Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

Bùi Ngọc Tấn - Những ngày mới ra khỏi “nhà tù nhỏ” (Tiếp theo)

(Trích “Hậu chuyện kể năm 2000 – Thời biến đổi gien”) 


Sao tôi thèm đôi mắt của ông nhạc sĩ nào đó đến thế. Thèm cho tôi và thèm cho các con tôi đang tuổi trẻ thơ. Để xanh núi xanh sông xanh đồng xanh biển, xanh cuộc đời xanh cả ước mơ.

Tôi không muốn chút nào các con tôi nhìn đời bằng đôi mắt của tôi, đôi mắt của những người bị giầy xéo dưới đáy mà tai luôn nghe những điều tốt đẹp “triệu lần hơn” của chủ nghĩa, của các bậc chí thánh, tôi cũng hoàn toàn không muốn chúng có đôi mắt mang tia X nhìn thấu tới gan ruột cốt lõi của chế độ, để thấy trước những gì cuộc sống đang chờ chúng.


Xin các người đừng tước đoạt của chúng tuổi thơ!

Nhà tôi không có sách văn chương – và tất nhiên không có sách lý luận! – vẫn chưa làm tôi thật yên tâm khi hai cháu Bùi Thị Hải Yến và Bùi Quang Dũng rất giỏi văn. Học lớp 4, Hải Yến đã được chọn đi thi giỏi văn thành phố. Thật may, Hải Yến học giỏi toàn diện. Khi ra thành phố học cấp 2, Yến rất mê môn toán. Lên cấp ba, Yến học chuyên toán, mỗi tháng được học bổng 9 đồng. Món tiền này rất quan trọng, có thể nói một cách dễ hiểu, giống như cách mạng Cuba đối với phe xã hội chủ nghĩa vậy – bằng Cu ba thôi chứ không thể như cách mạng Trung Quốc được. Vợ tôi tháng nào cũng ngóng cũng nhắc: “Yến chưa lĩnh lương nhỉ?” Hoặc: “Mãi chưa thấy Yến lĩnh lương.”

Còn cháu Bùi Quang Dũng thì giỏi văn đấy nhưng không thích học văn. Bởi cô giáo dạy văn không thể nào chấp nhận những bài văn không đúng với bài mẫu, không chịu được những nhận xét ngây thơ hồn nhiên của cháu khi tả cuộc đi chơi tắm biển hay một buổi sáng ở làng quê. Tôi đã đi họp phụ huynh cho cháu, biết cô giáo có chồng là một sĩ quan hải quân, thường xuyên sống xa chồng, đành cắt nghĩa sự “khó tính” của cô, ngoài trình độ, còn do hoàn cảnh ấy và tự an ủi rằng thôi cũng may, sự thui chột về văn này của cháu càng có lợi. Kết quả thật như ý. Bùi Thị Hải Yến và Bùi Quang Dũng có năng khiếu văn, nhưng đều học kinh tế, kỹ thuật.

Do phúc ấm gia đình, tổ tiên để lại, các con tôi đều ngoan, thương bố thương mẹ. Nhìn bạn chúng đến nhà, tôi yên tâm. Toàn chuyện học, chuyện bài vở, và thật mừng làm sao… chúng cãi nhau về những bài toán khó. Không đứa nào phải giục giã, nhắc nhở trong việc học. Hơn thế, nhiều đêm ngủ một giấc, tỉnh dậy vẫn thấy con cặm cụi bên bàn, tôi phải giục: Đi ngủ thôi. Khuya rồi. Sáng mai còn biết đường mà dậy.

Dù học khuya hay đi ngủ sớm bao giờ Giáng Hương cũng là người đầu tiên trở dậy vào sớm hôm sau. Nhồi bếp mùn. Đun nước. Nấu cơm ăn sáng. Ngày ấy ăn cơm sớm lắm. Làm hai tầm sáng, chiều. Các cháu đi học còn sớm hơn. Hai bữa cơm lên đèn. Đèn dầu hỏa – vì không có điện – nên chúng tôi hay đọc câu ca dao thời yên bình làng xóm làm ăn thuở xa xưa “một ngày hai bữa cơm đèn, còn chi má phấn răng đen hỡi chàng.”
Các con tôi đều hiểu chúng đã chẳng may sinh trong một gia đình đối tượng của cách mạng. Phải cố gắng hơn mọi đứa trẻ khác. Sống không đòi hỏi một điều gì, từ quyển vở cho đến chiếc quần phíp may bằng vải vụn, lại càng không nghĩ tới một chiếc áo len. – Mãi sau này khi đã lấy chồng, Hải Yến vẫn còn kể lại hồi học cấp 3, đã là thiếu nữ, mặc chiếc quần phíp đen can nối ngang hông, thầy gọi lên bảng, mỗi khi với tay lên cao để viết lại xấu hổ về chiếc sơ mi ngắn bị kéo lên không che nổi đường can ở phía sau.

Mùa rét, chăn không có, vợ tôi nhờ sự quen biết, xin được từ nhà máy Thảm Len một bao tải “đề sê gầm”, thứ phế thải từ lông súc vật ẩm bết, vụn, rơi ra trong quá trình chế biến len thảm, đầy vi khuẩn, đem về trải ra, dàn ra như một thứ lõi bông. Vỏ chăn là những miếng vải bao bì, in hằn những vết han gỉ của nẹp sắt, của những dòng chữ hắc ín không thể tẩy sạch. Yên tâm là hai đứa con gái đã có chăn “len” chống rét nhưng đến khi chúng nằm xuống chiếc chiếu trải trên sàn gỗ giữa buồng, thử cái chăn mới mà ba mẹ con khâu khâu, níu níu chần chần ấy mới thấy cái yếu kém của nó: Những mũi kim đường chỉ của suốt một buổi tối vất vả không thể giữ được những vụn đề sê gầm. Chúng rời ra, xô vào nhau, chỗ là một cái túi phồng lên, chỗ trơ ra hai lượt vải bao bì.

Nằm trong chăn, bốn cái đầu gối của hai đứa con gái đội lên hai lượt vải, trong khi dưới chân chúng, những vụn lông thú dồn lại, cộm lên. Chúng cười rúc rích về cái kết quả bất ngờ này và lấy chân hất hất cho lớp ruột chăn bên trong dàn đều trở lại nhưng đâu có được và lại cười. Tiếng cười của hai đứa con gái đang tuổi ăn tuổi lớn cứa vào lòng tôi.

Không chỉ túng đói, cuộc đời chúng tôi còn là liên tiếp những mối lo sợ. Một nỗi lo mới ám ảnh chúng tôi khi cậu con lớn Bùi Ngọc Hiến vào học lớp 10, lớp cuối cấp 3 chuẩn bị thi đại học. Liệu cháu có được thi không? Muốn thi đại học, điều kiện trước tiên phải là đoàn viên thanh niên cộng sản. Với cái lý lịch tối tăm, con một tên phản động, bố là một phần tử chống đảng chống chế độ, đi tù 5 năm mới về, làm sao được vào đoàn? Cái cánh cửa đại học như đã đóng chặt trước cháu.

Nhưng như một chuyện cổ tích, một chuyện thần kỳ, và cũng có thể do học giỏi và hiền ngoan, cháu Hiến được kết nạp vào đoàn. Cái huy hiệu tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên cài trên ngực áo cậu con trai lớn làm sáng cả khuôn mặt vợ chồng tôi. Từ cháu Hiến được kết nạp đoàn, có thể lãng mạn cách mạng nghĩ rằng các em nó, Bùi Thị Giáng Hương, Bùi Thị Hải Yến và Bùi Quang Dũng cũng có thể sẽ được kết nạp. Bởi trong bản lý lịch mục kê khai về anh chị em sẽ có một dòng sáng ngời: Bùi Ngọc Hiến đoàn viên thanh niên cộng sản. Đó là dòng chữ ghi chất lượng chính trị cao nhất của gia đình tôi: Có một cậu con trai là đoàn viên thanh niên cộng sản!

Việc cháu Hiến được vào đoàn ngoài kết quả sự phấn đấu của cháu chắc chắn có sự đóng góp của cả sáu người chúng tôi mà bằng chứng là tờ giấy khen “Gia Đình Văn Hóa Mới” của khu phố trao tặng. Một kết quả tổng hợp của mọi thành viên. Ngày này sang ngày khác, ngày cũng như đêm, căn buồng của chúng tôi không một tiếng nói to. Chúng tôi im thin thít trong khi xóm láng thường xuyên cãi nhau, chửi nhau, đã có những vụ chửi nhau hẹn giờ kéo dài cả tháng, chỉ nghỉ ngày chủ nhật mà tôi đã viết trong tiểu thuyết. Chúng tôi biết phải chịu thiệt, tuyệt đối không tham gia vào cuộc chiến tranh đất đai âm ỉ và sục sôi bên dưới. Các con tôi lễ phép, chăm học, học giỏi trong khi con các ông bà thì bỏ học, lêu lổng… cũng đã góp phần quan trọng vào cái chứng chỉ này, cái chứng chỉ bằng văn bản có đóng dấu son hẳn hoi. Và tôi suốt tháng này sang năm khác im lặng như một người câm. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất chắc chắn là những cố gắng phi thường của vợ tôi, những cố gắng của một người biết rằng cuộc đời mình đã chấm hết, chỉ còn một mục đích, một ý nghĩa duy nhất: Sống vì những đứa con.

Dọn vệ sinh hàng tuần trong xóm ngày thứ Bẩy. Tổng vệ sinh khu phố nhân ngày quốc khánh Mùng 2 Tháng 9, ngày Quốc tế lao động mồng 1 tháng 5. Họp xóm, họp tổ dân phố tới tối khuya dù đi làm cả ngày mệt nhừ người. Vợ tôi luôn là một trong những người bỏ phiếu bầu cử các cấp ngay sau lễ khai mạc khi các vị chức sắc long trọng bỏ những là phiếu đầu tiên, hơn thế, bao giờ vợ tôi cũng gạch đúng tên những người đã được phổ biến bằng cách rỉ tai hoặc nói xa xôi trong những cuộc họp trước đó.

Riêng tôi trong những lần đi bầu để cho có mặt đã định gạch văng tê ngẫu hứng, nhưng rồi lại thôi, nhỡ có ai trông thấy thì toi đời, vả lại có bầu thế nào thì những người họ giới thiệu vẫn trúng. Cũng phải thú thật là lần đầu tiên được đi bầu sau khi ở tù ra tôi phấn khởi vô cùng. Phấn khởi hơn cả những người được đi bầu quốc hội lần đầu tiên năm 1946. Khi danh sách cử tri được trương lên quanh khu bầu cử từ nhiều ngày trước đó, vợ chồng tôi nhìn nhau mà đọc thấy mối lo không thành lời: Trong những dòng chữ ghi tên họ cử tri chi chít như kiến bò kia có tên tôi không? Không có tên trong danh sách đi bầu thì không chỉ nhục nhã cho mình, cho vợ mà còn khốn nạn suốt đời mình, khốn nạn suốt đời con. Vợ tôi đi thám thính, làm như có việc ra Ngã Sáu mua bán cái gì đó, ghé qua xem danh sách như những người vô công rồi nghề và trở về nhà cố nén để khỏi reo lên: “Có tên bố nó. Em xem rồi. Bùi Ngọc Tấn. Mười. Điện Biên Phủ”.

Tôi như vừa qua được một căn bệnh hiểm nghèo, thoát khỏi chứng ung thư di căn. Tôi lại được vào Nhân Dân rồi! Tôi lại đứng trong hàng ngũ những người được đảng lãnh đạo rồi! Không bị đảng ruồng bỏ nữa!

… Tôi đem dán cái chứng chỉ dấu son Gia Đình Văn Hóa Mới, vốn liếng chính trị và cũng là tài sản lớn nhất của gia đình, ngay phía trên bàn tiếp khách của tôi và cũng là bàn học của các con tôi. Nơi đập vào mắt mọi người. Để ai đến nhà cũng nhìn thấy ngay, biết gia đình tôi đã lại được là một gia đình bình thường như mọi gia đình khác, hơn thế còn là một gia đình văn hóa mới.

Là đoàn viên, cháu Bùi Ngọc Hiến đã có được bộ hồ sơ thi đại học đầy đủ. Đành rằng học tài thi phận nhưng chúng tôi tin cháu sẽ thi đỗ. Bởi cháu học rất giỏi. Văn thì trung bình – thật trúng với mong ước của bố mẹ cháu – nhưng những môn tự nhiên thì vào loại giỏi. Còn đang học lớp bẩy, lớp tám, cháu đã nghĩ ra những đề toán khó đăng trên báo Toán học và Tuổi trẻ của ông Nguyễn Cảnh Toàn. Nộp đơn thi vào Đại học Đường Thủy, cháu đỗ rất cao: 21,5 điểm.

11,5 điểm được vào trường, 18 điểm được đi học nước ngoài, nhưng cháu không được gọi. Cái điểm thi của cháu cũng phải mãi về sau mới biết, mặc dù ông Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đại học Chuyên nghiệp ngày ấy đã có quyết định công khai các điểm thi của các thí sinh.

Cá chuối đắm đuối vì con. Quên cả nhục nhã, quên cả sợ hãi, tôi đã vác cái mặt của một kẻ đi tù, một kẻ chống đối, phản cách mạng, một cái mặt ai cũng có quyền khinh bỉ đến gặp nhà trường, gặp công an, gặp ủy ban, gặp tuyển sinh thành phố. Dân thường đến những nơi tôn nghiêm ấy cũng còn nem nép sợ hãi nữa là tôi. Đến đâu cũng là những cái lắc đầu không biết, hồ sơ của cháu không có ở chỗ chúng tôi, con anh cũng như con tôi, nếu cháu thi đủ điểm chúng tôi cho cháu đi học chứ giữ cháu làm gì.

Cho đến khi biết điểm thi của cháu, mà vẫn không được gọi, tôi càng thấm thía tội lỗi làm bố của mình. Chỉ vì tôi. Chỉ vì tôi nên con tôi có thể thất học. Mà có thể gì nữa. Thất học rõ ràng, rành rành ra rồi. Con người ta vào học một tháng rồi. Con mình vẫn nằm nhà.

Người tôi sôi lên. Hỡi bọn chó đểu kia. Chúng mày làm gì tao thì làm, bỏ tù lại tao cũng được. Nhưng đừng triệt hạ con tao!! Các đồng chí ơi. Hãy cho con tôi vào học. Chúng vô tội. Chính đảng đã nói: Con làm con chịu, bố làm bố chịu cơ mà! Con tôi cũng như con các đồng chí… Tôi cơ hồ tuyệt vọng. Hoàn toàn không nghĩ là con mình được vào đại học, bởi con em nông dân không vào hợp tác xã cũng không được vào đại học huống hồ con một tên phản động!

Tôi không dám nhìn vào mặt cháu. Còn vợ tôi sinh ốm. Ốm thật, không phải “bệnh tư tưởng” như người ta thường nói. Sau này hễ cứ có một đứa con thi đại học là vợ tôi đổ bệnh thật sự. Một triệu chứng mới xuất hiện là đau thắt ngang ngực, khó thở, triệu chứng này xuất hiện thường xuyên hơn trong những năm tháng căng thẳng hậu Chuyện kể năm 2000 và được bác sĩ xác định là thiểu năng động mạch vành, phải dùng vastarel suốt đời.

Trong những ngày đằng đẵng tuyệt vọng chờ mong ấy, thật may, cháu được một người quen nhận vào làm bốc vác cho mậu dịch. Cháu không phải nằm dài ở nhà nữa. Đã có công việc làm. Đỡ buồn chán. Lại có thu nhập. Cháu Hiến năm ấy mới mười sáu tuổi, người nhỏ nhắn giống mẹ, mặt búng ra sữa. Những tưởng cháu làm theo sức của mình, nào ngờ đâu, trong một đội bốc vác, cháu phải làm như mọi người, cũng vác những bao đường nặng một tạ như những công nhân bốc vác chuyên nghiệp người Hoa cao lớn khác. Và khi giải lao, những ông phu poóc tê uống rượu với đùi gà – một thứ thức ăn khủng ngày ấy để bồi bổ lại sức khỏe đã tiêu hao – thì cậu học sinh duy nhất trong đội ngồi một mình dựa lưng vào gốc cây ba giăng ngoài vỉa hè, lấy bút chì và giấy trong túi áo ra làm toán.

Làm bốc vác được gần hai tuần, cháu bị sút lưng, nằm nhà, không ngồi dậy được. Ăn uống tại giường, đái ỉa tại giường. Các bạn cháu đã vào học biết tin, đến nhà xúm quanh giường và động viên cháu: Cứ yên tâm. Chưa học gì đâu. Mới là học nội quy và tập quân sự thôi.

Cuối cùng cháu cũng được vào học, vào cái khoa ngày ấy không cháu nào muốn học, chỉ những học sinh xuất thân trong những gia đình kém cỏi mới phải vào: Khoa công trình! Không phải khoa máy, khoa điện… những khoa có thể xuống tầu, tới Nhật tới Hồng Kông, tới Xanh ga po, kể cả tới Bắc Âu, tới Mỹ để có cơ hội buôn bán làm giầu. Cứ yên tâm mà ở lại với đất nước, với đói nghèo!

Bùi Ngọc Hiến. Rồi Bùi Thị Giáng Hương. Và tới Hải Yến. Có lẽ cũng cần nói thêm về trường hợp Hải Yến thi đại học. Cũng như khi hai đứa con đầu đi thi, chúng tôi cũng lo cháu có đỗ hay không nhưng điều lo lắng nhiều hơn là người ta có cho con mình vào học hay không. Dù hai cháu lớn học đại học, chuyên nghiệp đã như một tiền lệ. Chúng tôi luôn sợ hãi. Việc gì cũng có thể xẩy ra. Vợ tôi ngày nào cũng thắp hương khấn vái rồi theo lễ hết đền này phủ khác. Và ốm khi Yến đến ngày thi như đã ốm khi hai đứa lớn đến ngày thi. Thi xong ít lâu, một cháu gái, bạn học với Hải Yến đến chơi nhà. Là con ông cháu cha, cháu được ban tuyển sinh thành phố cho chép danh sách và điểm thi của các thí sinh đại học, một hình thức làm thêm trong dịp hè để có thu nhập. Cháu đến nhà chơi và hỏi Yến một câu rất vô tư:
-Hải Yến ơi. Sao không có tên cậu?

Như có một luồng gió độc đánh mạnh vào ngực, tôi biết người ta đã ra đòn. Tưởng đến Giáng Hương là thôi. Nhưng vẫn tiếp tục. Ngón đón này dù đã nhiều lần làm tôi thổ huyết nhưng vẫn không sao quen được.
Thương con. Uất hận. Nhưng đừng để lộ ra.

Vẫn phải giữ vẻ mặt nhẫn nhục cam chịu của một kẻ biết thân biết phận. Giữa trời mưa to, tôi cùng con gái đạp xe đến trường Thái Phiên. Người ta phát giấy báo điểm. Cháu này nhận. Cháu khác nhận. Mặt xịu xuống, mắt rơm rớm nước vì điểm dưới chuẩn. Nhẩy lên trong mưa vì thừa điểm vào trường. Ấp tay vào ngực, xuýt xoa vì may mắn: vừa đủ điểm… Cho đến cháu cuối cùng. Rồi sân trường chỉ còn lại hai bố con tôi. Tôi tiến lại cái bàn kê ở hành lang hỏi một thầy giáo về phiếu điểm của cháu. Ông ta nhìn tôi nửa như khinh bỉ, nửa như ái ngại:
- Không có. Chúng tôi không nhận được. Khi nào nhận được chúng tôi sẽ báo…

Vẫn phải vác cái mặt một kẻ đi tù về mà đến những nơi cần đến, những căn phòng tượng trưng cho quyền uy cách mạng để dò hỏi.

Tuyển sinh thành phố, công an khu phố, ủy ban, và lại quay lại trường trung học.

Chầu chực. Chờ đợi. Tùy từng nơi, từng lúc mà gặp nhưng vẻ mặt khác nhau. Khinh bỉ. Khinh khỉnh. Ái ngại. Lạnh nhạt. Làm ra thông cảm. Nhưng những lời nói thì giống nhau. “Chúng tôi chưa nhận được giấy báo điểm, chưa nhận được hồ sơ của cháu. Anh cứ yên tâm. Hễ nhận được là chúng tôi sẽ báo cho anh ngay. Con anh cũng như con tôi…” Đến đâu cũng cái điệp khúc “con anh cũng như con tôi”. Các cán bộ công nhân quốc doanh đánh cá Hạ Long – tôi đã được đi làm ở đây nhờ sự cứu giúp của ông Hoàng Hữu Nhân, Tổng cục trưởng tổng cục Thủy Sản và sự vượt rào của ông Tưởng, trưởng phòng lao động khu phố Ngô Quyền, những người tôi hàm ơn suốt đời – nghe tôi kể lại cơ đận con gái tôi thi đại học đã đặt cho tôi cái tên: Chết-Giữa-Tình-Thương.

Cuối cùng chúng tôi cũng biết điểm thi của Hải Yến: 20,5 điểm so với điểm chuẩn 18. Về số điểm của cháu một thầy giáo quen tôi có nói với tôi:
-Con Yến nó thương hai ông bà đấy. Nếu nó được thêm nửa điểm nữa, 21 điểm là điểm được đi học nước ngoài ông bà lại càng đau hơn. Thằng Hiến đã thế rồi…

Chúng tôi đã chịu cái đau ấy khi cháu Hiến thi. Và cũng thuộc lòng bài học của ông Trần Đông và Sở Công an Hải Phòng dạy, một bài học không thành lời nhưng thấm thía: Con mày được đi học đại học là tốt lắm rồi. Vâng. Cảm ơn các ông. Cảm ơn các đồng chí của tôi. Chúng tôi đâu dám mong ước gì hơn.

Biết điểm nhưng không biết hồ sơ của con gái nằm ở đâu. Tôi cố giữ bình tĩnh để đừng phát điên lên, đến những nơi cần đến. Vẫn là không biết. Vẫn là Chết Giữa Tình Thương. Hay thất lạc đâu rồi. Trong khi ngày hết hạn nộp hồ sơ cứ đến dần. Và rồi ngày cuối cùng của hạn nộp cũng đến. Buổi chiều trước cái hạn định cuối cùng ấy, anh Bùi Đức Thành, anh thứ hai tôi, người quen nửa thành phố và đã dành rất nhiều công sức dò hỏi điểm thi và hồ sơ của cháu Yến, đạp xe đến nhà với khuôn mặt tươi ngời lên:
-Hồ sơ con Yến xong rồi. Tuấn tuyển sinh gặp anh nói sáng mai chú lên gặp nó nhận hồ sơ cho cháu rồi chú trực tiếp cầm lên nộp cho trường.

Tôi vội chuẩn bị ngay mọi thứ để đi Hà Nội như sửa lại xe đạp cho thật tốt, tránh mọi trục trặc khi tới Hà Nội, xin giấy lấy vé ô tô ưu tiên – thật may mắn Giáng Hương, con gái tôi học với con gái ông bí thư đảng uỷ công ty xe khách, đã xin được một cái giấy viết tay của ông gửi quầy bán vé.

Tôi đến tuyển sinh sớm. Chờ. Chờ lâu. Hàng tiếng đồng hồ. Tôi đâu hiểu rằng ông Tuấn tuyển sinh, người tôi đã nhiều lần tìm gặp để hỏi về hồ sơ thi đại học của các con tôi, không thể đi thẳng từ nhà đến cơ quan được. Sáng nào cũng có người chờ ông sẵn ở cửa. Người ta bắt cóc ông. Người ta mời ông. Người ta đèo ông – bằng xe đạp- thời ấy làm gì có xe máy và cũng không có kiểu phong bì như hiện nay – đi ăn sáng. Ăn xong vào hiệu cà phê. Không ngày nào ông được (phải) ăn sáng một mình hay ăn sáng với vợ con.

Chín giờ, ông Tuấn mới bước vào phòng làm việc. Thấy tôi ngồi chờ, ông Tuấn cười động viên tôi và nhanh nhẩu bắt tay vào công việc. Ông lấy dao rọc một tờ báo Nhân Dân, phết hồ dán lại làm túi đựng hồ sơ cho Hải Yến, những tờ giấy quyết định cả một đời người. Cầm túi hồ sơ ông đưa, tôi đứng dậy định đi ngay, nhưng ông nói:
-Gượm đã. Anh chờ tôi một tý.

Ông làm rất nhanh một cái phong bì khác:
-Còn trường hợp này nữa. Cháu này cũng giống như con anh. Cũng đến hôm qua mới có quyết định chính thức. Con người ta cũng như con anh. Một công đôi việc, nhờ anh cầm lên hộ cháu. Đại học sư phạm. Cũng gần trường thương nghiệp. Anh biết trường sư phạm chứ. Cùng khu Cầu Giấy cả.

Tôi không biết trường Sư phạm ở đâu. Trường Thương nghiệp mà Hải Yến vào học tôi cũng chưa biết, nhưng Cầu Giấy thì tôi biết. Sáu năm làm báo ở Hà Nội thật đắc dụng trong trường hợp này. Tôi cầm hồ sơ ông Tuấn đưa và hứa với ông sẽ chuyển tận nơi cho cháu, nhưng thật may, ông bố bất hạnh như tôi cũng vừa lò mò đến. Tuấn reo lên và đưa hồ sơ của con ông cho ông. Đó là một người có bộ mặt lo lắng sợ sệt, ngơ ngác, không dám nhìn vào mặt ai, chỉ một kiểu nhìn xuống đất. Tôi nghĩ hẳn tôi cũng có bộ mặt ấy, bộ mặt của người biết thân biết phận vừa nhận một cái ơn trời bể. Muốn nói với ông mấy câu xã giao, nhưng ông đã giơ hai tay nắm lấy tay Tuấn lắc lắc, cúi thấp đầu chào Tuấn, không nhìn tôi lấy một lần, cầm hồ sơ của con bước nhanh ra cửa. – Hình như ông không biết tôi cũng cùng một thân phận như ông nên ông thu mình lại, không muốn bắt chuyện – Tôi cũng ra theo ông. Tôi rất vội. Mặt trời đã lên cao. Đạp thẳng ra bến ô tô Niệm Nghĩa. Không thể quan niệm được cái bến ô tô nhất là phòng bán vé thời đó. Chen. Huých. Cãi cọ. La hét. Sừng sộ. Dòng người cứ dài mãi. Và bâu vào cửa bán vé, vòng trong vòng ngoài những người chen ngang, không muốn xếp hàng mà vẫn có vé. Đó là nguyên nhân của những tiếng la hét chửi bới, cãi cọ nhiều khi đi đến ẩu đả. Cửa ưu tiên cũng đông cực kỳ. Nhiều loại ưu tiên lắm. Giấy viết tay như tôi. Nhà báo. Cán bộ công nhân trong ngành. Dân phe vé đã móc ngoặc thành nếp làm ăn. Và thương binh nhiều vô kể. Thương binh xếp hàng mua vé, bán lại giá cao, một nghề kiếm sống. Chuyến ô tô tôi đi khởi hành 12 giờ trưa. Xe đạp vất trên nóc xe. Tháng Tám nắng rám cành bưởi. Tôi đã xì bớt hơi trong lốp xe để dù có phơi nắng cũng không bị nổ lốp và đến bến Nứa có thể cứ thế guồng ngay. Tôi lấy luôn vé khứ hồi.

Tôi nghĩ nếu không có cái giấy viết tay ưu tiên của ông bí thư đảng uỷ công ty xe khách chắc con gái tôi sẽ thất học. Vì đã là thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ. Và nếu ô tô nổ lốp hay bị sự cố gì đó, con tôi cũng chẳng được nhập trường. Ngày ấy ô tô Hải Phòng Hà Nội chạy thông đồng bén giọt mất bốn tiếng đồng hồ. Phải bốn giờ chiều mới tới bến Nứa.

Chuyến xe suông sẻ, không chết máy cũng không nổ lốp. Bốn giờ chiều tới bến. Nhận xe đạp, tôi phóng nhanh về Cầu Giấy. Đến Cửa Nam, va vào xe một cháu gái cũng trạc tuổi Hải Yến đi từ phía Hàng Bông lại, hai chú cháu ngã xoài, rồi cười với nhau, dựng xe lên, ai đi đường nấy. Tới trường đại học Thương nghiệp là gần 5 giờ. Hơn nửa tiếng nữa mới tan tầm. Nhưng phòng giáo vụ vắng tanh. Nộp hồ sơ cho ai bây giờ. Còn đang đứng lơ ngơ giữa chốn xa lạ với mặc cảm về thân phận hèn kém của mình cùng nỗi lo không biết bấu víu vào đâu thì có tiếng nói lễ phép:
-Chú đi đâu đấy hở chú?

Thật là chết đuối vớ được cọc. Một giáo viên của trường, anh của một cháu bạn học với Giáng Hương. Còn may mắn nào hơn. Anh giáo viên trẻ nhận hồ sơ và bảo đảm với tôi rằng sẽ nộp được cho phòng giáo vụ.

Tôi vội đạp xe trở ra bến Nứa.

Không còn chuyến ô tô nào dù có vé khứ hồi. Rất nhanh, tôi quành về ga Trần Quý Cáp, lấy vé tầu đêm, để sáng hôm sau có mặt tại xí nghiệp đón Ban Thi đua khen thưởng thành phố về làm việc tại xí nghiệp theo lịch đã thông báo trước… 


Nguồn: theo sách “Hậu chuyện kể năm 2000” Tủ sách Tiếng Quê hương (Hoa Kỳ) 2014

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét