Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

Võ Phiến - Nguyên vẹn (Kỳ 19)


Đến đây Dung thấy cái viễn tượng cảnh đôi mẹ con nàng thật khiếp hãi: Mẹ nàng đã lẻ loi ở quê hương, sang đây lại càng lẻ loi không thể tìm đâu ra một tâm hồn bầu bạn trong tuổi già. Ở Việt Nam, dù không chồng nhưng còn có bà con láng giềng, có bạn bè thân hữu; sang đây rồi bà càng về già, nỗi cô đơn sầu muộn càng thấm thía, biết có chịu nổi? Còn nàng nữa... Tự dưng Dung thấy tối tăm mặt mũi, tưởng như bao nhiêu đau khổ trên đời dồn trút lên đầu mình một lượt. Nàng ngồi dựa vào tấm vách gỗ, hếch mặt ngửa lên trời, nhắm tít cả hai mắt... Nắng ấm chan hòa dội xuống người nàng, gió thổi những sợi tóc phơ phất trên trán, trên má, làm quẹt nhẹ đuôi tóc lên chót mũi nàng.

Ngồi như thế một hồi lâu rồi thấm mỏi nàng lại đứng lên đi dạo hết chỗ này đến chỗ kia: một người kiếm đâu được chiếc ghế đem ra đặt dưới bóng cây, mở một tiệm hớt tóc lộ thiên, một nhóm người khác xúm xít xung quanh một người Mỹ đang dạy Anh văn bằng lối đàm thoại giữa trời, mấy người con trai ném chuyền cho nhau một cái dĩa nhựa màu xanh lơ v.v...
Đi ngang qua trước phòng đọc sách nàng định ghé vào nhưng lại thôi. Quanh đấy có mấy cây tùng lớn tỏa bóng mát, nàng đến ngồi dưới bóng cây. Lúc bấy giờ bữa ăn trưa đã xong, nhiều người khác cũng lần lượt tìm đến các bóng cây lân cận ngồi hóng mát; có người mang theo một ly cà-phê, một trái táo trái cam ăn dở.
Dung nằm dài trên cỏ, lấy lá thư của Nguyện ra đọc đi đọc lại, càng lúc càng thấy rõ; sự việc không có gì mơ hồ nữa, nàng đã hết hy vọng. Xếp nhỏ lá thư cầm gọn trong lòng bàn tay đặt giữa ngực, nàng nhìn trân lên đám mây trắng trôi nhẹ nhàng giữa bầu trời xanh, qua tàn lá.
Quanh nàng có tiếng chân chạy lẹt xẹt, có tiếng trò chuyện hoặc xa hoặc gần, có tiếng nhạc của chiếc xe bán kem từ xa vẳng lại... Chợt nàng để ý đến những câu đối thoại giữa một người Việt và một người Mỹ. Cái ấy cũng chuyện thường, bởi vì hàng ngày vẫn có nhiều người Mỹ, già có trẻ có, nam có nữ có, vào trại làm việc, hoặc tự nguyện hoặc ăn lương. Và người Việt, nhất là giới trẻ vẫn làm quen, tìm cách nói chuyện với họ để trau dồi Anh ngữ. Dĩ nhiên sự quen biết như thế lắm khi đi xa: có nhiều cặp nam nữ Mỹ Việt đã thực sự thân mật.
Khi nàng bắt đầu theo dõi câu chuyện thì giọng đàn ông Việt vừa nói:
— Cô rất đẹp.
Cô gái Mỹ đáp lại:
— Tôi biết.
Tiếp theo có tiếng cô gái cười khúc khích. Giọng nói và tiếng cười cô ta không cao như giọng thông thường của đàn bà con gái, mà nghe trầm ấm.
Câu tán tỉnh của cậu con trai Việt nhàm quá, và nghèo nàn như của một người mới tập nói. “Mới tập tò đã tán gái. Chán chưa”, Dung nghĩ vậy. Sau câu trả lời nghịch ngợm của cô gái, cậu ta dừng lại, như mất hứng. Nhưng rồi lại tiếp:
— Cô biết cô đẹp?
— “Sua”! Tôi biết mà.
— Thế cô có biết chuyện này không?
— Chuyện gì?
— Chuyện tôi vẫn mến cô?
— Tôi biết chứ.
Lần này thì không nghe cô ta cười mà lại nghe tiếng cậu trai cười, khen:
— Cô thông minh ghê. Cô biết thế chứ?
— Biết.
— Biết rằng cô thông minh?
— Chứ sao?
Cô gái Mỹ cười khịt khịt trong mũi. Người con trai nói:
— Gớm. Cô giỏi ghê.
— “Sua”.
— Tuy vậy, chắc chắn có một điều cô không biết được đâu.
— Thế à? Điều gì vậy?
— Tôi có nên nói ra với cô không?
— Tại sao không?
— Thì nói: là tôi yêu cô. Cô biết không?
— Hm!
Dung giật thót người. Tự dưng một câu chuyện của người ta, không dính dáng gì đến nàng, chợt làm nàng choáng váng vì một câu nói đột ngột. Nàng chú ý chờ đợi. Hồi lâu không nghe tiếng cô gái Mỹ đáp lại. Dung tò mò muốn trông thấy mặt hai người trẻ tuổi, muốn trông thấy bộ dạng cử chỉ của cô gái kia; nhưng nàng e ngượng, không dám quay đầu lại, không dám cử động. Lúc này — nàng nghĩ — một cử động vô ý thức của mình sẽ làm cho cô gái lúng túng thêm. Nàng không muốn cô gái Mỹ thấy mình thiếu tế nhị.
Cuối cùng giọng trầm ấm của cô ta lại nổi lên. Cô ta nói thấp hẳn:
— Anh giễu cợt tôi đấy hả?
— Kìa!
Người thanh niên vuột kêu một tiếng phản đối, rồi dừng lại, có lẽ anh ta còn đang tìm chữ đặt câu. Rồi tiếp tục: “Thú thật với cô, tôi cũng là một người nghịch ngợm. Nhưng trước mặt cô tự nhiên óc trào phúng của tôi bị tê liệt. Tôi không còn nói giễu được nữa. Có sao tôi nói vậy. Như trẻ nít.”
— Hm!
Người con gái phát ra một tiếng không rõ rệt. Rồi cả hai im lặng. Một lát, có tiếng một người đứng lên, rồi hai người đứng lên. Họ dắt tay nhau đi xa. Có lẽ họ vừa để ý đến sự có mặt của nàng bên cạnh? sự có mặt mà, sau mấy câu trao đổi vừa rồi, họ chợt nhận thấy là không thích hợp? Nàng nghe bước chân hai người thong thả xa dần.
Lúc Dung quyết định có thể quay nhìn thì họ vừa đi khuất vào phía bên kia căn trại thư viện.
Lá tùng tỏa trong nắng một mùi thơm thoang thoảng. Bên trên tàn cây, trời xanh cao vòi vọi. Vài đám mây trắng di chuyển chậm chạp; ở ngoài mép đám mây có những sợi mây nhỏ như rã dần ra, tan biến vào màu xanh của nền trời. Màu xanh mà nàng thấy ngọt lịm.
Dung nhỏm người dậy, trông xuống sườn đồi. Cỏ xanh mênh mông. Xa xa, một vài khóm cây. Gió thổi, lá cây lấp loáng ánh nắng.
Nắng khắp nơi, nắng sáng chan hòa. Người con gái bỗng thấy nắng sao lênh láng quá, làm nôn nao say sưa. Cảnh sống tưng bừng bên ngoài làm dấy lên sức sống bên trong, dấy lên những cảm xúc xôn xao phập phồng bên trong. Người con gái như chiếc lá run lên, chơi vơi trước gió.
Đã thật khuya nàng vẫn chưa ngủ được, mãi hoang mang với câu chuyện xuất trại sắp đến..
Dung đã viết thư cho mẹ, thúc giục gia đình mau mau rời trại tạm trú để đi Minneapolis. Mặc dù chính nàng chưa nhận được tin tức từ Tây Đức về Triệu, nhưng sau lá thư của Nguyện nàng biết chắc không còn hy vọng gì. Trong tình cảnh này càng ở lâu trong trại càng khổ sở. Ở đây nàng bơ vơ quá. Ít ra đến Minneapolis nàng còn có thể tìm lại không khí gia đình bên cạnh mẹ và anh, có thể tha hồ khóc với Nguyện. Ở đây, đành lặng đi: thế này chịu sao nổi!
Tuy vậy sau khi gửi lá thư đi rồi, nhiều lúc nghĩ lại nàng ân hận. Ngày nào còn ở trại tạm trú nàng còn thấy có một ý nghĩa chờ đợi nhau; ra đi là dứt khoát, là đi tìm cuộc đời mới, là tiến thêm một bước trong chiều hướng ổn định cuộc sống mới. Nàng thấy như một sự phản bội. Nàng không đành lòng.
Cách nàng hai phòng có một cặp vợ chồng già, vóc nhỏ loắt choắt mà cứ toàn xin những quần áo rộng và dài. Dân di tản, sống trong trại, thỉnh thoảng lại được cấp phát một số áo quần cũ mà các cơ quan từ thiện đã quyên góp, mang tới. Quần áo được cấp phát như thế, người ta nhận về uớm thử, nếu không vừa cỡ lại mang ra trao đổi cho nhau, biếu nhau, hay bán lại nhau. Thấy ông bà nhỏ vóc cứ gom góp quần áo rộng, có người hỏi, cả hai ông bà tranh nhau trả lời vội vàng:
— Thằng Cả của chúng tôi nó mặc vừa. Nó cao lớn lắm kia. Nó đứng bằng này này...
— Hồi mới mười sáu tuổi nó đã cao hơn bố rồi đấy...
— Vâng. Trong mấy anh em chỉ có nó là chóng lớn dễ nuôi nhất.
 Lúc bỏ Sài Gòn chạy, họ đi theo đứa con thứ ba, trong lúc bốn đứa con khác hãy còn ở Nha Trang. Đến trại, tình cờ họ gặp người bạn bảo có loáng thoáng trông thấy người con cả của họ ở vịnh Subic bên Phi-luật-tân. Thế là cả hai ông bà ngày ngày trông chờ đầy hy vọng. Việc xin quần áo cho thằng cả không hẳn là một sự tham lam, nhưng là một việc làm để tự củng cố mối hy vọng của mình. Càng lúc họ càng tha thiết với quần áo cho thằng cả. Họ xin mãi, cất đầy cả va-li, cả bọc vải, cả tủ... Xung quanh ai nấy lo tìm bảo trợ để xuất trại, nhưng cặp vợ chồng già này không chịu nghĩ tới chuyện đó, họ khăng khăng ở lại chờ thằng cả.
Hội Hồng thập tự — theo lời yêu cầu của họ — đã đánh điện tìm khắp nơi, không được chút tăm hơi nào về người con thất lạc này. Dần dần bà con trong cùng bin-đinh đều nghĩ là người bạn từ vịnh Subic đến đã trông lầm và báo cho ông bà cụ một tin mừng hụt, nhưng không ai nỡ nói ra điều ấy. Rốt cuộc có lẽ chính ông bà cụ cũng ngờ ngợ như vậy, nhưng họ vẫn tiếp tục xin quần áo rộng cho thằng cả, tiếp tục bám lấy một cái cớ để hy vọng.
Dung thấy cái ý nghĩ muốn ở nán lại trong trại của mình cũng từa tựa như ý muốn của ông bà cụ nọ: dù biết không còn hy vọng nữa, vẫn không nỡ “bỏ rơi” kẻ vắng mặt.
Ở giường bên cạnh, bà cụ Ngọc cựa mình nhỏm dậy, sờ soạng tiến ra cửa phòng, vẹt lá màn nhìn ra lối đi vắng vẻ. Thấy thế, Dung bước theo đưa bà cụ đi. Bà cụ vẫn có tật đi tiểu ban đêm, mà ở những tòa nhà này nhiều người đồn là khuya khuya đôi khi vẫn gặp những con thú quái lạ.
Số là khu trại này bỏ hoang đã lâu ngày, lại ở gần rừng rậm. Rắn, rết, chồn hôi, thỏ v.v... ta vẫn thường bắt gặp. Lâu lâu có cả những con nai thơ thẩn vào trại. Và có kẻ thuật lại rằng một hôm vào khoảng ba giờ sáng một người đàn bà đi tiểu gặp ngay trong phòng tắm một con vật gì cao lớn như con bò mà không sừng.
Dung đưa bà cụ xuống phòng tắm. Căn phòng này đêm nay bỗng tối tăm hơn mọi hôm: thì ra cái bóng điện ở giữa phòng có ai đã đem sơn đỏ xanh vẽ lên đấy những hình thù quái dị. Căn phòng mờ ảo âm u như ở một tiệm nhảy, ở một quán cà-phê đêm.
Lúc từ nhà tắm trở về, nhân đi ngang qua một căn phòng còn hé cửa, nàng bất giác liếc vào trông thấy ánh sáng bên trong cũng lù mù, và ngọn điện trong phòng cũng lại bị sơn phết rằn rịt. Và, ơ kìa! đây là phòng cô gái “rồng cuốn”, sao lại có cả anh chàng Nhảy dù gầy guộc lộ hầu? Không phải chỉ có anh ta: cô gái ngủ ngon trên giường, anh chàng lộ hầu và ba (hay bốn?) người thanh niên khác, kẻ ngủ người thức, kẻ nằm người ngồi trong phòng.
Dù đã có nghe phong thanh về tư cách không đứng đắn của cô gái, Dung không thể tưởng tượng một cảnh sống phóng túng đến thế. Sau khi trở về phòng, nàng lại nghĩ ngợi lan man, từ chuyện nọ sang chuyện kia, cho nên lại càng khó ngủ.
Đêm vắng lặng, những tiếng chuyện trò, tiếng hát từ các máy cát-xét im dần, rồi tắt hẳn từ hơn một giờ rồi.
Bỗng dưng từ một căn phòng nào đó trên lầu phát ra tiếng sáo. Một đoạn thổi rao mấy câu, rồi bài “Đàn chim Việt”. Bài “Đàn chim Việt” thổi đi thổi lại ba lần; rồi qua bài “Thiên thai”.
Tiếng sáo vừa dứt, cảnh vắng lặng của đêm trăng càng nổi rõ, sững sờ. Bỗng nhiên đâu đó có người cất lên hát, giọng ồ ồ:
          “Một ngày nào
           Ta ghé môi hôn
           Ta hôn em...”
Bài hát bị bỏ lửng. Tiếng sáo sau đó cũng im luôn.
Bài hát không dính dấp gì đến bài sáo, thoạt cất lên rồi chợt bỏ lửng lơ, không đầu không cuối. Người con gái chờ đợi, hồi lâu, lại nghe cái giọng ồ ồ nọ:
          “... ngày nào
           Ta ghé môi hôn...”
Lần này hát nhỏ hơn, như cho riêng mình. Chỉ bấy nhiêu, rồi thì im luôn.
Nàng tưởng tượng: người hát cũng chợt thức giấc giữa khuya, cũng trằn trọc như người thổi sáo. Nhân nghe tiếng sáo, người ấy cất lên hát: bài hát được phát ra thành tiếng chỉ một đoạn, những đoạn đầu và đoạn cuối là hát thầm, mải miết, trong nhiều giờ trằn trọc. 
Về phía người thổi sáo vẫn tưởng chỉ có một mình với tiếng nhạc giữa khuya. Không ngờ, khi bắt gặp tiếng hát phản ứng, biết mình đã khuấy động một tâm sự, anh ta liền dừng lại.
Thành thử trong cả một khu vực doanh trại im lìm, giữa rừng hoang đồi cỏ, ngót tám vạn con người xa xứ vẫn không ngớt thao thức, chịu đựng các dằn vặt không nguôi. Những buồn đau, thương nhớ, xót xa, hối hận v.v... những tâm sự chất chứa đầy ắp dưới những mái nhà nằm bất động giữa ánh trăng thế kia, chúng vẫn không ngớt âm thầm ray rứt, cấu xé... Bao nhiêu người khốn khổ thâu đêm, đâu phải riêng nàng!
Trong ý nghĩ an ủi ấy, Dung thiu thiu ngủ. Và trong lúc nửa tỉnh nửa mê, trong cơn chập chờn, hình như văng vẳng tiếng sáo lại cất lên đâu đó xa xa. Nàng không chắc chắn ở tai mình. Không biết là có tiếng sáo thực hay đó chỉ là một tiếng sáo trong mơ.
Hôm sau, Dung kể lại những điều mình lấy làm thắc mắc về cảnh tượng trong phòng cô gái “rồng cuốn”; một người đàn bà cùng bin-đinh cười ngặt nghẽo, nói với nàng:
— Cô không biết cô Huệ hả?
— Huệ nào?
— Cô ở phòng đó.
— Không. Vẫn gặp, nhưng có biết gì đâu.
Người đàn bà hạ thấp giọng:
— Gái chơi bời đó cô.
Dung trố mắt ngạc nhiên: sao có thể hoạt động công khai như vậy bên cạnh mọi người trong bin-đinh? Thực ra sau khi nghe người đàn bà kể đầu đuôi câu chuyện thì không đến nỗi thế.
Mỗi bin-đinh lầu trong trại Indiantown Gap chỉ có hai căn phòng có cửa hẳn hòi: một ở trên lầu và một ở tầng trệt. Ngay từ lúc mới đến trại, nhờ quen với một quân nhân Mỹ, Huệ đã được đưa tới chiếm ngay một căn phòng có cửa ở tầng trệt.
Huệ không ở phòng đó một mình; cô ta cùng ở với một anh lính trẻ măng. Họ không phải là vợ chồng, cũng không phải là nhân tình.
Trước kia, hồi còn nhỏ, Thủ với Huệ ở cùng xóm. Hai đứa trẻ đi học tiểu học với nhau, chơi đùa với nhau lâu ngày.
Hết bậc tiểu học, thằng nhỏ lên trung học, học thêm vài ba năm gì đó rồi ở nhà theo cha mẹ làm ăn ở Túc Trưng, mỗi tuần đi đi về về đôi ba bận. Mười tám tuổi, nó bị bắt lính.
Còn con Huệ, nó phát mã sớm lắm. Mới mười bốn mười lăm đã nẩy nở ngồn ngộn. Mười sáu tuổi nó lấy chồng. Nghe nói phía chồng ở đâu Vũng Tàu. Chồng nó cũng đi lính, rồi tử trận. Nó có đứa con gái, gửi nội nuôi. Nó đi bán ba, rồi sa ngã, riết rồi thành gái mãi dâm, khi cặp với Việt, khi cặp với Mỹ.
Thằng Thủ, tội nghiệp, năm nay nó mới hăm mốt. Đơn vị kéo nó theo, từ Xuân Lộc chạy đi Bà Rịa, chạy luôn xuống Vũng Tàu, đi luôn. Nó nhớ mẹ, khóc hoài. Hai đứa — con Huệ với nó — mới gặp lại nhau ở phi trường Andersen. Con nhỏ rủ đi theo, nó đeo theo như đứa trẻ, như em với chị. Con nhỏ an ủi nó, dỗ dành nó. Đến trại này, chúng nó ở với nhau một phòng. Không ai biết giữa một chú lính trẻ nhớ mẹ khóc lên khóc xuống và một cô gái giang hồ, trong bước lưu lạc khủng hoảng, những gì đã xảy ra.
Chừng một tháng sau thì cô gái tuy vẫn ở cùng phòng với anh lính nhưng đã cặp với một quân nhân Mỹ. Anh lính Mỹ hứa đem cô ta về quê mình ở Massachusett, tìm việc làm cho cô ta. Chắc chắn, ngoài những chuyện ấy, họ đã có dự định lấy nhau rồi. Nghe nói anh lính Mỹ hiện đang tìm một chỗ bảo trợ để đưa cô gái ra, một chỗ thuận tiện, không xa nhà anh ta.
Thủ không biết nó nghĩ sao, chỉ thấy bây giờ nó thường rủ bạn bè lính tráng tới phòng nó mỗi ngày mỗi nhiều. Căn phòng không còn đóng kín cho hai đứa nữa. Tụi bạn của Thủ kéo tới đàn địch, hát xướng với nhau, nhiều đêm khuya khoắt vẫn còn ồn ào, phá giấc ngủ của bà con kế cận. Rồi chúng quay ra ngủ luôn tại đó. Con nhỏ ngủ trên giường, tụi kia ngủ lăn dưới sàn, ngủ xung quanh, ngổn ngang, bừa bãi. Sơn bóng đèn, đánh bẩy thỏ, bẩy chồn hôi, nghịch phá suốt đêm là đám ấy.
Hỏi ra thì anh lính Nhảy dù gầy guộc nọ không phải là Thủ. Anh ta chỉ là bạn của Thủ. Thoạt tiên, chưa quen biết, anh ta chỉ trích Huệ “rồng cuốn”. Nhưng về sau, chính anh ta đã đến căn phòng cô ta, gia nhập vào đám bạn bè ca hát ở đây, lăn ra ngủ dưới gậm giường cô ta.
Rồi nay mai, cô gái ra đi về xứ quê của anh lính Mỹ, tận nơi xa tít mà toàn bọn cả nam lẫn nữ trong phòng không ai từng nghe nói tới. Cả bọn còn lại rồi vẫn quây quần với nhau; Thủ có còn nhớ mẹ, đêm đêm khóc rưng rức?

(Còn tiếp)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét