Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Bài giảng của Đức Ông Huỳnh Tấn Hải - Lễ an táng Giuse Ngô Thanh Tâm (25/08/1939 – 09/04/2015)

Đức Ông
Huỳnh Tấn Hải
 
Cách đây 33 năm, vào Chúa nhật đầu tháng 09 năm 1982, sau thánh lễ Kính các thánh tử đạo Việt Nam tại nhà thờ St. Hallvard, một người đàn ông, dáng người khổ hạnh, tiến đến bắt tay chúc mừng tôi vừa thụ phong Phó tế. Tôi chưa kịp đáp lời thì người đàn ông đó đã vội lách qua một bên và mất hút trong đám đông. Trong buổi cà phê sau đó, tôi cố tìm nhưng không còn thấy bóng người đàn ông đó nữa. Vài ngày sau, tôi nhận được một lá thư nội dung mà tôi còn nhớ nguyên văn như sau: ”Một lần nữa, xin chúc mừng Thầy được Chúa chọn lên hàng Phó tế. Con là Ngô Thanh Tâm, hôm Chúa nhật vừa qua có gặp thầy ở nhà thờ St. Halvard. Cảm ơn những lời chia sẻ của thầy trong bài giảng lễ. Đối với chúng con là giáo dân, cử hành thánh thể và bài giảng lễ mỗi Chúa nhật là matpakken (gói đồ ăn) cho cả tuần. Nếu matpakken èo ọp thì chúng con coi như bị đói cả tuần”. Lời chúc mừng kèm theo lời nhắc nhở tế nhị nhưng rất nghiêm trọng này tôi vẫn ghi nhớ mãi. Và cũng từ đó tôi quen biết anh Ngô Thanh Tâm.
Những ai đã đọc chúc thư của anh qua tập sách ”Lệnh triệu ban rồi” đều biết anh sinh trưởng tại làng Thiên Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Anh đã trải qua những năm tuổi thơ không may mắn. Mẹ mất sớm. Bố bị Việt Minh bắt và khi được thả, không đủ điều kiện nuôi con đã gửi anh cho người chú để anh có thể theo học ở trường dòng. Năm anh lên 15 tuổi, năm 1954,  anh theo trường dòng vào Nam còn Bố anh ở lại miền Bắc bị Việt Minh đấu tố cho đến chết. Giữa miền Nam xa lạ, ở vào lứa tuổi bắt đầu mộng mơ, anh phải sống trong cảnh đơn côi, cô quạnh, sức khoẻ lại yếu kém, nên tính tình rụt rè và nhiều mặc cảm. Nhưng chính cái thiếu may mắn này lại là cơ duyên để anh gặp một cô gái miền Nam thật thà, giản dị, gốc Mỹ Tho, đã tình nguyện săn sóc anh trong cơn bệnh lao, để rồi tiếp tục tình nguyện nâng khăn sửa túi, và cùng anh sánh bước suốt đời. Cùng với  chị Khánh Hà, anh đã xây dựng mái ấm gia đình, mà anh coi đó như là cửa địa đàng.

Tại Na Uy, nhiều người Việt biết anh qua những chương trình truyền hình Migrapolis, anh không chỉ làm những cuộc phỏng vấn để cung cấp tin tức  nhưng luôn chuyển đạt những sứ điệp phải suy nghĩ. Nhiều người ngưỡng mộ nhà văn Tâm Thanh với lối viết luôn cân nhắc cẩn thận, những nhận xét tinh tế, nhất là luôn phản dội những suy tư đạo đức.

Riêng tôi, tôi gặp và quen biết anh suốt 33 năm qua như một người bạn đường trên hành trình đức tin. Anh ngưỡng mộ giáo lý từ bi và giải thoát của Nhà Phật. Anh quí trọng nền lễ giáo của thầy Khổng Tử, lối sống phóng đạt, siêu thoát của Lão Tử, nhưng anh luôn bám chặt niềm tin cứu độ của Kitô giáo. Và điều này không dễ dàng. Là một người sống nhiều về nội tâm và luôn đeo đuổi những suy tư, nên anh luôn phải đương đầu trước những chao đảo của niềm tin. Anh không bằng lòng sống niềm tin theo một lối mòn quen thuộc, cũng không để mình cuốn hút theo đám đông. Anh luôn muốn tìm gặp Đấng tuyệt đối qua thao thức chân thiện mỹ trong những cái thường ngày, nhưng đồng thời cũng luôn bị giày vò với những thực tế tầm thường của cuộc sống. Anh say mê lời dạy yêu thương của Chúa Giêsu, nhưng thực hành lời dạy đó giữa một xã hội muôn mặt nhiều lúc anh đã muốn bỏ cuộc, muốn quay về với những tham sân si của con người. Tôi nhớ có lần sau những va chạm trong dấn thân giữa cộng đoàn, anh đến kể chuyện với tôi, trong một tâm trạng khá bực tức, kết thúc cuộc nói chuyện, anh nói: Cha cho con gác thực hành đức bác ái lần này, chứ con không thể im lặng chịu đựng. Tôi nói với anh, anh Tâm, thực thi bác ái hay không là tự do của anh mà. Sáng hôm sau, anh điện thoại và nói: Con xin lỗi, hôm qua con nóng giận. Con đã suy nghĩ lại, một người Công giáo mà không thực thi bác ái thì coi như chối đạo. Con đã vượt qua cơn cám dỗ lấy sự dữ đáp trả sự dữ”.

Anh ghi lại trong ”Lệnh triệu ban rồi”, đối với anh, tình yêu là cái gì thật nhất, tốt nhất, đẹp nhất trên đời. Và địa ngục là nơi vắng bóng tình yêu.

Quí ông bà và anh chị em thân mến,
Bài đọc I chúng ta vừa nghe trích từ thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Corintô nói về đức Bác ái là đoạn sách thánh anh thích nhất, và anh đã ghi lại ở cuối tập sách ”Lệnh triệu ban rồi”. Thông minh, tài giỏi, làm được mọi việc mà không có đức Bác ái thì chẳng có ích gì.
Đức bác ái Kitô giáo không chỉ là lời mời gọi đạo đức giúp anh cải thiện cách cư xử đối với tha nhân, nhưng đã dẫn đưa anh đi xa hơn, đưa anh vào cốt lõi của đức tin và niềm cậy trông Kitô giáo. Chính Thiên Chúa là tình yêu. Đức bác ái là chiếc cầu nối liền thời gian và vĩnh cữu, nối kết con người với Thiên Chúa.
Nhưng từ niềm xác tín Thiên Chúa là tình yêu và chấp nhận cái hữu hạn, cái bị mát mát của đời người, hay nói theo từ ngữ của Kitô giáo, - mầu nhiệm đau khổ và sự chết - không phải dễ.

Sau khi anh nhận được tin bác sĩ cho biết anh bị ung thư, tuần thánh năm đó anh đã đến gặp tôi để nhận bí tích Giải tội và anh đã khóc sướt mướt. Cuộc giải phẫu và hoá trị tốt đẹp nhưng đến đầu năm 2014, bệnh tình lại tái phát. Sức khoẻ không cho phép tiếp tục làm hóa trị và bác sĩ khuyên anh đi du lịch cho khuây khoả. Vợ chồng anh đã đi thăm Đại Hàn. Từ Đại Hàn anh gửi một điện thư cho tôi, có phần than trách Chúa: Con ở tại một khách sạn sát cạnh một nhà thờ, con ngẫm nghĩ tinh thần Kitô giáo có thể chuyển hoá cả một quốc gia Đại Hàn, thì sao không đem lại bình an cho tâm hồn và thể xác bé mọn của con. Sau chuyến đi Đại Hàn về, sức khoẻ anh xuống nhanh và phải vào bệnh viện trở lại. Anh muốn tôi đến xức dầu và giải tội cho anh tại bệnh viện. Tôi đến và thấy anh ngồi một mình tại nhà nguyện của bệnh viện, gục đầu khóc. 

Tình yêu Chúa Giêsu đã quyến rũ anh, và quả thật nhiều lần trên giòng đời anh đã muốn cưỡng lại, nhưng rồi cuối cùng anh đã để cho Ngài quyền rũ.  Trong bệnh tật và đau khổ, anh đã hiểu hơn, bệnh tật, đau khổ là bộ máy tiết chế tinh vi, kiềm hãm cho tâm hồn khỏi sa đọa, là tiếng nhắc nhở của đấng Thiêng liêng để con người biết trở về với thân phận thụ tạo. Anh đã đón nhận đau khổ để giữ tâm hồn khỏi sa đoạ, anh đã nghe được tiếng nhắc nhở yêu thương của Đấng Thiêng liêng và đã quay về với thân phận thụ tạo của mình. Anh đã toại nguyện mọi ước mơ của cuộc đời, chỉ có 1 ước mơ chưa tròn là không thấy được quê hương Việt nam tự do no ấm, nên trong di chúc anh muốn chỉ được liệm  bằng chiếc áo lính mà anh nhận khi thụ huấn quân sự 9 tuần tại Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Cũng là chiếc áo, sau cuộc đổi đời bi đát năm 1975, anh mặc để đạp xích lô và rồi vượt biên. 

Ở những tháng ngày cuối đời, anh đã cảm nghiệm thực sự hiện diện và tình yêu của Đấng vĩnh cửu, khi sống tràn đầy phút giây hiện tại, phút giây đó trở thành thiên thu. Anh đã sống trọn vẹn những phút giây phút hiện tại ở cuối đời và đã biến chúng thành thiên thu.

Những bước chân cuối cùng của cuộc đời, anh đã dõi theo bước chân của thi hào Tagore, bình thản cài chìa khóa trên cửa, cúi đầu từ giã những người chung quanh. Anh không bước vào cõi tĩnh mịch bao la, nhưng bước theo tiếng mời gọi của Tình yêu, của Đấng yêu thương.

Trong lời tạ từ cuối cùng, anh muốn lặp lại những vần thơ của chị nữ tu Alice Aimée (1896-1976), dòng Carmelite, viết một thời gian ngắn trước khi chị qua đời:

”Tôi không biết điều gì xảy ra phía sau cánh cửa sự chết,
Nhưng tôi tin, và tôi chỉ tin có một điều:
Một tình yêu đợi chờ tôi.
Trong gió lộng, tôi sẽ ra đi.
Khi tôi chết, xin đừng ai khóc,
Bởi có một tình yêu đợi chờ tôi.
Nếu tôi có sợ hãi,
Xin hãy nhắc giùm tôi một điều:
Có một tình yêu đợi chờ tôi".

Giữa tuần thanh tĩnh của đời sống đức tin Kitô giáo, thứ Tư tuần thánh, một tuần trước ngày anh ra đi, anh điện thoại và muốn gặp tôi để nhận các bí tích cuối cùng của đời Kitô hữu. Thân xác anh đã tiều tụy chỉ còn da bọc xương, nhưng anh bình tĩnh chuẩn bị cuộc gặp gỡ rất chu đáo. Anh rất sáng suốt và vui tươi. Trước khi lãnh các bí tích, anh bày tỏ tâm tư của anh như một  bản tuyên xưng đức tin về ơn gọi của một tín hữu trong bậc sống gia đình. Anh cảm thấy chỉ còn sức để chịu nổi hai ngày nữa, anh muốn ra đi vào ngày thứ Sáu tuần thánh, tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa. Nhưng có lẽ Chúa muốn anh ra đi trong những ngày tưng bừng mừng Chúa Phục sinh, vì anh xác tín rằng chết là giây phút được tái sinh.

Chị Khánh Hà thân mến, Tiêu Dao và Như Thủy hai con thân mến, chị và hai con đã sống những tháng ngày âu lo không dám đợi chờ, đã sống những ngày, như vần thơ chị viết:
Đất trời mưa nắng bâng khuâng,
Biết tìm đâu nữa một lần bên nhau.

Chị đã hứa với anh là khi anh ra đi chị sẽ không khóc. Nhưng nếu chị không đủ sức cầm giọt nước mắt, thì chị đừng quên rằng anh vẫn hiểu giọt nước mắt của chị đan kết đau khổ, hạnh phúc và tình yêu. Giọt nước mắt muốn rút ngắn khoảng cách của chia lìa. Chị đừng quên, ở một nơi có tên gọi là vĩnh hằng, anh vẫn đợi gặp lại chị, gặp lại Tiêu Dao và Như Thủy.

Ở đó, anh cùng với mọi kẻ tin vào Chúa Kitô Phục sinh ca ngợi lòng thương xót Chúa vô biên và đức từ bi của Người muôn thuở.
Ở đó, Thiên Chúa, mà trong lời tạ từ anh gọi là Đấng Thương xót, nói với anh:


Cuối đường con đi
Không còn là đường, nhưng là đích điểm lữ hành.
Cuối giốc con trèo, không còn là giốc, nhưng là đỉnh cao tuyệt vời.
Cuối đêm tối tăm, không còn là đêm, nhưng là hừng đông rạng rỡ.
Cuối mùa đông giá, không còn là đông, nhưng là xuân ấm áp.
Cuối giờ con chết, không còn là chết, nhưng là sự sống vĩnh hằng.
(Joseph Foilliet (1903-1972).

Xin gửi anh trong vòng tay của Đấng Thương xót hôm nay và mãi mãi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét