Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Thảo Trường - Đá mục (Kỳ 4)


Khi cho rước lễ, một số các vị giáo dân lên phụ giúp linh mục. Trong số những người bưng đĩa bánh phân phát cho giáo dân có một bà Mỹ quen thuộc hằng ngày, bà mặc quần đùi áo thung, hồi mới sang ông lão thấy thế cho là kỳ cục lắm, không nghiêm chỉnh, nhưng rồi sau cũng như xung quanh, không ai cho trang phục hở đùi của bà Mỹ thừa tác viên này là xấu xa cả. Trong thời khắc biểu sinh hoạt hằng ngày của bà, sáng dậy chạy bộ “exercise” hai miles, ghé nhà thờ dự lễ và làm phận sự tông đồ, xong, vừa ra khỏi nhà thờ, bà chạy tiếp hai miles trở về. Có một dạo bà vừa chạy bộ vừa lần chuỗi đủ năm chục, nhưng sau bà đã dứt khoát không để lẫn lộn kinh sách với việc khác như thế nữa. Bà lần chuỗi vào trước giờ ngủ mỗi buổi tối. Tới nhà bà tắm rửa, ăn sáng, thay quần áo, rồi lái xe đi làm. Bà vừa lái xe vừa trang điểm, chút phấn, chút son môi, làm cho đẹp thêm cái cõi nhân sinh mà bà vốn rất yêu mến và quí trọng.
Ông lão nghe chuyện của bà Mỹ, nhìn bà, lại nhớ tới người con gái Thượng bên bờ suối vùng ba biên giới xưa kia, cô có cách trang phục tự nhiên theo sắc tộc của cô, phơi đùi hay phơi vú, thì cũng chỉ là thói quen, là phong tục, là... nhân quyền.
Lúc lên rước lễ ông đi ngang qua chỗ cháu, ông cháu nhìn nhau, ông khẽ gật đầu, cháu cũng khẽ gật đầu. Có một lần rước lễ, chiều về nhà, nó khen ông nội trong ngày đã làm được một việc tốt, nó thiệt tình hết lòng vinh danh nội. Hôm đó, khi ông đi lên rước lễ có một người nhờ ông dắt một bà Mỹ khiếm thị cùng đi. Ông lão cầm cánh tay bà ta dẫn đi, nhưng bà Mỹ khẽ gỡ tay ông ra, bà sờ soạng tìm khuỷu tay ông rồi luồn tay bà vào, ông lão hiểu ra rồi nhận thấy cái nhà quê của mình. Ông nhớ lại bài học lễ nghi quân cách trong trường sĩ quan năm xưa, quân phục đại lễ, thân hình thẳng băng ngay đơ như cây gỗ, tay trái duỗi thẳng, bàn tay phải đặt ngay ngắn trước bụng, khuỷu tay phải khuỳnh ra cho vị phu nhân nào đó vịn vào sinh viên sĩ quan dẫn quí khách đi lên lễ đài, trên TV Mỹ có lần cũng đã chiếu cảnh đệ nhất phu nhân tương tự như thế. Hôm đó ông lão cũng khuỳnh tay dẫn bà Mỹ khiếm thị đi lên bàn thờ rước lễ, dẫn bà uống rượu, xong, dẫn bà đi vòng trở về chỗ cũ. Ông được bà và người quen của bà nói lời cám ơn. Một con chó rất lớn và rất khôn vẫn dẫn bà ta đi lễ, nó nằm ngay dưới chân bà, nhưng hôm đó người quen bà không muốn cho nó dắt chủ lên vì trong nhà thờ đông trẻ con, người nhà ngồi tại chỗ giữ chó và vì thế ông lão mới được thay thế nó làm công việc săn sóc cho bà. Bà Mỹ không nhìn thấy gì nhưng đôi mắt bà vẫn như thường, nếu ai không biết và chỉ nhìn sơ qua sẽ không tưởng rằng bà bị khiếm thị. Bà cũng là giáo dân thường xuyên đi lễ mỗi sáng, bà còn có một giọng hát rất hay, rất truyền cảm, đôi khi bà còn hát những bài thánh ca cho nhà thờ, đặc biệt là trong những lễ tang, lời ca của bà vang lên trầm buồn làm cả nhà thờ im phăng phắc, chỉ còn đôi tiếng khẽ sụt sùi của tang gia. Ông lão được dẫn bà một lần thôi, có sáng ông cũng có ý chờ xem bà ta có nhờ không, nhưng lễ ngày thường ít người con chó làm công việc dẫn chủ đi lên đi xuống suông sẻ. Những khi bà lên bục hát, nó cũng dẫn bà đi, nó nằm phủ phục dưới chân bà, chủ ca xong, nó đưa về chỗ cũ đúng in không sai lần nào. Ông lão ước gì khi ông chết được bà hát cho một bài thánh ca nhưng ông lại cũng muốn sống để thỉnh thoảng nghe bà ca ở nhà thờ.
Khi nghe bà hát, giọng bà trầm buồn đến mủi lòng, ông lão nhớ tới giọng ca rất xúc động của một sĩ quan Biệt Động Quân tối tối ở quán “Tre” đường Đinh Tiên Hoàng Sài Gòn năm xưa, ca sĩ tài tử này cũng bị khiếm thị trong một trận đánh mà đạn pháo kích nổ gần tung anh lên cao, toàn thân không một thương tích, nhưng tiếng nổ đã làm hai mắt anh hư hoàn toàn. Quân y viện của Hạm Đội 7 hải quân Mỹ ngoài khơi Việt Nam cũng không tìm ra vết thương nào trên thân thể anh ngoại trừ chỉ một tí xíu trầy da nơi thái dương gần mí mắt. Anh trở thành thương phế binh, nhưng yêu đời lính nên anh vẫn mặc quân phục, mũ nâu, huy chương và dây chiến thắng, đeo lon chuẩn úy, lên thiếu úy, trung úy... cứ theo khóa sĩ quan của anh mà lên, đồng khóa mang cấp nào anh cũng mua lon đeo cấp đó, cho đến 1975 thì anh đã lên tới đại úy. Bị mù song tự nhiên anh lại hát hay vô cùng, anh nổi tiếng với một bài hát trong đó anh chế thêm lời có mấy câu “Con van ông ơi, con van bà ơi, con van ông đi qua van bà đi lại...” Nữ thính giả nhiều cô khóc sụt sùi, cũng nhiều vị khách biếu anh tiền tại chỗ, anh khuây khỏa rong chơi khắp Sài Gòn không cần ai dẫn đường. Anh kêu taxi, đón xe bus, quay điện thoại dễ dàng. Quân cảnh gặp anh không hỏi giấy mà còn chào mời muốn đi đâu họ cho quá giang. Anh kể chuyện vui ai nghe cũng cười trào nước mắt...
Cho đến ngày “bể đĩa”! Không rõ rồi sau ra sao?
*
“Lạy cha, con xin phó linh hồn của con trong tay cha!”
*
Vị linh mục chủ tế gốc miền nam châu Mỹ la tinh, ông lão đã biết cha từ mấy năm nay vì sáng nào ông cũng dự lễ ở nhà thờ này. Không rõ vị linh mục có ưu ái gì hay chỉ là một sự “tình cờ thường xuyên”, linh mục thường chọn đặt lên lòng bàn tay ông lão một miếng bánh to gấp đôi, miếng bánh bẻ ra từ cái bánh to tròn bằng cái đĩa sau khi làm phép, không phải là bánh tròn nhỏ đựng trong tô chung. Một lần, rồi nhiều lần như thế, ông lão để ý và thấy rằng mình được vị linh mục này đặc biệt chiếu cố. Có khi cha vừa phát bánh vừa hơi mỉm cười với ông khiến ông không khỏi không bâng khuâng xúc động. Ông lão nghe rõ mồn một mùi thơm của miếng bánh mới thấm vào tâm não ông. Lạy Chúa, con là kẻ đã từng bị đói ăn, đã từng bị đói ăn đến ngơ ngác...
*
Buổi sáng chủ nhật, ông phải nộp ba bó củi thật nặng cho bếp trại. Khi vác đến bó thứ ba lết từ bìa rừng về đến bếp thì ông kiệt sức, hai mắt hoa lên, đầu nóng bừng bừng, thả bó củi xuống thì người ông cũng rơi xuống theo. Mấy phút sau ông mới lết được đến bên chảo nước uống xin múc một ca. Ca nước âm ấm làm cho ông dần dần tỉnh lại. Ông đứng dựa vào cột nhà bếp để thở. Mấy anh tù binh thuộc đội cấp dưỡng đang ngồi gọt củ sắn, họ nhìn ông thương hại vì ai cũng biết rằng sáng chủ nhật không lao động nên không có ăn sáng. Mỗi tù nhân ra bìa rừng phía ngoài trại vác mỗi người ba bó củi cho nhà bếp chỉ là nghĩa vụ thêm, củi để nấu ăn cho mình, không phải là lao động sản xuất. Nhịn đói mà vác nặng thì rất mệt. Lả đi được. Đang đứng nhắm mắt để dưỡng thần thì bị một anh nhà bếp kéo ra bắt phụ với anh ta xếp lại đống củi cho gọn. Chưa kịp cãi thì nghe anh ta nói nhỏ: “Hai củ sắn gói trong lá chuối giấu dưới khúc củi bọng, vờ xếp củi rồi lấy dấu trong lưng quần đem về buồng mà ăn”. Vừa nói anh ta vừa bê những khúc củi ném chồng chất lên đống cao. Anh ta lẩm bẩm tiếp: “Qua Một Chiếc Cầu, Lên Một Cái Dốc.” – Ráng! Ráng mà sống nghe ông... Coi chừng công an nó thấy”. Ông lão hiểu ra. Và cảm kích. Khi đói, rất đói, đói nhiều ngày rồi, đói đến ngơ ngác rồi, ăn củ sắn ngon vô cùng. Ngon không thể tả. Về phòng, leo lên chỗ nằm sàn trên, lấy củ sắn nướng giấu trong cạp quần ra ăn. Củ sắn nướng có lẽ vội nên còn sống. Nhai sậm sựt. Không bùi. Nhưng ngon lắm. Ngon vô cùng. Ngon không thể tả. Sắn tái. Phở tái. Thịt bò tái. Sắn tái hay tái sắn. Ăn sắn sống thì như ăn gỏi. Gỏi sắn. Tại sao không?
Sáng hôm sau, khi xếp hàng ra sân thì có lệnh chuyển trại đi K khác, một hình thức “xáo bài” cho nên không được gặp lại người bạn tù đã cho hai củ sắn nướng. Chưa biết tên anh nhưng nhớ rõ nét mặt anh, nhớ mãi cho đến ngày nay. Nét mặt ngày ấy. Nét mặt lúc ấy. Bây giờ anh cũng đã già, đã thay đổi theo tuổi tác và rất có thể anh cũng đang là một người Thượng ở đâu đó trên đất Mỹ. Có khi gặp anh mà không biết anh là anh! Nhưng củ sắn nướng xưa kia anh cho nó còn quí hơn bất cứ món ngon nào được mời lúc này.
Khi ấy ở trại tù Vĩnh Phú, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền có thơ vịnh củ sắn:
        “Thoát xiêm y, trắng nõn nà,        Lửa lòng bốc cháy ai mà chẳng say. “
*
Thưa cha, cha chiếu cố cho con miếng bánh lớn, con thích lắm. Bánh thơm lắm. Ngon lắm. Ngon vô cùng. Ngon không thể tả...
Nhớ lần rước lễ đầu tiên trong đời, lâu lắm rồi, ngày xưa còn bé. Phải qua mấy mùa cha xứ về họ đạo làm phúc, tại một làng quê hẻo lánh Việt Nam, bên bờ con sông Vị hoàng, cụ quản Huynh dạy bổn mãi không thuộc, thi rớt hoài, lãnh không biết bao nhiêu roi mây của cụ quản giáo quất trên đầu, lần cuối bị rớt là vì khi cha xứ khảo bổn tuy đã thuộc nhưng lại hỏi vớ vẩn “Bẩm lạy cha, bánh thánh có nhân ngọt không?” Cha bèn hoãn thêm một năm nữa, thành ra xưng tội rước lễ lần đầu trễ cùng với lũ em. Thằng anh lớn tồng ngồng đứng xếp hàng chung với chúng nó, được may quần áo trắng mới một lần với chúng nó lại còn bị bà chị đe dọa dặn dò:
– Mày phải nhịn đói từ tối hôm trước, khát nước cũng không được uống. Sáng thức dậy sớm, đánh răng rửa mặt, coi chừng nuốt phải tí nước cũng không được. Khi rước lễ phải há mồm thè lưỡi. Đâu. Mày làm thử chị coi có đúng không. Ừ. Như thế. Rồi nuốt chửng. Cấm không được nhai. Nhai là cắn vào Mình Thánh Chúa. Mày mà nhai là mắc tội trọng sẽ bị phạt cụt lưỡi. Nghe không em?
Dạ, em nghe. Nhưng chị nghe ai dạy, rồi dạy lại em như thế làm em sợ mãi tới già không dám nhai bánh thánh. Đến bây giờ em mới tự do thoải mái, nhận bánh và ăn bánh, do vị linh mục Nam Mỹ bao dung phát cho, thì lại bị cái tay “giáo sư đại học văn khoa + đại biểu quốc hội cộng sản” bỏ đạo bỡn cợt!
Lạy Chúa, con chỉ ước gì sống mà không bị khủng bố và ám ảnh.
(Còn tiếp)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét