Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

Trangđài Glasssey-Trầnguyễn - CHÀO ĐỜI KHÔNG CHA


Tôi mới hai tuần tuổi.
 
Mẹ đem tôi theo trên chuyến xe buýt liên tỉnh để đi từ quê tôi tới chỗ dạy mới. Đi cả nửa ngày mới tới. Cái lệnh đổi trường này là cách chính quyền mới trừng phạt người thân của những quân nhân miền Nam.
Mẹ gói tôi trong miếng vải tốt nhất kiếm được ở nhà. Trước cuộc đổi đời, Mẹ thường mua vải cô-tông tốt nhất và mướn người may áo quần cho anh chị tôi. Mẹ móc vớ, nón, và áo lạnh trắng thật đẹp cho mỗi đứa mặc lúc mới sanh. Mẹ khéo lắm, và lúc nào cũng dồn sự sáng tạo của mình cho con cái. 
Miếng vải cô-tông mềm duy nhất mà Mẹ kiếm được cũng không lớn đủ để gói tôi. Mẹ gói thêm vài miếng vải thô mà Dì Thơ mót được trong rương ngày hôm qua. Những vật quý giá trong rương đã bị tịch thu năm tháng trước, hồi tháng Năm. Cái rương phản ảnh một cách xác đáng cảnh nhà chúng tôi: dở khóc dở cười, trơ trụi, buồn thiu, và bị lột sạch. 

Mấy người bộ đội ập vô sáng đó khi cả nhà còn đang ngủ. Gà trong xóm còn chưa ngỏ tiếng gọi mặt trời. Họ mặc quần áo kaki xanh lá cây và đeo một cái cờ đỏ sao vàng trên tay áo, và sục sạo khắp nhà với một thứ quyền uy tối thượng. Họ ra lệnh cho Ba Mẹ đứng sát vô vách, rồi bắt đầu lấy đồ đạc như thể đang đua nhau coi ai lấy được nhiều nhất. Họ không lấy mấy cái tã vải, nên Mẹ mừng thầm trong bụng và lượm lên cất cho tôi. Lúc đó, bụng Mẹ đã bắt đầu đội lên. 
Đám bộ đội tập trung lấy những thứ tiện lợi hoặc có giá: cái tủ lạnh, chiếc xe hơi, cái truyền hình, bộ áo dài đẹp hồi đó Mẹ mặc đi dạy ở trường tiểu học gần nhà, cái ghế nhung, cái quạt máy, cái bếp ga ba nồi, bộ nồi không rỉ sét, cái xe gắn máy của gia đình, cái điện thoại, cái giường gỗ mun, cái tấm nệm, cái tủ đựng quần áo, cái tủ thờ khảm xà cừ, bộ chén kiểu Ông Bà Ngoại tặng cho Ba Mẹ ngày cưới, cái xe đạp mini ruột của Mẹ, cái máy chụp hình, bộ nữ trang đơn sơ của Mẹ, cái bàn làm việc ở nhà của Ba, vài quyển sách còn sót lại sau khi cả nhà đã đốt trụi sách vở ngày 30 tháng Tư. Họ lấy sạch. Đám bộ đội trở lại ngày hôm sau để đục nền gạch bông lên và lấy đi từng miếng một. Trong suốt hai mươi năm sau, chúng tôi ở trên một nền đất mà mỗi lần mưa xuống, nó nhũn ra và cả ba ngày sau, cứ làm cho mọi thứ trong nhà trườn tới trườn lui. Cho tới khi chúng tôi đi Mỹ. 
Cả nhà bị chặt chân. Chúng tôi không còn gì để đi lại. Không bàn ghế. Không hy vọng. Anh Hai và Chị Ba sợ quá tới nỗi sau khi người ta đã tịch thu đồ đạc và lấy gạch đi cả mấy tiếng đồng hồ sau mà cả hai còn khóc rống. Anh Hai mới bốn tuổi, Chị Ba mới hai tuổi, cùng ôm chặt lấy Ba Mẹ, nắm níu an toàn. Ba Mẹ vẫn còn bị kinh động cả mấy ngày sau đó. Ba Mẹ không biết làm gì hơn là tập thích nghi và lo cho con cái. 
Nhưng chúng tôi không ngờ là họ vẫn chưa lấy đi những gì quý giá nhất. Ít ngày sau, họ tới bắt Ba. Mẹ bắt đầu cuộc việt dã bằng nước mắt mà bốn tháng sau, khi tôi đã chào đời, vẫn chưa chấm dứt. Mẹ làm đủ mọi cách để kiếm Ba một cách vô vọng. Mẹ nhờ Ông Ngoại kiếm. Ông Ngoại đi hỏi hết những người bạn đã từng chiến đấu với Ông hồi kháng Pháp, hỏi ở đâu được là hỏi, và cam đoan với Mẹ là Ông Ngoại sẽ ráng hết sức để kiếm Ba. Cả nửa năm sau, Ông Ngoại vẫn chưa tìm được tin Ba. Nhưng ngay cả trong những tháng dài không có tin của Ba, dù chúng tôi không có lương thực dự trữ, Mẹ vẫn ráng để riêng bất cứ lương khô nào Mẹ để dành được cho Ba. Mẹ hy vọng một cách tuyệt vọng rằng Mẹ có thể gửi những thứ đó cho Ba một khi kiếm được chỗ Ba bị giam. Mẹ nguyện xin một cách mãnh liệt rằng Ba vẫn còn sống. 
Giữa quay cuồng nước mắt, lo lắng cho hai con nhỏ, và một cái thai trong bụng, Mẹ nhận được lệnh phải nghỉ dạy ở trường gần nhà. Mẹ phải chờ lệnh mới. Bao nhiêu bất định dồn dập. Mẹ phải làm gì để nuôi hai con nhỏ, chính mình, và một đứa con sắp chào đời? Mẹ lặng lẽ khóc mỗi ngày sau khi cho anh chị tôi ngủ trưa trên tấm chiếu mà Mẹ trải phía sau nhà, trên lớp gạch bể Mẹ lượm lặt được và làm thành một cái giường dã chiến. Trái tim Mẹ cũng giống như những miếng gạch: vụn vỡ, cứng trơ. 
Chỉ trong vòng hai tuần lễ, cả đời sống của gia đình đã thay đổi. Căn nhà trống hoác làm Mẹ sợ mỗi lần Mẹ ngừng tay trong lúc làm việc nhà và nghĩ tới Ba. Gió thổi thông thốc từ trước ra sau, rồi ngược lại. Không có gì cản gió. Không cả Ba. Mẹ sợ khi hỏi chính mình: Rồi cả nhà sẽ ra sao? 
Thực phẩm khan hiếm. Mọi thứ đều theo hộ khẩu. Mẹ để dành hết mớ gạo mốc Mẹ mua được hằng tháng để cho anh chị tôi. Mẹ nấu cơm trên ba cục gạch, chắt lấy nước cơm, uống làm canh. Mẹ để dành cơm cho hai đứa con nhỏ luôn phải ăn đói. Anh chị tôi càng đói thì lòng Mẹ càng no đau đớn. Mẹ không thiết ăn, và nhiều năm sau, tự trách mình rằng Mẹ đã không tiếp lương cho tôi lúc tôi còn trong bụng Mẹ. Nhưng tôi không bao giờ oán Mẹ. Tôi không bao giờ hiểu được làm cách nào Mẹ - hay bất cứ ai khác - có thể vượt qua được những tháng ngày đó. 
Chúng tôi trở thành vô gia cư ngay tại nhà mình. Mẹ xếp những thanh gỗ Mẹ kiếm được sau nhà lại với nhau và lấy dây chuối khô cột lại để làm chỗ cho chúng tôi ăn cơm. Có bữa, đang húp phần cháo tem phiếu của mình, Anh Hai hỏi Mẹ có muốn ảnh làm một cái bàn cho cả nhà không. Anh Hai mới bốn tuổi. Mẹ chỉ xoa đầu Anh Hai mà không nói gì. 
Điện nước cũng không có. Mọi thứ bị cắt, trung ương hoá, và chuẩn phát tuỳ theo nắng mưa của ông khóm trưởng. Mỗi ngày, ổng để cho nhà ổng lấy đủ nước để xài trước, rồi mới mở cho cả khóm sau. Nếu trong nhà ổng cần xài điện ban ngày, thì ổng bật điện lên. Nếu không, chỉ có điện ban đêm, từ 8 giờ tối tới 4 giờ sáng. Người dân phải tự tìm cách thắp sáng cho nhà mình trong khoảng hai tiếng trước và sau giờ có điện mỗi đêm. Nhiều khi nhà tôi đang ăn cơm thì bị cúp điện. Mẹ đốt đèn dầu để ăn cho xong, rồi mau thổi tắt để để dành lượng dầu ít ỏi mua theo hộ khẩu. Mẹ cho Anh Hai và Chị Ba đi ngủ sớm, hoặc ra trước sân đón trăng nếu đêm đó trăng rằm. 
Mấy tháng hè lết đi trong những trận mưa nhiệt đới. Mưa lớn mấy cũng thua cái dầm dề của nước mắt Mẹ tuôn. Lòng Mẹ ngập lụt những nỗi lo ngày càng trĩu nặng cho tính mạng và sự an nguy của Ba. Trong những đêm mưa lớn mà cúp điện, Mẹ vừa ôm Anh Hai và Chị Ba, vừa chống chọi với đau lưng của thai kỳ cuối. Sấm đánh rầm rầm trên mái tôle, sách nhiễu mấy lớp hợp kim và cả những con người đang co rúm bên dưới. Giữa những tiếng sét chói tai, Mẹ nghe được cả nỗi ai oán của đời mình trong đó. Anh Hai và Chị Ba không còn quần áo ấm để mặc nữa, cũng không còn mền để đắp những đêm mưa. Cả hai cuộn tròn như hai con mèo trúng nước, rút vô mình Mẹ cho đỡ sợ và cho ấm. 
Giống như mọi người, Mẹ không được đi đâu xa. Ngay cả khi Mẹ xin ông khóm trưởng cho đi thăm Ông Bà Ngoạiở xã kế bên, ổng cũng không cho. Mẹ là người tù không có danh xưng. Nỗi lo và ức uất bào mòn sức chịu đựng của Mẹ từng ngày. Ông khóm trưởng lệnh cho Mẹ nghỉ dạy một cách đột ngột, mà cũng không cho biết sau này có được đi dạy lại hay không. Mẹ trồng rau trong miếng đất nhỏ trước nhà để có cái ăn, nhưng trồng mấy thì cũng không đủ cho hai đứa bé háu đói. Mẹ muốn tạo một mảnh vườn trong lòng mình để trồng một chút hy vọng, nhưng cũng không có chỗ. Lo sợ và oán giận đã chiếm hết. 
Tháng Chín. Tôi ra đời sớm mấy tuần. Bà Tám Thỉnh, bà mụ đỡ đẻ trong xóm, quen biết Ông Bà Ngoại và hồi trước 75 hay được Ông Bà Ngoại giúp. Khi Mẹ sai Anh Hai qua kiếm, bả tới liền chỉ trong ít phút. Bả nói Mẹ vịn vô vách rồi ngồi chồm hổm trên đất. Bà Tám Thỉnh đem theo mớ rơm mới để lót chỗ Mẹ ngồi. Mẹ đã nở được tám phân. Mẹ đau bụng oằn oại, nhưng Mẹ không để bật ra tiếng rên nào. Mẹ không muốn Anh Hai và Chị Ba sợ. Hồi nãy, Mẹ đã biểu cả hai dắt nhau ra phía trước chơi. Anh chị tôi không biết nên vui hay nên sợ. 
Sau mấy lần rặn, Mẹ hét lên một tiếng. Bà Tám Thỉnh reo lên, “Con gái!” Bả lẹ làng lau chùi tôi với cái khăn lông Mẹ đã chuẩn bị sẵn, và sau khi gói tôi lại trong một cái khăn lông khác, bả đặt tôi lên giường gạch dã chiến mà Mẹ làm, rồi đỡ Mẹ dậy. Bả dọn sạch chỗ Mẹ ngồi đẻ, rồi lấy miếng gừng tươi bả đem theo để nấu nước ấm cho Mẹ uống trước khi bả về. Mẹ kêu Anh Hai và Chị Ba vô gặp tôi. Cả hai líu ríu dắt díu nhau, từng bước từng bước từ phía trước ra phía sau căn nhà trống hoác. Khi tới bên cái giường gạch vụn, cả hai cùng dừng và đứng hồi lâu. Mẹ kêu đi tới, mà anh chị còn sợ. Anh chị thấy tôi nhỏ quá, sợ làm tôi đau. 
Tôi cũng khoẻ, nhưng không chịu khóc. Hình như tôi khóc rất ít. Làm Mẹ lo. Mẹ tự trách mình đã khóc quá nhiều trong bốn tháng cuối có mang tôi, nên chắc đã làm cho cảm xúc của tôi bị tê cứng. Mẹ cho tôi bú thường xuyên, ngay cả những lúc tôi không nhép môi đòi ăn, Mẹ cũng cho tôi bú. Mỗi lần Mẹ ôm tôi trên ngực, Mẹ dặn tôi phải nút cho hết cái bầu sữa ít ỏi của Mẹ, để cơ thể của Mẹ biết mà tiếp tục làm thêm sữa cho tôi. Mẹ nói năm học mới đã bắt đầu, rồi Mẹ sẽ sớm được đi dạy trở lại và mua thức ăn cho ba chúng tôi. Mẹ nói rồi cả nhà cũng sẽ bình yên, nhưng giọng của Mẹ nghe không thuyết phục. 
Anh Hai không được đi học trường mẫu giáo trong xóm nữa vì Mẹ không có tiền đóng tiền ‘dân’ theo luật mới. Anh nhớ Thầy Cô, bạn bè, rồi không biết tại sao, những bài đồng dao Anh thích hát mới mấy tháng trước bây giờ cũng không còn sức hút nữa, nhưng cũng là điều tốt. Anh Hai không được hát những bài này nữa. Trẻ con phải học những bài hát mới, ngợi ca Bác Hồ, Đảng Cộng Sản Việt Nam, Ông Lênin, Ông Stalin, và mười năm sau có thêm Ông Góc Ba Chóp. Ngay cả khi Mẹ hát ru Chị Ba và tôi ngủ, Mẹ cũng hát thật kín đáo. Không gian và âm thanh nhũn vào nhau thành một sự thinh lặng vô biên bóp nghẹt chúng tôi. 
Chỉ một tuần sau khi sanh, Mẹ nhận được lệnh về dạy ở trường xa ngoài Xuân Lộc, một trong những vùng kinh tế mới. Mẹ phải ra nhận lớp tuần sau đó. Ông khóm trưởng đã báo cáo lên cấp trên về việc tôi chào đời, và nhận được giấy lệnh cho Mẹ phải dọn đi. Để chuẩn bị dọn nhà, Mẹ được phép đi thăm Ông Bà Ngoại ở xã bên cạnh. Không có điều kiện để liên lạc thường xuyên, Mẹ không thể báo để Ông Bà Ngoại đến giúp một tay trong lúc Mẹ sanh nở. Không có một người lớn nào khác trong nhà, nên bất cứ đi đâu, Mẹ cũng phải đưa Anh Hai và Chị Ba đi theo. Để thu xếp mọi chuyện đâu vô đó trước khi lên đường, Mẹ phải hỏi ý kiến Ông Bà Ngoại coi phải lo cho Anh Hai Chị Ba như thế nào. Ai cũng biết vùng kinh tế mới rất khắc nghiệt đối với trẻ con. Mẹ bắt buộc phải đưa tôi theo tới trường mới vì tôi vẫn còn phải bú sữa Mẹ. 
Mẹ đỡ Anh Hai và Chị Ba lên yên sau của chiếc xe đạp duy nhất còn sót lại, rồi đặt tôi trong một cái túi vải mà Mẹ cột vô trước ngực. Cả nhà khởi hành. Bốn mẹ con từ từ đi qua những con đường trống. Sau cuộc đổi đời, mọi người được lệnh ở trong nhà và không được tụ tập, hội họp. Bụng và chỗ kín của Mẹ còn đau vì mới sanh. Mỗi lần đi qua những cái ổ gà đầy dẫy trên suốt đường về nhà Ngoại, Mẹ lại rên nho nhỏ. Nhưng Mẹ cứ đạp tiếp. 
Hai tiếng sau thì tới nhà Ngoại. Thường chỉ đi một tiếng là tới, nhưng tại Mẹ còn như vậy nên mới lâu hơn. Anh Hai và Chị Ba thiệt là ngoan. Cả hai ôm Mẹ thiệt chặt, và không nhúc nhích suốt dọc đường. Ông Bà Ngoại hối hả chạy ra cửa đón Mẹ con chúng tôi và đỡ anh chị tôi xuống. Bà Ngoại không ngớt cằn nhằn sao Mẹ không tìm cách báo tin đã sanh tôi, và không nên đi ra ngoài như vậy, nhất là không nên đạp xe đạp chỉ có mấy ngày sau khi sanh. Ở Việt Nam, phụ nữ mới sinh thường phải ở trong nhà cả tháng để được chăm sóc và hồi phục. Trong hoàn cảnh của Mẹ thì chuyện nằm trong nhà để dưỡng sức sau khi sanh là chuyện không tưởng. Bà Ngoại đón tôi từ tay Mẹ và hôn nhẹ lên trán tôi. “Con đặt tên cho em là gì?” Ngoại hỏi. Mẹ nói cho Ngoại biết và kể lại, mấy tháng trước, Ba Mẹ đã chọn tên cho tôi trước khi Ba bị bắt đi. 
Ông Bà Ngoại sống ở miệt ruộng, trên mảnh đất mà thân sinh của Ông Ngoại đã khai khẩn. Ông Bà Ngoại xây nhà bằng những vật liệu từ thiên nhiên: mấy cây dầu gió để làm cột lớn, tre để làm sườn nhà, lá dừa nước phơi khô để làm nóc và vách, lạc dừa để cột lá vô sườn nhà hay nóc nhà khi lợp. Ông Bà Ngoại mua mấy tấm gỗ mỏng ở tiệm mộc dưới thị xã, ở gần nhà chúng tôi, để làm cửa sổ. Những vật liệu thiên nhiên này làm cho căn nhà thoáng khí, thích hợp và dễ chịu cho khí hậu nhiệt đới. Ngôi nhà ba căn này đã che chở cho bốn thế hệ của gia đình Mẹ: Ông Bà Nội của Mẹ, thế hệ của Ông Ngoại, thế hệ của Mẹ, và thế hệ chúng tôi. 
Âm thanh chuyền đi xa và rõ ở miền quê. Dì Thơ, con thứ năm trong gia đình, đang làm cỏ ngoài gò ổi, đã nghe Mẹ nói chuyện với Ông Bà Ngoại. Dì chạy vô. Không kịp chào hỏi Mẹ và anh chị tôi, Dì nhìn tôi ngủ ngon lành trong tay Bà Ngoại, rồi chạy thiệt lẹ xuống bếp để rửa tay. Xong Dì tới bồng tôi từ tay Bà Ngoại. “Con nhỏ giống Ba nó như đúc,” Dì Thơ nói. Dì nói, tôi là con mèo, sẽ rượt Mẹ và Anh Hai chạy vòng vòng, bởi vì cả hai người cùng sanh năm Tí, cách nhau hai con giáp. 
Dì Hiền, em út của Mẹ, cũng biết chúng tôi lên chơi ngay từ đầu, nhưng đang kẹt nấu cơm trên bếp củi phía sau nên không thể chạy lên được. Chắt cơm xong, Dì dụi lửa trong cái bếp ba cục gạch kê lại, rồi chạy lên. Dì Hiền luôn từ tốn và hiền lành. Mẹ với Dì Hiền giống Ông Ngoại lắm, nên có tóc quăn. Dì Hiền tới gặp tôi và nói thiệt nhỏ, như chỉ để mình tôi nghe, “Coi đó. Ai mà sướng quá vậy.” 
Mẹ báo cho Ông Bà Ngoại và hai Dì biết Mẹ phải chuyển qua vùng kinh tế mới để đi dạy trong ít ngày nữa. Mẹ sẽ đem tôi theo, nhưng Mẹ chưa biết phải tính sao với Anh Hai và Chị Ba. Mẹ nghĩ là anh chị tôi theo Mẹ không tiện, vì ai cũng biết điều kiện sống ở những vùng kinh tế mới còn rất khó khăn. Mẹ nói không biết có nên đưa anh chị tôi về trên này ở với Ngoại không, nhưng phải có người coi cái căn nhà dù trống hoắc nhưng rất mực dấu yêu của chúng tôi. Chúng tôi phải giữ tất cả những gì có thể giữ được, nhất là căn nhà, để khi Ba được thả về hoặc khi Mẹ được chuyển về lại trường cũ còn có chỗ ở. Mà anh chị tôi chắc chắn cũng cần chỗ để ở. Mẹ cũng không muốn con cái phải đi theo mình, vì như vậy anh chị tôi phải cùng Mẹ gánh chịu hình phạt gắt gao của chính quyền mới. 
Dì Thơ trước là sinh viên luật, nhưng trường đại học của Dì ở Sài Gòn đã bị đóng cửa sau cuộc đổi đời và sau đó bị giải tán. Dì sẽ không hoàn tất chương trình học được. Chính quyền mới đã ra sắc lệnh là hệ thống giáo dục mới sẽ hoàn toàn khác với nền giáo dục ở miền Nam trước 75, trước khi bị họ tiến chiếm. Dì Thơ trở về giúp Ông Bà Ngoại canh tác. Dì nói Dì sẽ xuống ở nhà chúng tôi để lo cho anh chị tôi. 
Mẹ cám ơn em gái đã sẵn lòng giúp đỡ mình trong lúc hoạn nạn. Vì chưa ai ăn trưa, nên Ông Bà Ngoại nói Dì Hiền mau dọn cơm. Anh Hai và Chị Ba thích lắm, vì cơm nhà Ngoại lúc nào cũng ngon và ấm cúng. Bà Ngoại thúc Mẹ ăn thêm cho có sữa, nhưng tâm trí Mẹ còn hoang mang với việc thay đổi chỗ ở bất ngờ. Việc ăn uống từ lâu đã trở thành hình phạt cho Mẹ. Mặc dù bây giờ Mẹ đã an tâm là Dì Thơ sẽ chăm lo cho anh chị tôi, nhưng lòng Mẹ trĩu nặng nghĩ đến việc xa hai con. Mẹ ráng sức nhai uể oải mà chỉ ăn được một chén cơm nhỏ. 
Ông Bà Ngoại kêu Mẹ ở lại chơi thêm một lát để anh chị tôi chạy ra vườn trái cây chơi, nhưng Mẹ sợ ông khóm trưởng làm khó dễ và đòi tiền phạt nếu chúng tôi về trễ. Mẹ xin phép Ông Bà Ngoại để đưa chúng tôi về. Dì Thơ nói để Dì chở Mẹ và tôi, còn Dì Hiền thì chở Anh Hai và Chị Ba. Bà Ngoại xuống bếp và gói tất cả đồ ăn mà Ngoại đã nấu sáng đó cho chúng tôi. Ngoại quay qua cái cũi gỗ đựng đồ ăn rồi lấy ra rổ cá khô mà hai Dì đã phơi tuần trước. Ngoại chọn mấy xâu cá ngon nhất rồi gói trong lá chuối khô được giữ trong bếp để xài cho nhiều chuyện khác nhau. Dì Thơ chạy ra vườn hái một giỏ trái cây thiệt lớn cho chúng tôi. Dì Hiền ra đìa hái một rổ rau muống nước, thân màu tím. Ông Ngoại bắt ba con cá đang rộng trong khạp đất mà Ông Bà Ngoại để dành ăn từ từ, bỏ vô túi đệm, rồi lấy dây lạt cột chặt miệng giỏ lại. Ông Ngoại còn lấy thêm cho chúng tôi một bao gạo nhỏ. Đây là gạo ngon nhất tỉnh, vì Ông Bà Ngoại luôn chịu mất tiền mua giống tốt nhất. Chỉ trong ít phút, chúng tôi nhận được thức ăn ngon bổ cho suốt mấy tuần lễ, và tình thương đủ cho mấy đời người. 
Bà Ngoại lần lưng quần, lấy ra cái khăn vải đã xếp làm đôi và cuộn tròn. Bà Ngoại từ từ mở ra, ở giữa là một xấp tiền giấy xếp ngay ngắn. Bà Ngoại lấy phân nửa số tiền đưa cho Mẹ. Mẹ khe khẽ đẩy tay Bà Ngoại ra rồi nói, "Con không lấy đâu, Má. Má giữ đó để còn lo trong nhà." Bà Ngoại không vui, "Đừng có dại. Con phải có tiền để lo mắm lo muối khi tới nơi. Còn lo cho con nhỏ nữa." Bà Ngoại không nói thêm tiếng nào, mà nhét tiền vô túi áo Mẹ với sự dứt khoát đầy yêu thương. Ngoại ẵm tôi lần cuối, rồi dặn tôi phải mau lớn và được bình an. Người ta thường dặn trẻ con phải ăn nhiều để mau lớn, nhưng hình như cái phần ăn-nhiều bị bỏ rớt đâu mất, vì ở thời buổi đó, nói như vậy nghe giống như đang mỉa mai. 
Mẹ cám ơn Ông Bà Ngoại đã chăm chút thương yêu chúng tôi, và dặn Ngoại giữ gìn sức khỏe. Mẹ xin lỗi đã không lên thăm Ngoại trong mấy tháng qua, vì Mẹ có xin phép nhiều lần mà không được phép đi. Trong những lần Mẹ xin phép đi qua xã bên để thăm Ngoại, ông khóm trưởng đã có lần nói với Mẹ, "Chừng nào ổng bả chết, tui chắc chắn cho chị hay." Những lời nói đó làm Mẹ đau lòng, nhưng Mẹ vẫn tiếp tục xin, dù không có kết quả. Mẹ nói không biết lúc nào Mẹ mới về được, và xin Ông Bà Ngoại dòm ngó hai anh chị tôi dùm. Ông Ngoại có thể xin phép đi xuống thăm Dì Thơ và anh chị tôi vì hồi trước, Ngoại có đi kháng chiến chống Pháp, và chính quyền địa phương cũng có lúc châm chước cho Ngoại những trói buộc gắt gao mà người trong làng phải chịu. Thỉnh thoảng thôi. 
Dì Hiền đi vô buồng lấy ra ba cái áo bà ba đẹp nhất của Dì. "Chị ơi, Chị đem theo mặc đi dạy. Chắc Chị không còn mấy cái," Dì nói. Mẹ không lấy, nhưng Dì không chịu. Dì đã bắt đầu học may áo quần mấy tháng nay, và đã may quần áo cho trong nhà. Dì Thơ xếp năm bộ quần áo của Dì còn sót lại sau mấy lần tịch thu, rồi bỏ hết vô trong cái giỏ làm bằng sọc nylông nhiều màu. Dì dắt xe của Ông Ngoại ra rồi treo cái giỏ quần áo của Dì lên tay cầm. Xong Dì treo tiếp mấy túi đồ ăn lên xe đạp, rồi kêu Mẹ ngồi lên yên sau. Sau khi khoanh tay cúi đầu thưa Ông Bà Ngọai, anh chị tôi được đỡ lên ngồi trên băng sau của xe chúng tôi. Chúng tôi đạp về khi mặt trời bắt đầu rời chính ngọ và ngả về hướng Tây. 
Vừa về tới nhà, Dì Hiền phụ một tay đem đồ đạc xuống, rồi lật đật trở về nhà Ông Bà Ngoại vì sợ ông khóm trưởng thấy, sẽ hỏi giấy phép đi đường mà Dì không có. Mẹ bắt đầu soạn hành lý để lên đường. Dạo đó, Mẹ làm gì cũng lâu hơn bình thường, nhất là soạn hành lý đi xa như vầy. Mẹ cứ ngừng tay rồi ngồi đó thở dài, lắc đầu nhè nhẹ như đang nói chuyện với ai trong đầu. Mẹ chỉ còn ở nhà được ít bữa nữa thôi. Dì Thơ hỏi Mẹ có được tin gì của Ba chưa, vì hồi nãy ở nhà Ngoại ai cũng rối trí với chuyện Mẹ phải đi xa bất ngờ nên Dì chưa kịp hỏi. "Chưa," Mẹ nói mà không nhìn lên. Mẹ đang giấu nước mắt. 
Sáng bữa sau, Dì Thơ đi với Mẹ lên gặp ông khóm trưởng để báo cáo là Dì sẽ sống ở nhà chúng tôi để chăm sóc cho anh chị tôi. Mẹ đã chuẩn bị quà lễ ẩm thực mà Mẹ đau lòng rút từ phần thức ăn Ông Bà Ngoại chia sớt cho chúng tôi. Cuộc sống của tất cả chúng tôi đều tùy thuộc vào việc ông khóm trưởng sẵn lòng cho Dì Thơ ở nhà chúng tôi hay không. Mẹ phải hy sinh thức ăn quý báu của chúng tôi với hy vọng tìm được sự yên ổn. Ông khóm trưởng mở giỏ, nhìn soi mói bên trong, thò tay kéo chùm cá khô lên để ngắm nghía, rồi một sự thỏa mãn háo hức tràn ra trên mặt ổng. Ổng răn đe Dì Thơ phải ở yên một chỗ và không được đi lung tung. Khi Mẹ xin ổng rộng lòng viết dùm ít chữ bảo chứng là Dì được phép ở lại, phòng trường hợp hạ cấp của ổng đến hạch hỏi giấy tờ, thì ổng nói để ổng coi. Ổng chỉ quan tâm đến chuyện tận hưởng cái giỏ thức ăn Mẹ tôi vừa dâng nộp chứ không màng đến chuyện giấy tờ. Mẹ và Dì Thơ hiểu ý nên mau mắn chào rồi ra về. 
Anh Hai và Chị Ba bắt đầu hoảng hốt về ngày ra đi đã gần kề của Mẹ. Cả hai đều hứa sẽ nghe lời Dì Thơ, nhưng cứ hỏi không biết bao nhiêu câu hỏi về chuyến đi bí hiểm của Mẹ và tôi. Anh chị tôi ghen tỵ với tôi vì tôi được đi theo Mẹ. Chị Ba cứ lập đi lập lại, "Có xa hôn Mẹ?" Chị hỏi hoài đến nỗi làm cho câu hỏi nghe như một điệp khúc trong một bài hát chỉ có điệp khúc. Chị Ba hỏi riết mà cứ đứng đó chờ Mẹ trả lời. Nhưng Mẹ đã cạn kiên nhẫn. Mẹ không chịu trả lời nữa và kêu Anh Hai dẫn Chị Ba đi ra ngoài trước chơi. Trước khi đi, Anh Hai còn ráng hỏi thêm, "Rồi Mẹ có nhắn về cho tụi con biết Mẹ ở đâu hôn Mẹ? Chắc lần này không giống như hồi Ba đi đâu há Mẹ." Mẹ không trả lời Anh Hai. Vì Mẹ cũng không có câu trả lời cho chính mình. Anh Hai chờ một chút với đôi mắt thành khẩn buồn thiu, rồi như cảm nhận được sự im lặng của Mẹ, Anh nắm tay Chị Ba rồi dắt Chị ra phía trước. Hai anh em chơi với mấy vỏ sò tìm được trong nhà, từ chuyến đi biển của Ba Mẹ trong những ngày gia đình còn bình yên hạnh phúc. 
Hai ngày sau khi Dì Thơ xuống ở nhà chúng tôi, ông xã trưởng khám nhà Ông Bà Ngoại và hạch hỏi về sự vắng mặt của Dì. "Nó sẽ bị trừng phạt đích đáng," ông xã trưởng nói hết sức kiên quyết. Ông Ngoại điềm đạm giải thích về lệnh thuyên chuyển Mẹ về chỗ dạy mới chỉ ít ngày trước, và vì vậy cần có người coi sóc anh chị tôi. Ông xã trưởng, dù nhỏ tuổi hơn Ông Ngoại tôi rất nhiều, lớn tiếng, “Tại sao ông không đến xin phép tôi? Nó không được phép chạy rong như gà ra ràng. Ông không tôn trọng chính quyền hả?” Bà Ngoại biết ý ông xã trưởng. Ngoại xuống bếp và gom một bịch gạo thơm và hai con cá lớn vô một cái nả thiệt lớn. Ngoại trở lên nhà trên rồi nhẹ nhàng nói, “Ông xã trưởng thông cảm dùm, cho vợ chồng tui xin lỗi nghen. Con gái tui phải đi xa gấp quá. Ông làm ơn bỏ qua sơ xuất của tụi tui một lần này thôi.” Ông xã trưởng liếc qua những vật hối lộ, rồi đứng bật dậy. “Chỉ lần này thôi. Mấy người cần phải học cách vâng lệnh chính quyền,” hắn ta nhấn mạnh từng chữ cách hằn học, quơ túi gạo và cá, rồi lĩnh. 
Đã tới ngày Mẹ và tôi lên đường. Sau khi nhắc Dì Thơ cách chăm sóc trẻ em, Mẹ ôm anh chị tôi vào lòng một cách trìu mến. Mẹ dặn anh chị phải ngoan khi Mẹ không có nhà, và nói Mẹ thương cả hai rất nhiều. Chị Ba bật khóc, và níu lấy Mẹ. Anh Hai đứng kế, nước mắt chảy ròng ròng, nhưng không khóc ra tiếng. Chị Ba lắp bắp đứt quãng giữa những tiếng khóc nấc nghẹn ngào, “Mẹ… Mẹ… Mẹ… ở nhà thêm bữa nữa, nghe Mẹ?” Mẹ không muốn trễ chuyến xe buýt duy nhất trong ngày. Mẹ xiết chặt anh chị tôi một lần nữa, đặt tôi vô trong túi vải, cột túi vô ngực như lần Mẹ chở tụi tôi về thăm Ông Bà Ngoại. Mẹ đeo cái túi đồ của tôi trên vai trái. Trong túi có mấy cái tã vải, đồ em bé tôi thừa hưởng của anh chị, và một cái khăn lông. Mẹ đưa tay trái đỡ lấy túi vải để ôm tôi vô ngực. Bên tay phải, Mẹ xách cái giỏ đựng quần áo của Mẹ, một cái nồi, hai cái chén, ít gạo và cá khô của Ông Bà Ngoại cho. Mẹ bước từ từ nhưng cương quyết ra phía trước nhà. Dì Thơ ôm anh chị tôi trong tay. Cả ba ngồi ở cửa trước, nhìn theo Mẹ và tôi. Tiếng Chị Ba khóc thút thít xen lẫn với tiếng nấc cục buồn tủi. Mẹ đi tiếp. Nhọc nhằn. Trái tim Mẹ chắc nặng ngàn cân. Mặt trời như đã héo hắt dù mới giữa ngày. 
Mẹ con tôi phải mất gấp đôi thời gian mới ra tới trạm xe buýt vì Mẹ vẫn còn yếu sau khi sanh và vì những biến động mới nhất. Chúng tôi tới nơi cũng vừa kịp lên xe. Mẹ lấy một trong mấy tờ giấy bạc Bà Ngoại cho để trả tiền xe buýt. Anh lơ xe chụp lấy cánh tay Mẹ rồi đẩy lên bậc thang cuối cùng bên trong xe buýt, chộp lấy tiền trong tay Mẹ, rồi đóng sầm cửa lại. Anh ta leo lên mui xe và ở trên đó. Xe buýt lúc nào cũng quá tải, vì thời đó không có phương tiện di chuyển nào khác. Tất cả các xe con và xe gắn máy đều đã bị tịch thu. Chỉ có xe đạp cà tàng mới bị bỏ lại cho dân trong những lần tịch thu. Tuy có nhiều người có ghe và có thể dùng đó làm phương tiện di chuyển, họ vẫn phải tuân theo những luật gắt gao cũng giống như khi đi lại trên cạn. Xin giấy phép đi đường thuỷ còn khó hơn vì Nhà Nước đã chú trọng vô an ninh trên cạn, và chưa thiết lập những trạm gác đường thuỷ. Nhưng ngay năm sau đó, Nhà Nước đã kiểm soát gắt gao di chuyển đường thuỷ vì nhiều người bắt đầu vượt biên từ các hải khẩu.
 Xe buýt chật đến nỗi không có chỗ để đứng. Mọi người chen chúc nhau để thở. Mới lên xe ít phút là Mẹ con tôi đã nếm đủ mồ hôi của những người đang đứng, quỳ, ngồi xung quanh. Tài xế xe buýt hay thắng gấp, và mỗi lần thắng, thì hành khách lại dạt tới dạt lui một lượt, như một dề cá trong cái tàu đang lắc lư. Mẹ xoay mặt ra cửa và đứng trụ một khoảng cách để cho tôi có chỗ mà thở. Biết có người cứ nhìn mình, Mẹ quay lại và bắt gặp ánh mắt sỗ sàng của một thằng dê sồm. Mẹ trừng mắt liếc hắn, và hắn quay đi. 
Xe buýt ngừng nhiều lần để cho người ta lên hoặc xuống. Mỗi lần ngừng, anh lơ xe lại la lớn tên chỗ ngừng. Hành khách đứng ở cửa trước và sau phải xuống xe mỗi lần xe ngừng dù đó không phải trạm xuống của họ. Anh lơ xe thường hỏi những người xuống xe coi họ có xe đạp ở trên mui không. Những người bạn hàng bán lẻ cũng để hàng hoá trên mui. Có nhiều người muốn đem súc vật sống lên xe, như gà vịt, nhưng mấy con vật này xông mùi hôi nồng nặc nên hành khách ai nấy đều phản đối. Gà vịt sống cũng phóng uế bừa bãi, vừa khó chịu cho hành khách, vừa thêm việc cho anh lơ xe. Nhưng anh lơ cũng tảng lờ ngó lơ nếu bạn hàng đó là khách thường xuyên, và vì vậy, là một thân chủ quan trọng. Chỉ trừ khi người bán gà vịt lên xe trước tiên, thường họ bị hành khách trên xe áp lực để đưa gà vịt lên mui. Dù vậy, nhưng cũng có những bạn hàng hung dữ và ngang nhiên đưa gà vịt sống lên xe dù họ đón xe giữa chừng. Nhiều người la ó và phàn nàn nhưng vô hiệu. Sau một hồi, xe buýt tiếp tục lăn bánh, tiếng phàn nàn cũng tan đi. 
Sau khi hành khách cần xuống xe đã đi rồi, những người đứng ở bậc thang chỗ cửa xe buýt lại trở lên xe. Mẹ cứ phải leo lên leo xuống như vậy cho tới khi chúng tôi tới trạm xe của tỉnh, vốn chỉ là một bãi đất trống với một cái cổng ghi địa danh của nơi đó. Nhà Nước vẫn chưa thiết lập mọi thứ đâu ra đó, và trạm xe buýt là một trong những thứ còn đang dở dang. Năm sau, các trạm và tuyến xe buýt được ấn định, nhưng nhiều thứ khác vẫn mãi còn dở dang hàng thập niên sau, như nhân phẩm và quyền tự do. Bởi vì thiếu phương tiện giao thông, ai cũng đón xe buýt khi cần đi lại. Xe buýt cứ ngừng bất cứ nơi nào có một hành khách tương lai đang đứng chờở lề đường và đã vẫy tay rối rít ngay từ khi xe vừa mập mờ ló dạng từ xa để kêu xe ngừng. 
Chuyến xe buýt nửa ngày làm Mẹ và tôi nhừ tử. Cả chuyến đi chỉ mất bốn tiếng, nhưng Mẹ phải lên xe xuống xe cả chục lần. Tôi không khóc nhiều lúc đi xe, nhưng bị người ta thúc cùi chỏ cũng mệt, dù Mẹ hết mực che chắn cho tôi. Khi chúng tôi đến nơi, trời đã chạng vạng tối. Mẹ phải kiếm một hồi mới ra địa chỉ trường. Nó cũng không thật sự là một cái trường, mà là một căn nhà tranh vách đất với nhiều vách ngăn để cho việc dạy tạm. Lúc đó Mẹ mới biết là Mẹ phải mướn một cái chái phía sau cái nhà kế bên trường. Ông bà chủ nhà là một cặp vợ chồng già, bà con ruột thịt của ông hiệu trưởng nên được sống ngay tại trường. Họ ở đó coi trường. Nhà Nước đã chỉ định cho Mẹ tôi ở đó, để ông bà gác trường có thể theo dõi mọi hành tung của Mẹ và báo cáo lên ông hiệu trưởng, để ổng lại báo cáo lên cấp trên của ổng. Sự sắp xếp này mang lại một thu nhập lớn cho đôi vợ chồng già, bên cạnh tiền lương giữ trường và tiền lời họ thu được từ việc bán bánh kẹo cho học trò trong giờ chơi. Chỉ nhờ quan hệ máu mủ mà ông bà gác trường mới được chỗ tốt như vậy, nên họ cũng phải biết hậu lễ cho tương xứng nếu không thì mất. 
Mẹ cám ơn ông bà gác trường đã cho mướn nhà, và hứa sẽ trả tiền nhà liền khi lãnh lương tháng đầu. Đồng thời, Mẹ cũng biếu họ ít cá khô và gạo thơm để ăn lấy thảo. Thức ăn ngon có lẽ là quà tặng ưa thích nhất của mọi người lúc đó. “Cao lễ dễ thưa,” quà tặng càng quý thì nói năng càng dễ. Mẹ đã học cách sống bằng câu tục ngữ này suốt mấy tháng nay. Mẹ hỏi xin một ca nước nếu ông bà không phiền. Bà lão vui vì Mẹ đã biếu thức ăn, và thông cảm đàn bà con mọn đang cho bú mà phải đi đường xa. Bà về nhà và quay lại với một cái lon đã rỉ sét. Người dân ở đây uống nước múc về từ một cái ao trong vùng. Mẹ uống một hơi không chớp mắt. 
Nhà mới của chúng tôi là một căn phòng nhỏ tạm bợ được dựng thêm ở vách sau của nhà vợ chồng người gác trường. Chúng tôi sống trong thời đại của tạm-bợ-mọi-thứ. Mẹ để giỏ xuống trên sàn đất, nhìn quanh phòng. Mẹ quyết định tối nay, hai mẹ con sẽ ngủ ở kế cái vách sau. Cả cái phòng và cánh cửa duy nhất được làm bằng khung tre và những tàu lá chuối khô bện thành những mảng dầy. Cánh cửa được cột vô vách sau của nhà ông bà quản trường bằng một hàng dài những dây chuối khô. Không có khoá. Mẹ kiếm trong giỏ ra một sợi dây vải rồi cột cái thanh tre trên mép cửa với thanh tre trên vách kế bên. Ba bức tường và mái nhà đều làm bằng nẹp tre và lá chuối khô bện lại. 

Vừa cột dây đóng cửa xong, Mẹ ngồi xếp bằng như toạ thiền trên nền đất rồi mở nút áo cho tôi bú. Tôi nút ngon lành. Đó là lần thứ hai tôi được bú trong ngày. Mẹ tìm nhiều cách để cho tôi bú trong lúc đứng trên xe buýt bị người ta dồn đẩy vào cái cửa xe kêu rưng rức, nhưng vô hiệu. Tôi nút hết sữa thì ngủ liền. Mẹ quấn tôi lại trong cái khăn lông mà Mẹ đem theo cho tôi để cho tôi ấm. Sàn nhà không dơ, nhưng cũng chưa được quét. Mẹ thấy có mấy tàu chuối khô nằm ngổn ngang ở góc phòng, chắc còn sót lại khi họcấp tốc dựng cái phòng này để làm nhà mới cho mẹ con tôi. Mẹ ôm tôi một tay, tay kia cầm một tàu lá chuối khô để quơ cho sạch khoảng đất gần vách tường phía trong. Mẹ giũ mấy tàu lá chuối cho sạch bụi, rồi xếp chúng thành cái nệm tạm bợ. Mẹ ôm tôi trên ngực rồi nằm xuống. Mấy tay chuối khô cứng thọc vô lưng Mẹ, nhưng Mẹ đã ngủ mất rồi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét