Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Võ Phiến - Nguyên Vẹn


Truyện dài

PHẦN MỘT 

Người khách hàng mua xong bộ quần áo trẻ con vừa đi sang hàng khác, Dung nghĩ là nên nhân lúc dì Bảy rảnh tay để chào dì ra về. Dì nói:
— Ừa, con về. Nói với má không chừng tháng sau dì lên chơi đó, nghen.

Nhưng sau đó dì lại hỏi:
— Mai chúa nhựt mà; ở lại chơi với em một bữa nữa, không được sao con?

— Thưa, mẹ con dặn...

Dì Bảy phá lên cười:   
— Má mày khó quá chời. Ừa, thì con về. Tao biết tánh má mày mà: chuyện gì chuyện nấy sắp đặt trước như vạch sẵn chương trình đâu ra đó hết. Sai một chút cũng không chịu. Khó quá chời.

Dì cười ngặt nghẽo về cái tánh khó của mẹ nàng, rồi quay sang bà bạn bên cạnh giải thích thêm:
— Với lại tôi biết cái tánh con nhỏ: nó ham học, nó lo bài lo vở lắm. Biểu nó ở chơi nó không ở đâu. Nó lên đại học cả năm nay rồi đó.

Để chữa thẹn, Dung cười với bà bạn về lời khoe khoang của dì.

“Cái tánh” của dì, nàng cũng đã biết hơi kỹ: dì dễ dãi quá, không dứt khoát gì hết, và tưởng tượng ai cũng như dì. Nguyên một việc mời nàng ở lại chơi thêm một hôm, từ đêm qua tới trưa nay, dì nói đi nói lại không biết bao nhiêu lần. Nàng trình bày lý do cần phải về Sài Gòn ngay hôm nay; dì nghe xong, bằng lòng để nàng về. Thế rồi sau đó, dì lại hỏi nàng có thể nán lại được chăng? Dì làm như lý do này, lý do nọ của nàng nêu ra đều không có nghĩa lý gì: mọi việc có thể tùy thích quyết định, định đi rồi định lại thế nào cũng được, không có gì quan trọng cả.

Khi Dung sắp sửa đứng lên để đi, dì Bảy chợt có một ý kiến:
— À, nè: Trưa rồi, ăn thêm chút gì kẻo đói. Dì kêu hai tô hủ tiếu nghen.

— Từ sáng tới giờ dì cho ăn bốn lần rồi, ăn sao nổi nữa!

— Mẹ kiếp! Mày đếm kỹ vậy hả? Bốn lần thiệt hả? Ừa thì mày gấp về cứ về. Con gái lớn chừng đó mới lạc mẹ một ngày đã quýnh lên.

Dì cười ngặt nghẽo, nàng cười theo. Dì Bảy bỗng quay sang nói với bà bạn bên cạnh:
— Bộ răng con nhỏ đều ghê đi. Răng má nó hồi nhỏ cũng khéo vậy đó.

Lại khoe cháu nữa. Không biết bà bạn của dì có con trai, cháu trai gì chăng! Khi Dung đã quay lưng đi mấy bước, nàng lại nghe dì Bảy nói gì với bà bạn, và nàng có cảm tưởng bị nhìn sau lưng, có thể nhiều người cùng nhìn.

Được chú ý như thế giữa chỗ đông đảo không phải là một điều thường xảy ra hàng ngày. Nàng ngượng một cách dễ chịu. 

Dung dừng lại ở chỗ khoảng trống trước chợ. Vừa từ trong chợ bước ra nàng hơi ngơ ngác trước nắng gió lao xao. Vả lại khung cảnh chợt nhắc lại trong lòng nàng một xôn xao...

Sáng hôm ấy, nàng thức giấc thật sớm. Có lẽ vì lạ nhà, nàng khó ngủ. Trời hãy còn tờ mờ tối. Ngoài đường phố chưa có bóng người đi lại. Từ căn gác nhà dì Bảy trông ra chợ Phú Vinh, tầm mắt của nàng dừng đúng ở cái khoảng đất trống này đây. Hết nhìn mấy ngọn đèn, đến mấy lều chợ, đến hàng cây, rồi lại nhìn mấy ngọn đèn, nàng như một người thơ thẩn, loanh quanh mãi ở một nơi vắng vẻ. Và thơ thẩn một mình.

Bấy giờ trên gác chỉ có mình nàng thức giấc. Vào giờ ấy khí trời mát lạnh. Nàng kéo tấm chăn mỏng che ngực, nằm lặng lẽ hàng giờ. Trước chợ có vài ống đèn đường bị hư, cứ nhấp nháy mãi. Rồi đến một lúc, nàng chú ý đến tiếng chim ríu rít trên ngọn cây dầu.

Trong vắng vẻ, thay vì thấy buồn, nàng lại cảm thấy một thích thú mới lạ, gần như một kích thích. Và cũng như mọi lần khác, khi một mình rảnh rỗi, nàng lại nghĩ tới Triệu. Và nàng không hề lẻ loi: dù tâm trí thẩn thơ ở nóc chợ, ở màu trời thiếc lạnh, ở ống đèn nhấp nháy v.v...ở đâu cũng có hình ảnh Triệu thấp thoáng. Và các cảm quan thao thức của người con gái vào cái giờ khởi đầu của một ngày trong hơi lạnh mơn man da thịt, tất cả những cái ấy làm cho trong nhớ nhung có chút gì rạo rực.

Nàng nghĩ tới cái hẹn với Triệu vào ngày mai. Hai người đã sắp đặt với nhau: chủ nhật này Triệu đến chơi nhà nàng, ăn cơm trưa gia đình.

Từ trong lều chợ bước ra, Dung gặp lại khung cảnh cũ, cái xôn xao của lúc tờ mờ sáng chợt thoáng trở lại. Nàng nghĩ đến cái lý do thực sự khiến nàng gấp về nội hôm nay. Nàng nhớ câu nói của dì Bảy: “Con gái lớn chừng đó...” Dì đâu biết không phải cháu dì quýnh lên vì lạc mẹ một ngày! Con gái lớn chừng đó thường quýnh lên vì cái gì, dì quên rồi sao? Dù tâm hồn đơn giản, hồi cỡ tuổi Dung, dì cũng không chỉ quýnh vì mẹ đâu, chắc chắn thế. Dung mỉm cười một mình.

Mới hơn mười giờ mà nắng đã gắt. Xung quanh nàng thật chói chang ồn ào. Trên tàn cây, không còn nghe chim chóc gì nữa: tiếng xe gắn máy, tiếng kèn xe nhà binh, tiếng phi cơ v.v...quét sạch những tiếng động tế nhị khác.

Nàng tiến lại chỗ hàng nước, đứng dưới bóng cây uống một ly cà-phê đá, định bụng sẽ đi dạo phố một vòng trước khi đến bến xe: “Phải dạo một vòng mới được. Hơn một ngày một đêm ở Trà Vinh, chỉ quanh quẩn bên bà dì với mấy đứa em, không thấy trời thấy đất gì hết.” Cái ánh sáng chan hòa và cả cái ồn ào nữa, hình như kích động mạnh mẽ các giác quan, đánh thức một niềm vui ẩn náu đâu đó, một niềm vui mà nàng không cần biết duyên cớ.

Rời khu chợ, băng qua bên kia đường, nàng vào một cửa tiệm bán nhiều đồ Miên: chuông mõ, tranh ảnh, những món kỷ vật nho nhỏ, các loại thuốc v.v... Những thứ ấy, có thứ là đồ thủ công do người Miên sản xuất tại địa phương, có nhiều thứ khác được du nhập từ Nam Vang sang, chắc chắn là trộm lén, lậu thuế.

Dung tò mò lật xem nhiều bức tranh vũ nữ Miên, nhưng cuối cùng nàng lại chọn mua một chiếc hộp gỗ tròn, nhỏ bằng đầu ngón tay cái. Chiếc hộp thô sơ không sơn phết vẽ vời gì cả, gồm hai nửa chụp vào nhau thật khít khao. Mỗi khi muốn tách mở ra phải cầm hộp gõ nhẹ xuống mặt bàn. Nàng không biết người Miên dùng hộp để đựng thứ gì, mà nàng cũng chưa biết mình sẽ dùng nó vào việc gì. Chỉ thấy nó hay hay, xinh xắn, cầm trong tay vân vê có cảm giác dễ chịu.

Ra khỏi tiệm bán đồ Miên, đi chưa tới vài chục thước Dung ngạc nhiên trông thấy giáo sư Bạch Văn Tùng trong một tiệm ăn Hoa kiều. Ông ta hỏi:
— Cô Dung quê ở đây hả?

— Thưa không. Em xuống thăm một bà dì. Thầy... thầy xuống hồi nào vậy?

Thật ra, thoạt tiên nàng định hỏi ông ta đi Trà Vinh có việc gì, nhưng bỗng thấy sự tò mò ấy không chính đáng. Ông bảo:
— Sáng hôm qua. Với giáo sư Nghiêm.

Nàng nhoẻn miệng cười:
— Vậy thì chắc các thầy đi nghiên cứu về các chùa Miên?

— Ông ấy nghiên cứu, tôi đi chơi cho biết.

Giáo sư Tùng lấy một ngón tay đẩy cái kính cận nhích lên trên sống mũi, rồi nhíu mũi lại, khịt khịt mấy cái liền. Sau câu vừa rồi, thấy Dung đảo mắt có ý tìm kiếm, ông ta nói tiếp:
— Sáng nay ông ấy đi chùa Kỳ La. Tôi chán chùa rồi, ngồi đây chờ ông ấy về.

— Thầy mới tới Trà Vinh có một hôm đã chán chùa, chắc thầy chán luôn Trà Vinh rồi: Trà Vinh chỉ có chùa Miên là nhất.

— 137 cái, nhiều thật.

— Dữ vậy sao thầy?

— Cô không biết hả?

— Em nghe nói nhiều vậy thôi, chứ đâu biết mấy cái? Nhưng thầy thăm được mấy chỗ mà đã chán?

— Nói cho đúng, không hẳn như thế. Chiều nay có lẽ tôi sẽ trở lại chùa Samrong Ek chơi. Tôi thích loanh quanh gần đó. Cần có thì giờ cho mỗi một khung cảnh mới. Ông Nghiêm ông ấy lại cần xem nhiều chùa, xem kiểu chùa chứ không phải cảnh chùa.

Trong khi nói, giáo sư Tùng nhìn bàn tay người con gái đang vân vê chiếc hộp tròn. Nàng định ngồi xuống chiếc ghế gần đấy, nhưng rồi lại đổi ý, cứ đứng nguyên hỏi:
— Dạ, các thầy tính còn ở đây mấy hôm nữa ạ?

— Ngày mai chúng tôi đi. Ông Nghiêm về Sài Gòn, tôi phải qua Long Xuyên vài hôm.

— Thầy có dạy bên đó?

— Có. Ít thôi... Còn cô, hôm nào cô về?

— Thưa... bây giờ em phải về rồi.

Sẵn dịp, nàng chào ông ta luôn.

Khỏi tiệm Hòa Phát chừng mười căn phố, Dung nhận thấy mình vừa đi quá nhanh. Tự dưng đi nhanh hơn lúc thường, vô cớ. Nàng chậm bước lại và cùng lúc lại nhận thấy mình đang đi về phía bến xe. Sự thực, trước khi ghé vào tiệm Hòa Phát nàng chưa tính đi ngay ra bến xe, nhưng vừa rồi bỗng nàng không thấy cần đi đâu nữa. “Thôi, về luôn cũng được rồi”. Nàng vừa nghĩ vậy, vừa chú ý đến chút mồ hôi dâm dấp sau lưng áo. 

Khi chiếc xe gần tới bắc Vàm Cống, một người đàn bà ngồi ở ghế trước kêu mất cái gói, Dung mới giật mình sực nhớ tới chiếc xắc tay. Nàng vẫn để xắc tay trên lòng mình, nhưng đã khá lâu nàng không chú ý đến, giá có ai nhẹ nhàng nhấc lấy chắc nàng không hay biết.

Hành khách trên xe xôn xao một lát vì cái gói của người đàn bà. Về sau rõ ra là không chắc gói bị mất trên xe: có thể là bà ta đã bỏ quên, có thể đã bị đánh cắp ngay từ chỗ bến xe. Bà ta mang nhiều món đồ và mới vừa phát giác ra sự thiếu mất cái gói. Gói gì? Bà ta không chịu nói, nhưng chắc là có giá. Sau khi lục soát trên xe một lúc lâu không có kết quả, người đàn bà yêu cầu dừng xe, hấp tấp bước xuống, đón xe Lam trở lại Trà Vinh.

Trong xắc của Dung có món bạc năm chục nghìn, lý do cuộc “thăm viếng” dì Bảy của nàng. Ngồi trên xe nàng đang nghĩ về dì. Lần nào cũng vậy, hễ mẹ nàng hỏi đến là dì cho mượn ngay. Dì thật dễ dàng, tốt bụng.
Cảnh sống trong gia đình dì cũng gợi cho nàng cái cảm tưởng về một thứ hạnh phúc không thấm thía, không tưng bừng, nhưng một thứ hạnh phúc thật hồn nhiên.

Nàng nhớ lại bữa ăn ở nhà dì trưa hôm qua. Hồi nửa buổi sáng, nghe có Dung xuống chơi, dì bảo con Hân trông sập hàng ngoài chợ để dì chạy về với nàng. Vừa trông thấy mặt nàng dì la lối om sòm:
— Mẹ kiếp! Con nhỏ này càng lớn càng...dễ coi. Thấy không tụi bay?

Trời nóng nực, dì vừa hỏi thăm về mẹ nàng vừa xối nước ào ào, rửa mặt rửa tay chân mình mẩy. Dì mở xu-cheng, móc treo lên chỗ góc cánh cửa gỗ, gần bàn ăn. Rửa ráy xong, dì xông ngay vào bếp nấu ăn.

Trong bữa ăn, dượng Bảy cười hì hì, không cười lớn nhưng lúc nào cũng sẵn một câu khôi hài. Dì thì cười không dè dặt. Đám trẻ càng ồn hơn. Nhưng cái hay nhất là đám gia súc trong nhà.

Dì Bảy có nuôi hai con chó, dăm sáu con gà ta và hai con gà lôi. Trong ngôi nhà chật hẹp của dì, bàn ăn để giữa nhà bếp và chuồng gà cách bàn ăn chừng năm thước. Như thế tất cả gần gũi nhau, và tất cả đều tham dự xa gần vào bữa ăn.

Những lúc trong bàn ăn gặp câu chuyện vui, ai nấy cười rộ thì lũ chó cũng nhảy cỡn lên hưởng ứng. Có khi một con phóng chạy một vòng quanh nhà, một con đuổi theo, đùa giỡn. Có lần, gà trong chuồng cũng nổi lên gáy ó o vang dậy.

Và dì Bảy thấy thế càng cười ngặt nghẽo. Dì nói: “Tụi nó thấy mình vui, không hiểu gì cũng đòi vui theo.”
Dượng bảo:
— Không phải tụi nó không hiểu đâu. Nhìn coi: con Tô Tô nó chăm chú theo dõi nét mặt tôi với bà kìa. Chó nó cũng thông minh lắm. Mình vui là nó hiểu liền.

— Thì tôi nói nó hiểu vậy vậy thôi...

— Chớ bà còn đòi nó hiểu cái gì nữa? Hiểu cả chuyện tiếu lâm của mình sao? Nè, bà để ý coi, đôi lúc nó phóng mình lao đi như vậy không phải vì vui mừng đâu. Bà coi đây, bây giờ nó đang nhìn chăm khúc giò heo tôi đang gặm đây, nó biết tôi gặm xong là đến lượt nó. Nhưng tôi rề rà lâu quá, sự chờ đợi kéo dài lâu, nó chịu không thấu. Sẵn dịp có tiếng cười rộ, nó phóng chạy bậy cho tinh thần đỡ căng thẳng.

Nghe những câu chuyện nửa đùa nửa thật của dượng Bảy, tiếng cười dễ dãi cởi mở của dì, tiếng lóe chóe của mấy đứa trẻ, nghe tiếng gà gáy chó kêu, nhìn lên cái xu-cheng treo toòng ten ở đầu cửa v.v... Dung thấy cả cái ngộ nghĩnh của một nếp sống vừa đáng yêu vừa buồn cười.

Dung ngồi dựa vào lưng ghế, nhớ lại cảnh tượng bữa ăn ấy trong khi chiếc xe đò đang chạy; nàng đãng trí, quên chiếc xắc với món tiền vừa mượn của dì. Lúc sực nhớ, nàng quay lại, cúi xuống nhìn cái xắc. Cùng lúc ấy nàng nhận thấy người lính ngồi ở dãy ghế bên trái vẫn kín đáo ngắm nghía mình. Nàng quay nhìn lảng ra ngoài cửa, trong khi một bàn tay bất giác đưa lên sờ soạng vu vơ hột nút áo dài gần chỗ cổ áo.

Xe dừng lại, chuẩn bị qua bắc. Dung xuống xe, đi chầm chậm, dạo xem các hàng quà, nhưng nàng không mua gì: Giỏ quà dì Bảy gửi về mẹ nàng đã quá nặng.

Lúc xuống bắc, tình cờ nàng đứng bên cạnh thiếu phụ vẫn ngồi ghế sát cạnh nàng trên xe. Bà ta đang ăn ổi và vui vẻ đưa ngay nàng một trái:
— Mời cô ăn cho vui.

Thấy nàng tính từ chối, bà ta dúi vào tay nàng:
— Cho vui mà cô. Đừng khách sáo. Mớ ổi này ăn được cô à. Cô có mua, coi chừng; lần trước tôi chọn trúng mớ ổi lạt nhách.

Bà ta tiếp tục nói cười, từ chuyện này sang chuyện khác. Trước một người bạn đường cởi mở tự nhiên như thế, Dung không muốn từ chốí món quà nhỏ mọn nữa. Bỗng nàng nghe bên cạnh có giọng nói hơi quen:
— Tôi mua chịu.

Nàng quay lại. Thì ra đó là anh lính đẹp trai vẫn ngắm mình trên xe. Nhưng ở đây anh ta không có vẻ kín đáo dè dặt nữa. Một cô gái mời anh ta mua vé số, và anh ta đùa:
— Tôi mua chịu.

— Chừng nào trả?

— Không trả. Nữa rồi trúng độc đắc mình tiêu chung với nhau.

Câu nói tình tứ mà liều lĩnh làm Dung ngạc nhiên, xao động. Nếu nàng là cô gái bán vé số, nàng đã lúng túng, nhưng cô ta đáp lại ngay:       
— Ở đó mà tìm anh để tiêu chung!

— Tôi tìm cô chớ. Cô tìm tôi sao được? Có lời đó cô à: Biết đâu nửa chừng tôi đụng trận, cô tiêu hết số còn lại, còn lãnh thêm tiền tử tuất.

— Anh này nói!

— À, tôi nói hơi...nhanh, có lẽ nhanh quá. Xin lỗi.

Người con gái cười, rồi bỏ qua, đi chỗ khác, tiếp tục bán vé số. Cô ta trắng trẻo, khá xinh, đội chiếc nón lá bỏ thòng một mối quai đỏ mà ngọn gió mạnh ở khúc sông rộng phất vào mặt vào cổ.

Anh lính cũng nhìn theo cô gái của mình một lúc, cho đến khi cô ta len lách đi khá xa. Rồi anh chàng lấy từ túi áo trước ngực ra một bao thuốc, moi rút điếu cuối cùng, mượn điếu thuốc đang hút dở của người đàn ông bên cạnh để châm lửa. Xong, anh chàng xoay người lại, quay mặt ra phía sông, hơi nheo mắt vì ánh sáng trên nước lấp loáng. Một lát anh ta quăng thật mạnh, quăng xuống sông, ngược chiều gió, cái bao thuốc Bastos đã vò chặt trong tay từ lúc nào, rồi khoanh hai tay trước ngực, thong thả hút và phà ra từng làn khói thuốc, trông thảnh thơi như tâm trí không có chút gì bận rộn.

Như thế, cho đến một lúc sau, khi phà gần cập bến, Dung lại chú ý đến cái giọng quen thuộc ấy. Người lính mua xoài, và cô gái bán vé số tình cờ trở lại khi anh chàng vừa mua xong. Cô gái hỏi:
— Bao nhiêu đó?

— Nghìn hai, mười sáu trái.

— Đắt.

— Nó nói nghìn rưởi.

— Thì nó nói vậy chớ sao.

Cuộc đối thoại ngừng một khoảng ngắn, rồi anh lính vui vẻ nói:
— Thôi, đắt cũng được. Được việc là quí.

— Việc gì vậy anh?

— Nghĩa là để có dịp sẵn đây mời cô một trái.

Cô gái vẫn đối đáp nhanh nhẩu, tới đây chợt khựng lại. “Vấp rồi”, Dung nghĩ thầm trong trí. Nàng lén nhìn, thấy cô gái ngó lảng ra chỗ khác, tránh người lính. Nhưng rốt cuộc anh chàng cũng nài được cô ta nhận cầm một trái xoài, có lẽ là trái lớn nhất.

Và khi phà cặp bến, trong lúc mọi người lộn xộn tranh nhau lên bến, cô gái rút ra một tấm vé số, đưa vào tay anh lính. Cô ta không nói gì, vừa bước đi vừa trao, lặng lẽ thân mật. Anh chàng nhìn xuống tay mình, thấy tấm vé số, cất vào túi, cũng lặng lẽ.

Trước khi bước lên xe, anh chàng hỏi cô gái:
— Lỡ không gặp ở đây, tìm cô ở đâu? Nhà gần đây chớ.

— Hỏi con Lan, tụi nó chỉ... Xa..., trong xóm.

Anh lính lên xe. Cô gái tên Lan bước lùi về phía sau; hình như cô ta có ý định đi vòng sang phía hông xe bên kia, nơi anh lính ngồi sát cửa xe. Nhưng cô ta chưa đi tới nơi thì chiếc xe đã chuyển bánh.

Ngồi trên xe, Dung chợt nhớ loáng thoáng mấy câu trong một bài thơ mà Nguyện đã cắt trong báo, đưa cho nàng tuần trước:
        “Mấy thằng bạn thân giờ lên đại học
         Có thằng ra trường làm tới quan hai”
        . . . . . . . . . . . . . . . . .
        “Mai mốt hòa bình ta về nạng gỗ
         Khấp khểnh bước đi buồn khóc một mình.”
         . . . . . . . . . . . . . . . . .
        “Mai mốt hòa bình ta ngồi xe đẩy
         Chiều qua nhà em có tiếng ai cười.”
        . . . . . . . . . . . . . . . . . .
        “Cúi xuống vụng về để nước mắt rơi...”1

Nàng nghĩ mãi không nhớ ra tên bài thơ, tên tác giả, cũng không nhớ thêm được câu nào khác. Lâu lâu, Dung lại kín đáo nhìn về phía anh lính (bây giờ thì ngược lại: không phải anh ta trộm lén ngắm nàng!). Hết thuốc, anh chàng ngồi buồn, có lúc thiu thiu ngủ gà ngủ gật.

Cách ngả ba Trung Lương vài trăm thước gì đó anh ta xách giỏ xoài đứng lên, đi thẳng ra phía trước, lấy tay đập nhẹ vào vai tài xế, bảo dừng xe, rồi bước xuống. Nhà anh ta nằm thụt thấp dưới mặt đường khá sâu, trước mặt nhà có cái ao với hàng cây so đũa ở ngoài rào.

Trong sân lúc ấy có một người trai trẻ khác, cũng mặc quân phục, đang đứng thơ thẩn. Người lính mới vừa từ trên xe bước xuống trông thấy, mừng rỡ, kêu lên một tiếng ngắn mà Dung không kịp nghe rõ là tiếng gì. Rồi anh ta chụp tay lên đầu, giật cái mũ xuống, xoay nghiêng mình, ném ngay chiếc mũ vào sân như người ta ném một cái dĩa nhựa. Người lính trong sân đón bắt cái mũ. Họ cười to ha hả.

(Còn tiếp)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét