi nói sau. Thế anh tới đây được bao lâu rồi?
— Bốn hôm. Nếu biết bà có mặt ở trại này tôi đã chạy đi tìm rồi.
Dung suýt buột miệng hỏi: “Chi vậy”, nhưng nàng kịp thời ngừng lại, chỉ mỉm cười. Anh chàng lúc nào cũng nhanh nhẩu, vô ý tứ!
Chợt một ý nghĩ thoáng qua trí nàng: Nghĩa đến đây bốn hôm, vậy thì... Dung nghĩ tới mẫu đối thoại giữa người thanh niên Việt và người con gái Mỹ đã nghe cách đây hai hôm, một buổi trưa, dưới bóng cây tùng. Người thanh niên hôm đó có phải là Nghĩa?
Nàng cảm thấy khó chịu, rất khó chịu. Nàng hết sức tò mò muốn biết điều ấy, nhưng thấy không tiện hỏi. Biết Nghĩa đang nhìn nàng và đang ngờ nàng có điều suy nghĩ, Dung vội đánh trống lảng, nói sang một chuyện khác. Rồi một lúc, không hiểu sao nàng nói tới tiếng sáo đêm qua. Nghĩa chợt hưởng ứng sốt sắng:
— Ờ. Thằng cha thổi sáo làm mình nhớ nhà kinh khủng.
— Ủa. Anh có nghe hả.
— Có chứ.
— Khuya lắm mà.
— Thì tụi này cũng thức khuya được vậy chứ? Bộ mình bà biết... trằn trọc hả?
Dù không biết Nghĩa nói bóng nói gió đến chuyện gì nàng cũng thấy vui vui... Đã lâu, từ ngày đến trại này nàng lẻ loi, không được nghe những câu nói châm chọc nghịch ngợm thân mật như thế. Tự dưng người con gái cảm thấy tin cậy, thoải mái, dễ chịu. “Người này... không phải như bao nhiêu người khác, như tất cả những người khác trong trại! Một người bạn cũ ở nơi xa xứ, thật là kỳ diệu, quí báu.” Một câu bông đùa bỗng nhiên làm nàng thấy bớt côi cút, lơ láo.
— Nhưng ở đâu mà anh nghe được?
— Tụi này tới muộn, họ cho ở tận trong khu III. Nhưng mình không có gia đình gì hết. Một thân một mình dễ ợt, cứ tiện đâu ngủ đó. Hôm qua mấy đứa rủ sang khu bên này chơi, khuya lười biếng về, ở lại ngủ luôn. Nửa đêm nghe thằng cha thổi sáo hay quá...Thôi chúng ta đi chỗ khác nói chuyện; để cho đám này học hành, đừng ngồi đây quấy rầy họ tội nghiệp.
Nghĩa chạy lại chỗ cái bàn pic-nic tạm dùng làm bàn học, quơ lấy mấy tờ giấy và cây bút chì của mình vẫn còn để đấy, chào mọi người rồi rủ Dung đi về phía khu VI. họ tiếp tục câu chuyện về tiếng sáo:
— Mấy bữa nay tụi nó thu băng dữ quá.
— Tụi nào?
— Mấy đứa bạn quen. Mà nói chung, quen hay không quen, thiên hạ đổ ra thu băng quá trời. Tân nhạc, cải lương, dân ca v.v... mạnh ai nấy thu, để đem theo khi xuất trại.
Dung bảo:
— Bỏ nước ra đi mới thấy nhạc của mình là quí.
Nghĩa phá lên cười:
— Bà nói cái gì vậy? “Tình tự dân tộc” đó hả?
Dung ngạc nhiên:
— Tại sao lại cười?
— Tôi hỏi có phải bà định thuyết giảng về tình tự dân tộc không?
— Ai thuyết giảng gì đâu? Tên này bày đặt nhiều chuyện quá.
— Nghe bà nói nhạc mình quí tôi nghĩ tới cái luận điệu của mấy cha nội cổ động văn hóa dân tộc. Những năm sau này mấy tay đó nói về dân tộc nhiều quá, nghe bắt chán. Danh từ đầu lưỡi, cái nào cũng nhảm như cái nào. Cứ kêu gọi yêu nhạc mình, ca dao của mình, thơ văn, quần áo, phong tục tập quán của dân tộc mình; hễ thấy ai khoái cái gì của ngoại quốc là chê mắng ỏm tỏi, kêu là vọng ngoại, tồi bại, mất gốc v.v... Tôi hỏi bà: chỉ thấy mình hay còn người ta toàn dở, như vậy có gì cao quí đâu. Yêu người mới khó, còn yêu mình quá đáng chỉ thêm bần tiện chứ cao qúi nỗi gì? Tôi...
— Khoan, sao mà hung hăng dữ vậy? Anh bảo yêu người mới khó (cho nên chắc là cao quí?), vậy mình nên yêu nước mình hay nên yêu nước người? Trong khi nước đang đánh nhau, kêu gọi người mình yêu nước mình sao lại nhảm?
 — Bà lộn xà ngầu hết trơn. Thì dân nào yêu nước nấy, con nào yêu mẹ nấy, chồng nào yêu vợ nấy, cũng vậy đó thôi, có gì cao với thấp, quí với tồi đâu? Nhưng chiếm nước nhau là bậy, phải đập lại. Hễ ai chiếm nước mình, mình đánh chết bỏ, không phải vì như vậy cao quí, nhưng cần phải oánh. Bậy quá, phải oánh. Người ta giật cục xôi trên tay mình, mình đánh; không phải vì yêu xôi là cao quí, thấy chưa?
— Lý luận gấu quá.
— Thấm vào đâu với bọn “tình tự dân tộc”! Đám ấy mới thật hàm hồ; kết tội, “lên án” thiên hạ lung tung. Vừa rồi nói chuyện đánh nhau, ừ thì tụi chính trị nó muốn được việc, muốn kêu gọi dân chúng thù cái này ghét cái kia, chính trị nó tuyên truyền gì mặc nó. Đàng này tụi văn hóa giáo dục tự dưng cũng hùa theo, đặt ra chuyện “dân tộc cao quí”: lảng nhách. Tôi đây này, đi xa lạc mẹ, nhớ nhà, nhớ Sài Gòn, nghe tiếng sáo nhớ quê chịu muốn hết thấu nè: bộ tôi cao quí hả? Chẳng qua là một thuộc tính của con người, một chỗ yếu...
— Điệu này tôi chắc rồi đây anh thành một người “mạnh” chẳng mấy hồi. Anh tự khắc phục, thắng được chỗ yếu nhanh chóng, rồi anh thích ứng với xã hội Mỹ, lo học giỏi như mấy người anh, rồi làm việc cho Mỹ v.v...
Nghĩa đưa thẳng một bàn tay xòe về phía trước như cái lá chắn để ngăn chận:
— Rồi làm việc! Hãy bỏ giùm tiếng cho “cho Mỹ”. Có thể những điều bà nói trước đó đều đúng cả: tôi sẽ học, sẽ làm việc. Làm cho được việc hữu ích. Không cần nhất định phải cho Mỹ hay cho một nước nào khác. Gặp đâu hay đó: có thể ở đây, ở Đức, ở Pháp, hay ở một nước Nam Mỹ, Phi châu. Điều ích làm ở đâu cũng tốt, điều bậy làm ở đâu cũng bậy. Nếu tôi có điều kiện làm việc ở nước tôi thì tốt hơn một tí; nhưng ví dụ sau này tôi đậu bác sĩ qua Congo tận tụy chữa trị bệnh lao cho dân Congo bộ bậy lắm sao?
Anh chàng đang nói, chợt chú ý đến một vẻ gì trên nét mặt của Dung, liền dừng lại cười xòa bảo:
— Thôi. Hình như bà không chịu lối lý luận của tôi. Bà mà cãi nhau với tụi này vất vả lắm. Bỏ qua chuyện đó đi. Hãy hỏi bà cái này: đã liên lạc được với bác và anh Thu chưa? Chừng nào thì gia đình sum họp?
— Gớm. Nói năng cứ rụp rụp, từ chuyện này bắt qua chuyện nọ thoăn thoắt. Gấu quá người ta không thèm cãi chứ vất vả gì đâu?... Gia đình chúng tôi sẽ gặp nhau ở thủ đô tiểu bang Minnesota.
Dung thuật cho Nghĩa biết vì sao nàng tưởng đi California mà lại được cho qua Pennsylvania, thuật việc nàng đang sống với vợ chồng cụ Ngọc, việc anh Thu đã chọn một nhà thờ bảo trợ ở Minneapolis v.v...
Đến một mỏm đất cao tận cuối khu VI, Nghĩa rủ Dung ngồi xuống nhìn qua khoảnh rừng bên ngoài trại định cư. Anh ta rút ra mấy tờ trong tập giấy đang cầm trên tay, lót xuống cỏ cho Dung ngồi. Nghĩa kể lại những “biến cố” xảy ra ở trại Asan sau khi Dung ra đi: những tin đồn trại trưởng tham nhũng bị phát giác, những đêm nghệ sĩ di tản trình diễn dân ca v.v... Anh ta cũng lượm lặt được rất nhiều tin tức về Sài Gòn sau ngày 30-4: sĩ quan Cảnh sát tự tử dưới chân pho tượng chiến sĩ trước Hạ viện, bộ đội cộng sản bị ám sát lai rai, Hố Nai tử chiến và tiếp tục kéo cờ vàng ba sọc đỏ, đồng bào tiếp tục ra đi suốt tháng 5 v.v...
Cách chỗ họ đang ngồi chừng mười thước là một con đường chạy ven theo bìa rừng. Đoạn đường này thật vắng vẻ. Thỉnh thoảng một chiếc xe chạy ngang qua; và phần lớn người trên xe đều ngoái nhìn vẫy tay vui vẻ. Một nam một nữ ngồi tách riêng ở một chỗ tịch mịch như thế trong khu trại những di dân từ Á châu mới đến sau một trận chiến kinh hoàng làm chấn động thế giới: cảnh tượng ấy hẳn đang dẫn khởi một vài ý nghĩ ngộ nghĩnh nào đó trong đầu người khách qua đường của xứ này, và họ vẫy tay tỏ bày thiện cảm. Trong trí họ, nếu hai người không là vợ chồng chắc hẳn là người yêu.
Và trong trí Dung nhiều lần cũng lảng vảng một ý nghĩ như thế. Nàng lấy làm ngượng. Đồng thời Dung cũng lại nghĩ tới người thanh niên tán cô gái Mỹ hôm nọ, thấy tưng tức. Còn Nghĩa, lạ chưa: anh ta như chẳng để ý đến gì cả, cứ tự nhiên khơi khơi.
Khi ánh nắng chiếu gắt xuống chỗ họ ngồi, Dung đứng lên từ giả.
Tờ giấy lót ngồi trên cỏ, nàng nhặt lên cầm theo, tính tìm một thùng rác. Hai người chia tay nhau đi đã khá xa, Dung vẫn chưa gặp thùng rác nào; vô tình nàng nhìn qua trang giấy và đọc thấy mấy dòng chữ viết nguệch ngoạc, bị bôi xóa:
        “Sáo từ trong giấc chiêm bao
        Quẩn quanh bên một nhịp cầu quê hương
                    . . . . . . . . . . . . .
        Dạt dờ một ngọn khói chiều thôn xưa
                    . . . . . . . . . . . . .
        Nỉ non bên một mảnh tình ngày xưa...”
Tiếng sáo từ trong giấc chiêm bao vọng ra, nàng chắc chắn đó là tiếng sáo đêm qua. Thật khó tưởng tượng một tâm trạng u sầu, một nét trầm tư ở chàng trai này. Thì đây, những câu thơ này là của anh ta.
Dung ngờ những cười cợt bên ngoài vẫn che đậy một u ẩn bên trong, và lời phát biểu hung hăng cực đoan hình như là phản ứng chống lại một ức chế nào đó. Có thể anh ta không bất cần quê hương như anh ta vẫn muốn bày tỏ bướng bỉnh.
Dù sao, anh ta có lối “đụng độ” con gái một cách đột ngột, khó ưa. “Lúc mê gái, tôi mê bà ngay”, anh ta đã nói được với nàng như thế, chắc chắn người nói với cô gái Mỹ hôm nọ chính là anh ta. Còn ai vô đó nữa?
       

Ngày một ngày hai, sự gần gũi giữa hai người dần dần thành một thói quen, thật tự nhiên. Mỗi sáng, Nghĩa từ trong khu III đi xe buýt ra khu V, đến tìm nàng, rủ nhau đi lang thang đây đó cho đến gần giờ ăn trưa. Mỗi chiều, ăn xong, anh ta lại đến tìm nàng, đi với nhau cho đến xẩm tối. Có hôm họ đi coi đánh bóng chuyền, coi đá bóng; có lần họ tới văn phòng tìm người để đọc danh sách những người đã đến các trại tị nạn; có khi họ đi đọc báo, họ xin giấy đi trung tâm tiếp tân (visitor’s center) để xem quang cảnh những người tị nạn gặp bà con bạn hữu từ bên ngoài vào thăm, hay các người Mỹ tới xem mặt những kẻ mình sắp bảo trợ v.v...
Dĩ nhiên những “chương trình” như thế phong phú hơn các cuộc đi dạo với vợ chồng cụ Ngọc rất nhiều. Và nhiều lần Dung đã tự bắt gặp mình chờ đợi Nghĩa. Vào khoảng tám rưỡi, chín giờ sáng, Dung ít muốn rời khỏi bin-đinh quá xa, sợ Nghĩa đến lại không gặp được. Cô con gái cụ Ngọc có để ý đến cái ý tứ đó, và Dung thấy ngượng với cô ta.
Dù sao, nàng nghĩ là chuyện rất thường tình: Ra đi như thế này, tình cờ gặp lại hoặc bạn bè, hoặc hàng xóm láng giềng cũ từ quê hương, ai chẳng mừng, chẳng muốn gần nhau? Nghĩa bây giờ cũng như Lan hồi ở đảo Guam, có gì lạ đâu? Chỉ có điều đáng tiếc là anh ta lại khác tính phái; một bất tiện do... rủi ro ngẫu nhiên, thế thôi. Người ta dị nghị? Ối, hơi nào giữ gìn? Vả lại cuộc sống tạm bợ trong trại này cũng sắp chấm dứt tới nơi: một tuần, vài tuần lễ nữa, rồi nàng ra đi, rồi bao nhiêu bà con khác cũng đi tản mác, có kẻ đi xa hàng một đôi nghìn dặm đường trường, rồi mấy ai còn gặp được nhau nữa mà nhắc nhở, bàn tán? Ngay như Nghĩa với nàng, chắc gì rồi có cơ hội lại gặp nhau sau khi rời trại?
Đã lâu, Dung không còn hy vọng nữa, cho nên mỗi lần tới văn phòng tìm người, mỗi lần hỏi mượn tập danh sách dày cộm mang ra đọc, nàng lại thấy nhói một cảm xúc khó chịu. Tuy vậy, từ ngày cùng đi với Nghĩa, các cuộc dạo chơi tại đây có một không khí khác hẳn.
Vì Dung không tiết lộ tên của Triệu cho Nghĩa biết, nên Nghĩa vẫn lảng tránh ra nơi khác, mỗi khi Dung tìm tòi trên bảng danh sách. Anh ta tôn trọng chuyện riêng của nàng, không bao giờ tò mò hỏi đến.
Chờ cho Dung dò đọc xong danh sách, anh ta gọi:
— Lại đây bà, đọc cái này chút coi.
Đó là những lá thư dán khắp tường. Những lá thư của người này gửi đến người kia mà không đến tay được, hoặc vì địa chỉ sai lạc, hoặc vì người kia đã di chuyển không lưu lại địa chỉ. Những lời nhắn tin, rao tìm vu vơ, in ronéo gửi khắp các trại, dán khắp nơi v.v...
Nghĩa chỉ cho Dung hàng chữ trên một lá thư gửi từ đảo Wake sang:
“Dầu thơm, thuốc xịt nách các cái họ phát đều đều. Thuốc lá trước phát mỗi ngày một gói, bây giờ hai ngày một gói.”
Dung bật cười. Nghĩa nói:
— “Các cái” bên đảo Wake coi bộ đầy đủ hơn ở đảo Guam nhiều chớ hả? Thuốc lá mà cũng phát thì điệu quá. Cô tìm giùm người nào ở Wake qua, điều tra coi họ lãnh thứ “dầu thơm” gì vậy?
Một anh Biệt động quân viết từ trại Saikung ở Hương Cảng gửi sang cho bạn:
“Thằng Đồn ăn ở không khá, tao đã nghỉ chơi. Sang Mỹ tao tìm mày (...) Mày đi trọn cả nhà, đủ cả bố mẹ anh em, thế là được Trời thương, tao kính lời thăm tất cả. Ngọc hơi yếu, đi đâu nhớ đội nón”.
Nghĩa hỏi Dung:
— Cô đoán coi bé Ngọc chừng mấy tuổi?
— Ít ra đôi tám.
— Đúng. Dưới tuổi đó, chỉ có cha mẹ nhắc đội nón chứ bạn của anh ở xa muôn dặm đâu có dặn dò kỹ vậy? Thấy không?... Nhân tiện cũng cần lưu ý là tôi không thấy cô đội nón đó nghe. Nên biết cô cũng... hơi yếu.
Dung làm như không nghe hết câu nói. Nàng lướt qua lá thư từ trại tạm cư ở xã Samae San bên Thái Lan; một lá thư từ trại Dodwell’s Ridge ở Hương Cảng; rồi lá thư của cô gái tìm cha gửi từ trại Pérhentian bên Mã Lai v.v... những lá thư ấy đã trông thấy từ mấy tuần trước. Dung chú ý đến cái thư mới, với một đoạn ngộ nghĩnh:
“Anh Sáu, mãi đến ngày hôm nay em vẫn còn ở Guam chờ ngày về Sài Gòn. Lâu quá, em nhớ nhà quá. Anh có dư không? cho em 9, 10 $ gì để em đánh điện về Sài Gòn cho Ngạc, người yêu của em đó anh, chớ ở đây em nhớ Ngạc quá, anh Sáu ơi”.
— Thôi, tụi mình đi.
Dung tưởng Nghĩa chưa đọc lá thư của cô gái sắp về Sài Gòn, không ngờ một lúc sau, khi hai người ra khỏi phòng Tìm Người vài chục bước, Nghĩa chợt nói:
— Cô thấy không? Trong đám tị nạn có những thành phần kỳ cục. Như cái cô em của “anh Sáu” nào đó: Tại sao cô ấy chạy đi rồi vội vã chạy về?
Dung cười cười, nói cho có nói, không để tâm suy nghĩ:
— Có lẽ ban đầu cô ta tưởng anh Ngạc chạy được nên bỏ nhà chạy theo, về sau ra tới Guam không tìm thấy Ngạc nên lộn trở về tìm Ngạc...
—... “Kẻo nhớ quá”? Không phải vậy đâu bà ơi. Mới đi tới Guam, ở đó chừng một tháng, làm sao biết chắc được là anh kia có đi hay không đi? Có gì cũng phải chịu khó chờ đợi tìm kiếm một thời gian nữa đã chứ. Vả lại... vả lại bà để ý cái giọng thử coi: người cô ấy cứ khơi khơi, chuyện gì cũng dám làm, không có gì quan trọng cả. Thấy thiên hạ đi cũng đi cái chơi, rồi nhớ anh Ngạc thì la ơi ới... Tụi Mỹ ở Hồng thập tự khi đem niêm yết một cái thư như thế lên tường, nó không biết trong ấy nói gì, nếu tụi nó biết đọc chắc tha hồ cười. Trong cái đám hàng chục vạn người đang gây cho nước nó rất nhiều vất vả, có những hạng buồn cười. 
(Còn tiếp)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét