Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Võ Phiến - Nguyên vẹn (Kỳ 15)


PHẦN BA               

Một tuần lễ ở Orote Point thật là dài. Đến đây vào nửa đêm, ngay sáng hôm sau Dung đã tìm đọc khắp các tờ giấy nhắn tin dán quanh khu lều phát thực phẩm: không có dấu vết nào của Triệu hết.

Thời gian ở Orote Point không ích gì cho việc tìm kiếm Triệu. Ở đây chỉ là ở tạm, không biết ra đi lúc nào, vì vậy không thể bắt đầu việc liên lạc thư từ. Dung đã viết ngay một cái thư gửi đến người anh của Triệu ở Tây Đức, nhưng nàng không có địa chỉ để nhận hồi âm. Nàng nóng lòng đến một nơi nào có thể dừng lại tương đối lâu, để hy vọng nhận được thư.


Chiều hôm ấy, lúc được loa phóng thanh gọi lên xe đi vào “lục địa Hoa Kỳ” nàng mừng khúm. Không ngờ đây chỉ là một di chuyển nhỏ: sang trại Asan.

Cái khu bệnh viện cũ này cảnh trí thật đẹp. Đoàn xe vừa rẽ ngoặc vào, thằng Tùng ngồi sát cạnh đã chạm nhẹ vào tay nàng kêu khẽ:
— Biển, chị!

Nàng quay lại nhìn nó cười:
— Em chưa chán biển sao?

Ý nàng muốn nhắc đến những ngày say sóng ngất ngư trên con tàu Mỹ vượt Thái Bình Dương.

— Đây... bãi mà chị. Chị thích không?

Dung lắc đầu. Nó nhìn nàng dò dẫm rồi hỏi:
— Vũng Tàu cũng vậy hả chị?

— Khác, em.

— Không đẹp như vầy sao chị?

— Đẹp, nhưng khác.

Nó có vẻ suy nghĩ, rồi lại hỏi:
— Chị. Chị đã tắm biển Vũng Tàu chưa?

— Rồi em.

— Sao biển này chị không tắm?

Dung quay lại nhìn nó cười không trả lời. Chiếc xe đã dừng bánh, và ai nấy lo tìm phòng, lãnh ghế bố, mền v.v...

Chưa đầy một giờ sau, Dung đã gỡ được ở trước trại thực phẩm một chiếc dĩa giấy ghi mấy hàng nhắn gọi:
“Phan Thị Thu Dung,

Má, anh Thu và Nguyện đã lên đường sang trại Pendleton, California, ngày 15-5. Cố gắng gặp nhau”.
Nét chữ của Nguyện.

Mọi người trong gia đình Lan xúm lại bàn tán: Lạ chưa, Thu về Sài Gòn kịp thời, rồi cả nhà lại tìm được cách thoát ra đi! Bấy nhiêu may mắn đã xảy ra cách nào? Mà sao chuyện bất ngờ ấy lại xảy đến trước tiên? Còn tin tức của Triệu, của gia đình Nguyện lại không có? Từ Orote Point tới đây không thấy có mảnh giấy nhắn gọi nào của cha mẹ Nguyện gửi lại nàng. Hay là Nguyện đã trông thấy, đã bóc gỡ?... Ngộ chưa! Không biết Nguyện đi bằng gì, xoay trở ra sao mà sớm vậy, đi sau mà vượt trước gia đình Lan. Chắc chắn là họ không bị dừng lại nhiều ngày ở Subic Bay...

Từ lúc ấy đến mười giờ tối, trước khi đi ngủ, Dung và mấy chị em của Lan đã gặp thêm hai mảnh giấy dán ở các chỗ công cộng nữa. Vẫn tuồng chữ của Nguyện, vẫn nội dung như trên. Và sáng hôm sau, Dung lại gặp thêm một mảnh giấy dán ở văn phòng Hồng thập tự, cũng của Nguyện.

Nhờ những mẫu tin ấy, Dung bỗng tưng bừng lạc quan. Nàng có cảm tưởng sự trùng phùng không có gì viển vông nữa, chuyện ra đi không đến nỗi quá khó khăn, chuyện gặp nhau chợt như... dễ dàng. Dung vui vẻ, chứa chan hy vọng.
Hôm ấy, sau khi lo xong bữa ăn sáng cho mọi người trong gia đình, Lan tìm được một cái hộp giấy to tướng, rủ Dung mang ra chỗ khoảnh đất ven rừng, sau khu trại. Hai người xé cái hộp giấy, trải ra trên cỏ, ngồi chơi.
Trời tháng năm dương lịch trong sáng. Nắng mai vàng rực rỡ. Không khí mát rười rượi. Buổi sáng hai chị em vẫn thích ra đây, hoặc nằm hoặc ngồi hàng giờ. Hôm ấy, họ vừa ra đến nơi thì thấy ông Năm — cha của Lan — đã thơ thẩn ở đấy từ hồi nào.
Ông Năm (hồi ở “nhà” bà con trong xóm gọi là ông Năm Tắc-Xi) cũng đến ngồi một bên góp chuyện:
— Thấy không? Cây mù u nè. Con Lan mầy biết chớ hả?
Lan cười ngặt nghẽo:
— Con đã thấy cây mù u hồi nào đâu mà biết?
— Hừm! Dở quá, lớp nhỏ bây giờ dở quá. Mù u ở xứ mình thiếu gì... Tao để ý cây cỏ ở đây giống hệt bên mình.
Dung hỏi:
— Vậy hả bác?
Ông Năm hào hứng:
— Y hệt, cô ơi. Nè, cây này, cây kia, cây kia... trên đám đất này hơn chục cây mù u. Rồi sau lưng mình đây, trên rừng, cô biết là thứ cây gì không?... Sa kê! Đó. Ở trong Nam kêu cây sa kê, ở ngoài Trung kêu nó là cây mít nài. Rồi cây dừa nè, cây đu đủ, táo nhơn, cây xoài nè... Đủ thứ hết trơn.
— Sa kê, cháu có biết trái nhưng chưa thấy cây. Còn táo nhơn là thứ nào đâu, bác?
— Nè. Cây có lá nhỏ lăn tăn đó. Trái lép kẹp đó. Tách vỏ ra, lấy hột...
— Á... hôm qua cháu thấy mấy bà ở trước bãi biển lấy hột, thật nhiều, mấy chén hột.
— Chi vậy cà?
— Nghe mấy bà ấy nói rang để dành ngâm rượu...
Ông Năm cười xòa:
— À! Phải rồi, ngâm rượu uống vừa thơm vừa trị chứng mất ngủ. Táo nhơn là một vị thuốc đó cô à. Trời đất, mấy bà đi “lục địa Hoa Kỳ” chuẩn bị kỹ ghê!
Dung khen:
— Bác biết nhiều thứ cây trái quá.
Ông Năm bỗng him mắt lại, vẻ xa vắng:
— Bị tôi trải quá mà cô.
Như thế, ý ông Năm muốn nói là ông đã từng trải, đã sống nhiều, tai nghe mắt thấy đã nhiều. Trước đây, tuy lui tới nhà Lan nhưng ít khi nàng gặp ông Năm và càng ít khi có dịp trò chuyện với ông. Chỉ từ mấy hôm cùng rời Sài Gòn trong chuyến đi tị nạn này Dung mới có dịp nói chuyện và nhận thấy ông Năm thỉnh thoảng lại nhắc đến một điều ấy: “trải”. Nàng nghĩ chắc thế: chắc ông Năm “trải” thật. Ông vốn ở ngoài Trung, vào Nam từ hồi trai tráng, đi làm ăn dưới miệt Hậu Giang, thay đổi bao nhiêu là nghề: ông phải “trải” chứ. Tuy vậy mỗi lần ông nói đến tiếng ấy, tự dưng Lan và nàng kín đáo liếc nhau, ngầm ý mỉa mai. Thực ra không ác ý, không ngờ vực, thực ra chỉ vì hai người con gái ranh mãnh không thể không để ý đến cái chỗ hơi lẩm cẩm của ông già.
Ở Sài Gòn ông lăng xăng suốt ngày ngoài đường: ông lái xe, ông đi việc kia việc nọ. Ông gặp bạn bè, đồng nghiệp, hoặc tán gẫu bên ly cà-phê quán cóc, hoặc nay rủ nhau tới nhà này, mai kéo nhau tới nhà kia nhậu nhẹt, tha hồ nói “chuyện đời”. Từ ngày rời Sài Gòn ông mất cái thế giới của ông, không làm quen được với ai cả, cả ngày loay hoay giữa mấy người cùng một nhóm với nhau, ông Năm Tắc-Xi quay ra thích nói chuyện với hai chị em Lan và Dung. Ông nói đủ thứ chuyện, trên trời, dưới bể, nhân tình thế thái, xã hội, chính trị v.v... Dĩ nhiên, cái kiến thức của ông có nhiều sai sót, nhưng Lan lắm lúc ngạc nhiên không ngờ cha mình có những nhận xét, hiểu biết ngộ nghĩnh và phong phú như vậy.
Trong khi ấy mẹ nàng hóa thành một gánh nặng cho cả nhà. Bị đột ngột tách ra khỏi khung cảnh sinh hoạt quen thuộc, thoạt tiên bà ngẩn ngơ mất mấy hôm. Rồi bà Năm đâm gay gắt, khó tính, nổi những cơn nóng bất thường. Bà đổ cho Lan cái trách nhiệm đem bà ra đi, “bỏ con Ly lại bơ vơ”. Nhiều lần, vì một chuyện không đâu, bà Năm nổi giận la lối om sòm, mắng Lan giữa đám đông làm nàng xấu hổ muốn chết. Nhất là những hôm chen chúc trên tàu thủy, nàng thật khốn khổ với mẹ.
Ba người đang nói chuyện chợt thấy thằng Tùng vừa chạy đến vừa ngoắc kêu:
— Chị Lan, mẹ gọi.
Lan vừa đứng lên vừa dặn Dung:
— Ngồi đó đi. Một lát mình lại ra ngay.
Thằng Tùng đến ngồi thay vào chỗ của chị, theo dõi câu chuyện giữa cha nó và Dung.
— Cây cỏ ở đây giống bên mình lạ lắm cô. Cô coi như cây táo nhơn, cây sa kê ở mình đâu dễ gì thấy: trong Nam có cây sa kê thì lại ít gặp táo nhơn, ngoài Trung nhiều táo nhơn thì lại hiếm sa kê. Bên mình chỗ có cây nọ không cây kia, chỗ có cây kia thiếu cây nọ; ở đây đủ hết, cô thấy không? Tre có, cây mắc cỡ có, đu đủ có, xoài cũng có, cây trầu cũng có.
— Vậy hả bác?
— Có đó, cô. Tôi thấy mấy bà gửi tiền nhờ người quen bên ngoài trại mua đem vô.
— Còn cau? Có không bác?
— Ờ... Thứ đó tôi quên hỏi. Nhưng tôi đoán cũng có; nếu không làm sao ăn trầu? Nhưng cái này mới thật là lạ: Cô biết cây nhàu không?
— Nhàu? Thưa không.
— Cô đã nghe nói đến tên chưa?
Dung cười:
— Cũng chưa, bác!
— Đó, thấy chưa? Một loại cây hiếm hoi như vậy bên mình, mà qua đây cũng gặp. Trái nhàu trông như trái mãng cầu dai nho nhỏ, chỉ bằng cổ tay, dài cỡ trái bắp. Còn non thì vỏ xanh, lúc chín đổi màu trắng. Ở ngoài Trung, người ta hái nhàu rồi bỏ vô hũ muối sống, lấp kín lại, chờ cho nó chín mềm mới đem ra ăn... Ngon hả? Không, tôi thấy cũng không ngon mấy; nhưng ăn quen có người thèm nhàu lắm. Vả lại, nó cũng là một vị thuốc đấy.
— Thế à. Thuốc gì vậy bác?
— À, à... xin lỗi cô, đàn bà có chứng huyết trắng ăn nhàu là hết. Ở nhà quê bên ta người ta chữa bệnh vậy đó.
Dung thoáng nghĩ: “Bác ‘trải’ thật”.
Thằng Tùng nói: “Chị ngồi đây nghen” rồi đứng dậy chạy đi. Nàng nhìn theo thằng bé chưa đoán ra nó định làm gì: hết chị đến em cùng dặn nàng ngồi yên. Thì nàng ngồi chứ có việc quái gì để làm đâu. Ngồi đến đâu thì ngồi. Ngày tháng ở đây thực nhàn rỗi, mà thật sốt ruột. Hết hôm này sang hôm khác, lúc nào cũng sống trong sự chờ đợi: chờ đợi một lệnh lên đường, một tin tức...
Thoáng một cái, thằng Tùng đã trở lại. Nó mang ra một lon cà-phê và hai chiếc ly giấy. Hồi sáng sớm Dung đã tính đi xếp hàng kiếm cà-phê về cho ông Năm, nhưng thấy hàng dài quá nên bỏ cuộc. Bây giờ muộn rồi, không biết thằng Tùng xoay ở đâu mà có cà-phê để đãi nàng.
Dung hiểu, thằng bé luôn luôn tìm cơ hội săn sóc nàng. Nàng vẫn lui tới gia đình Lan đã nhiều năm, nhưng nàng không để ý tới, không biết đứa trẻ bắt đầu quyến luyến nàng từ lúc nào. Chỉ biết từ ngày lên tàu thủy thì tình cảm của nó bộc lộ rõ ràng. Nàng không ngờ gì nữa: thằng bé “mê” nàng. Mê theo cách một đứa bé. Ngoài Dung ra hình như Lan có để ý và cũng bắt đầu hiểu, còn mọi người khác trong gia đình không biết đến. 
Lan vừa nghe đâu đó một câu chuyện người ta kể với nhau trong trại:
Một gia đình ở Sài Gòn đem nhau đi Vũng Tàu từ ngày 21 tháng 4. Họ hùn nhau với bạn bè mua ghe neo ngoài biển. Chủ gia đình là người thật cẩn thận: mặc dù có cả một cái biệt thự ở Vũng Tàu, ông ta không chịu ở. Cảm thấy tình hình có thể diễn biến bất ngờ bất cứ lúc nào, ông ta nghĩ rằng nếu ở nhà trong thành phố e không kịp xoay trở, chi bằng đem tất cả cha mẹ vợ con lên ở hẳn trên thuyền cho chắc ăn.
Những hôm đầu, thỉnh thoảng lại thấy có việc cần trở về nhà: hoặc thiếu nước đá, hoặc muốn lấy thêm chai nước nắm ngon với lạng sâm Cao Ly còn bỏ quên v.v... Ngày nào cũng có năm ba người lên bờ mua thêm lấy thêm cái này cái nọ. Riêng ông chủ gia đình, chính ông cũng có một lý do chính đáng: ông muốn nghe ngóng tình hình.
Nhưng kể từ 27 tháng 4, khi thấy tình hình đã đến độ khẩn trương thì ông nhất định cấm mọi người lên bờ, bất cứ vì lý do gì. Ông không biết đến một lý do kín đáo vẫn gây khó chịu cho bà vợ và hai cô con gái lớn. Số là ở ghe không có cầu tiêu, người ta chờ đêm tối ra ngồi ở mép ghe. Những người chưa quen, nhất là đàn bà, lấy làm một sự khổ sở. Vả lại, đây không phải là thứ ghe gia đình thông thường, mà ghe chạy nạn: người thì đông đảo, thành phần lại phức tạp, thuộc năm bảy gia đình khác nhau.
Bởi vậy, sau mấy ngày bị bế tắc, vào hôm 29-4, lúc chạng vạng tối, bà vợ ông ta len lén đem theo một đứa con nhỏ, sang một chiếc ghe nhỏ, vào bờ, định bụng giải quyết xong nhu cầu là trở ra ngay.
Bà ta ra đi vừa được năm phút thì cộng quân từ trong bờ bắn ra tùm lum. Một chiếc bị trúng đạn. Cả đoàn ghe tàu nhốn nháo, hốt hoảng, bứt chạy tán loạn ra khơi, không ai có cách gì ngăn cản cầm giữ lại được.
Ông Năm nghe xong câu chuyện, không thấy Lan nói gì thêm, ông mới lên tiếng:
— Bà vợ đó nghe nói bây giờ đang ở đảo Wake.
Lan ngạc nhiên:
— Ủa. Ba cũng biết chuyện đó hả? Làm sao bà ấy đi được?
 — Ai mà biết. Trong cái giờ phút đó thì chuyện gì cũng có thể xảy ra: Chuyện rủi, chuyện may, chuyện có lý, chuyện vô lý... Ba cũng nghe vậy thôi, chính ông chồng cũng chưa lấy gì làm chắc. Ông ta đang tiếp tục tìm cách hỏi thêm cho rõ.
— Ông nào vậy ba?
— Thì trại trưởng 216 đó. Kế cận trại mình.
Lan cười:
— Con mới nghe người ta kể, ba nghe hồi nào mà đủ đầu đủ đuôi, hay quá vậy?
Ông Năm cũng cười cười:
— Bị tao hay đi dạo loanh quanh, gặp chỗ nào cũng ráp vô nói chuyện cho vui.
“Bị” như vậy mà ông Năm càng thêm “trải”. Dù sao câu chuyện của cha con ông làm Dung giật mình lo lắng. Họ vừa gợi lên những hình ảnh hãi hùng về Vũng Tàu. Chính nàng trong mấy ngày gần đây nàng cũng tình cờ nghe được những câu chuyện liên quan đến những ngày cuối cùng ở Vũng Tàu. Có người nói đến chuyện cầu Trái Khế bị giật mìn sập làm cho lắm kẻ định chạy về Sài Gòn đón gia đình đi đành bỏ cuộc. Lại có những người kể lại những chuyện lính xách súng chạy lung tung, bắn dọa để cướp thuyền ra khơi; chuyện giết nhau ở ven biển để đoạt tiền của. Từ tờ mờ sáng cho đến suốt đêm 30-4 ấy, hình như đã diễn ra nhiều thảm cảnh trên vùng bể Vũng Tàu. Triệu đã sống những giờ ấy như thế nào? Chàng có định qua cầu Trái Khế? Cầu ở chỗ nào nhỉ? Chàng ra đi trước 30-4 hay trong ngày hôm đó? Chàng có bị uy hiếp, cướp bóc? Chàng đã chống trả, thoát được cách nào?
 Dung nói với Lan:
— Hôm mới tới mình tưởng chỉ ghé lại Guam một vài ngày. Nếu biết ở lại lâu như thế này mình đã gửi thư bảo bên Tây Đức cứ trả lời ngay cho mình, không chừng còn kịp nhận thư. Kiểu này, cứ lửng lơ hoài, mệt quá.
— Ừ, mệt ghê.
Dung biết Lan cũng vừa nghĩ tới Dũng. Anh ta là trung úy phi công, chưa kịp thâm thiết nhưng đã có một liên hệ tình cảm nhiều hứa hẹn đối với Lan. Nếu đi được, anh ta phải đi từ phi trường Trà Nóc, Cần Thơ. Nhưng cho đến lúc ấy, Lan vẫn chưa có được chút tin tức gì của Dũng.
Ông Năm nói bâng quơ:
— Chậm trễ, chờ đợi nhiều khi cũng là một cái hay. Còn chờ mình còn hy vọng. Nếu chẳng may...
Chưa kịp nói hết lời, ông Năm đã biết ngay mình vừa phát biểu một ý kiến không hợp thời. Dung hiểu sự ân hận ấy, nhìn ông mỉm cười buồn bã, an ủi:
— Đúng vậy đó, bác.
Ông Năm càng ân hận. Ông bối rối, không biết tìm câu gì để nói thêm.
Hai người con gái sau đó cũng im lặng. Dung càng lúc càng băn khoăn. Cái lạc quan lúc mới đến Asan đã tan biến nhanh chóng sau vài ngày. 

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét