Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Võ Phiến - Nguyên vẹn (Kỳ 6)


Trung tá Du nghe con gái trình bày sự việc xong, ông ngồi lặng im một lúc. Rồi nói: “Đám trẻ trên đó ba ít biết. Nhưng có thể ba quen bố nó. Con biết rõ gia đình nó chớ?”
— Gia đình Bắc di cư, ba à. Nhà nghèo. Cha mẹ anh ấy không có chữ nghĩa gì, hiện ở Thủ Đức, làm ruộng, trồng khoai, trồng đậu... Nhà chỉ có anh ấy là con.
Cha nàng gật đầu nhè nhẹ. Một gia đình khiêm tốn như thế, tất nhiên ông không quen biết, nhưng ông không nói gì. Một lát, ông hỏi:
— Má con có nói sao không?

— Dạ không.
Ông “ờ” một tiếng lơ lửng, định nói điều gì, nhưng có vẻ chưa kịp chuẩn bị nên ông gác qua một bên, bắt sang chuyện khác. Vả lại ông chợt nhận thấy câu nói của mình vừa rồi có chỗ thất thố: Má con còn “nói” gì nữa. Bà ấy đã xếp đặt xong xuôi mọi việc, đã định ngày hôn lễ!
— Lâu quá ba không thấy mặt thằng Thu. Cách đây năm sáu tháng, nó có thoáng ghé qua chừng nửa giờ, lúc đó không có ba ở nhà, nó gấp đi không kịp chờ.
Dung cười:
— Anh ấy vẫn vậy. Nhiều lần về Sài Gòn mà không có thì giờ ghé qua nhà.
— Không biết nó bận công việc gì dữ vậy?
— Bận... chơi bời đàn đúm đó ba.
Cha con cùng cười. Dung nói thêm:
— Anh ấy bạn bè dữ lắm.
Trung tá Du tiếp tục cười hề hề dễ dãi:
— Lính thì vậy đó.
Ông nói về chuyện lính tráng, chuyện bạn bè một lúc, Dung tưởng thế là câu chuyện của nàng đã xong rồi, không ngờ cha nàng chợt trở lại:
— Hôm nào tiện con đưa...Triệu, nó tên Triệu phải không? Con đưa nó xuống đây chơi. Cho ba biết mặt... nghĩa là mẹ con cứ liệu quyết định, ba muốn gặp nó vậy thôi.
Dung thấy rõ sự dè dặt thận trọng của cha. Ông vừa không muốn cho mẹ nàng có cảm tưởng ông xen vào, can thiệp vào sự xếp đặt chọn lựa của bà; ông lại vừa lo lắng đối với việc quan trọng của nàng. Thái độ ấy, nàng không ngờ tới. Hồi nào tới giờ nàng vẫn thấy ông như không mấy quan tâm đến mọi việc của mẹ con nàng.
Trung tá Du nói xong, đứng lên lại tủ rượu rót một ly rượu vang, bỏ cục đá vào, lắc lắc mấy cái, uống một hớp, rồi vừa đi ra phòng ăn vừa gọi lớn:
— Tựu bàn, tụi bay.
Sáu đứa em nàng xuất hiện gần như đồng loạt. Đứa lớn đứa bé, đứa ở phòng này, đứa ở phòng khác, có đứa chơi ngoài hiên, có đứa chơi tận ngoài vườn, nhưng tự nhiên sau tiếng hô “tụi bay” là chúng cùng ùa vào; con Lý cõng thằng Tiến trên lưng, hai đứa mới vào có một vẻ ngơ ngáo buồn cười. Dì Tám từ dưới bếp vừa bước lên, vừa lấy tay áo quệt mồ hôi trên trán vừa la:
— Khoan! Mấy đứa đứng yên đó. Để tía nhấm lai rai, mấy đứa chờ tí, má đem cơm lên rồi ăn luôn.
Cha nàng cười lớn:
— Vậy hả? Chưa có cơm mà bà dọn thịt gà um lên sớm quá. Nghe thơm tưng bừng, tôi tưởng...
— Không sao, không sao! Ông cứ việc... Sắp xong rồi.
Dì Tám chạy xuống bếp. Dung nhìn lũ em lóc nhóc, quanh bàn ăn, trông ngộ nghĩnh; nàng mỉm cười. Cha nàng thấy thế, lấy đũa gắp một miếng thịt nhỏ đút cho thằng Tiến, rồi tự gắp một miếng cho mình. Ông vừa ăn vừa nói:
— Tao thấy khó tính vì đám nhóc đó. Rồi đây mất nước, không biết kéo cả đám này ra nước ngoài lấy gì nuôi cho nổi.
— Ba nghĩ khi mất nước mấy đứa chưa kịp lớn sao?
— Không chắc kịp đâu, mày ơi.
— Con ít gặp ai bi quan như ba.
— Ba không bi quan, ba...sáng suốt. Phải nói một cách khiêm tốn như vậy, phải không bà?
Trung tá Du hỏi vọng xuống bếp. Dì Tám nghe tiếng được tiếng mất, đáp:
— Phải! Ông cứ lai rai. Tôi xong ngay bây giờ.
Ông cười tủm tỉm. Dung tính xuống bếp phụ dì Tám, nhưng cha nàng tiếp tục nói, nàng phải ở lại nghe chuyện.
— Tao không quả quyết bao giờ thì mất nước. Không ai quả quyết được điều ấy. Có thể tình trạng này kéo dài tới hết đời tao cũng nên; nhưng cũng có thể một vài năm tới thì sụp đổ. Nhất định trước sau cũng phải sụp đổ. Muốn tính kế an toàn, tốt nhất là ra đi.
— Con nghĩ nên tính những kế khác, ngoài cái... kế an toàn!
— Con nhỏ! Mày chê bố hèn nhát đó hả?
— Đâu có ba!
Trung tá Du cười ha hả, cởi mở. Ông lại gắp thêm một miếng thịt rồi nói:
— Không có kế khác đâu. Không có. (Ông lắc đầu nguầy nguậy). Tao biết tụi bay chủ trương một chế độ thật sự dân chủ với một chính phủ thật sự trong sạch, được toàn dân ủng hộ, và chiến thắng cộng sản; vậy chứ gì? Đó là một đòi hỏi vô trách nhiệm, không thực tế. Bố hỏi mày thế này nhá: Mày tìm giúp bố xem ở khắp châu Á, châu Phi, có nước nào thực sự dân chủ, thực sự trong sạch không? Đi, con tìm giúp bố đi. Con nhờ đám sinh viên và giáo sư trên đó tìm giúp bố đi. Tao không nói chuyện bên Âu bên Mỹ: ở đó, hoàn cảnh khác hẳn, ta không so sánh được. Đám thầy trò chúng mày đứng bên ngoài mà đòi hỏi lung tung. Đâu được con! Phải nhập cuộc, phải lãnh lấy trách nhiệm, rồi mới thấy nó rắc rối, khó khăn. Mày thử yêu cầu một giáo sư nào đó, ông nào hăng nhất, yêu cầu ông ta ra cai trị lấy một quận xem ông ta có thực hiện được dân chủ với trong sạch ngay trong phạm vi một quận của ông ta không? Đừng nói tới chuyện xã trưởng nó hối lộ, nó tham nhũng, nó áp bức. Ngay tên thư ký trưởng ngồi sát bên cạnh ông ta, nó kiếm chác ông ta cũng không hay biết nữa là! Tao nói ở Á Phi, ngay những nước yên ổn thái bình hàng thế kỷ nay cũng không thực hiện được dân chủ với trong sạch mà lại đi đòi hỏi chuyện đó ở một nước loạn lạc liên miên! Nguyên cái sự đòi hỏi ấy đã gây rắc rối, làm suy nhược lực lượng phía bên này không ít.
— Trời ơi, ba kết tội các lực lượng tranh đấu nặng quá.
— Nặng gì đâu? Chúng mày chỉ có cái tội là dại. Không nặng đâu. Ba bảo vì dại nên gây rắc rối làm suy nhược v.v... Ba không kết tội chúng mày làm mất nước. Sự được thua thắng bại trong cuộc chiến này không tùy thuộc vào tụi mày, vào giới trẻ hay giới già, vào bọn độc tài tham nhũng hay vào đám đòi hỏi dân chủ trong sạch, vào bất cứ ai trong xã hội này. Tụi bay không quan trọng lắm đâu. Cả cái chính phủ nước này cũng không quan trọng. Ai cũng biết rằng các lực lượng đụng nhau ở Việt Nam hiện nay là Mỹ với Nga Tàu. Bom trút xuống chừng ấy, súng bắn chừng ấy, xe tăng chừng ấy, hỏa tiễn Sam V, Sam VI phóng chừng ấy v.v... đâu phải là chuyện riêng của Bắc Việt với Nam Việt. Xứ mình vét hết tài nguyên ra mua sắm vũ khí đánh nhau không nổi một tuần lễ, làm chó gì nên chuyện rần rộ cỡ đó? Như vậy một bên Mỹ, một bên Nga Tàu, hễ bên nào hết muốn đánh là thua, chỉ có vậy thôi. Mà Mỹ thì uể oải trông thấy. Cái gì mà phong trào phản chiến nổi lên như ong, bêu xấu chính phủ tơi bời. Sức nào chịu thấu? Ông tổng thống Mỹ có phải ổng liều mạng đánh giặc để bảo vệ vợ con hay tánh mạng ổng đâu mà ổng cúi đầu chịu chửi rủa liên miên? Cứ liều mạng làm tới, ổng mất danh dự, mất phiếu, mất chức là cái chắc. Cho nên không sớm thì muộn, Mỹ nó cũng rút lui, bỏ cuộc. Cộng sản thấy rõ tình trạng ấy, nó kéo dài, cứ cố gắng kéo dài chiến cuộc ra là nó thắng, chạy đâu cho khỏi? Con thấy rõ cái thế thất bại của mình chưa?
— Như vậy mình thua có “thế” đàng hoàng, ai cũng sáng suốt như ba thì các chính khách còn hoạt động làm gì nữa cho vất vả, quân nhân còn đánh đá gì nữa cho chết uổng mạng?
— Hì hì... Đâu phải ai cũng sáng suốt được như ba! Với lại các hoạt động chính trị quân sự này nọ, chính những cái đó là những yếu tố làm cho người ta không quả quyết được ngày sụp đổ. Chính quyền thực hiện được dân chủ bài trừ được tham nhũng thì lâu đổ, không thì mau đổ, quân đội đánh khá thì lâu đổ, kém thì mau đổ, chính phủ Mỹ khéo đối phó với phản chiến thì còn lâu, vụng đối phó thì tình thế suy đồi cấp kỳ; cộng sản đánh bết thì lâu ăn mà làm liên tiếp được những trò ngoạn mục như vụ Mậu Thân, Mùa Hè 72 v.v... thì mau ăn... Cứ thế. Không ai biết chắc tương lai vì thế. Không biết chắc hạn kỳ, chứ đại thể thì rành rành. Không những vậy, một người như... ba, sáng suốt như ba, dù không định được hạn kỳ cũng có thể nói trước là không thể xa lắm...không thể... Ba e nó gần kề rồi đó.        
Dì Tám bưng cơm lên. Dung xới ra chén. Dì lấy riêng một chén, gắp đồ ăn bỏ lên cơm, chan thêm một muổng nước cá, trộn kỹ, rồi trao cho thằng Tiến. Vừa làm dì vừa nói:
— Hôm nay có chị Ba mấy đứa, tía mặc sức chuyện trò thỏa thích, cho đã ghiền. Tội nghiệp, nhiều hôm không có ai nghe chuyện ổng buồn xo. Mấy đứa nhỏ với dì đâu có biết gì chuyện thời thế! Ổng nói toàn chuyện thời thế hà.
Cha nàng không nhìn dì Tám. Nhưng Dung cảm thấy ông đang nghĩ về dì, ông đang hướng những ý nghĩ dịu dàng, thương cảm về người vợ. Tự dưng ông ngừng nói, như lạc mất hứng thú, ông ngồi yên lặng, mắt lơ đãng xa vắng. Trong một thoáng, nàng nhớ lại cái cảm tưởng của bao nhiêu lần trước mỗi khi thăm viếng cha: cha nàng có vẻ cô đơn trong một gia đình sum vầy.
Dì Tám là một người đàn bà tốt, nhưng quá đơn giản. Không hẳn là dì thiếu học, nhưng dì không hề đọc báo đọc sách gì, không thắc mắc tìm hiểu gì về các vấn đề ngoài xã hội. Còn cha nàng thì tinh quái, sắc bén, thích biện luận. Giữa đám trẻ với người vợ đơn giản, ông lạc lõng. Ông thương vợ thương con, cuộc sống gia đình đầm ấm, tuy vậy vẫn có sự xa cách về một phương diện. Phải chi ông có một vài đứa con lớn tuổi như anh Thu và nàng sống bên cạnh.
Dì Tám tình cờ nói lên đúng chỗ cách biệt, cha nàng thương hại cho sự đơn giản, chất phác của vợ, nét mặt ông thoáng buồn. Trong lúc ấy dì Tám lăng xăng với mâm cơm, rắc chút ớt vào chén mắm, sớt thịt vào một cái dĩa đẩy về phía mấy đứa nhỏ ngồi ở đầu bàn. Xong rồi dì còn chạy lại tủ lạnh rót một ly nước: dì luôn luôn cần có ly nước đá trong bữa ăn, lâu lâu uống một hớp.
Khi mọi người đều ăn uống vui vẻ, bữa ăn đã có đà, cha nàng mới trở lại câu chuyện bỏ dở:
— Nè Dung, mầy có nhớ Chiêm Thành lập quốc từ hồi nào không?... Chắc hỏi bất ngờ vậy, không nhớ nổi đâu. Có gì cũng trên vài ngàn năm. Hồi sứ giả Việt Thường ở phía nam đất Giao Chỉ dâng chim trĩ cho nhà Chu bên Tàu là trước Tây lịch kỷ nguyên hơn ngàn năm rồì, hồi đó đã có Chiêm Thành. Mày coi, trong mấy ngàn năm ta với Chiêm Thành cùng nhau tồn tại, cầm cự nhau ở ranh giới Nghệ An, thỉnh thoảng vẫn xảy ra những vụ xung đột bên này lấn qua, bên kia lấn lại, nhưng có làm gì được nhau đâu. Qua thế kỷ thứ 11, đời Lý Thánh Tôn, ta bắt đầu tiến vô một chút tới Quảng Trị. Từ đó Chiêm Thành sút thế. Nhất là sau khi vua Lê Thánh Tôn đánh vô tới Đồ Bàn, tao nhớ như vào khoảng cuối thế kỷ thứ 15, thì vận mạng nước Chiêm Thành bị đe dọa rõ rệt: hai trăm năm sau họ mất tiêu luôn. Mày thấy không? Trên giải đất này hai bên muốn tồn tại phải giữ cho được cái thế quân bình. Khi Chiêm Thành đã lui bước vào tận thành Đồ Bàn là mất quân bình rồi, một bên phải sụp đổ.
Dung hỏi:
— Ba muốn nói đến việc hiệp định Ba-lê nhường thêm cho Bắc Việt phần đất từ sông Thạch Hãn tới sông Bến Hải phải không?
— Đâu phải chỉ có chừng đó. Lực lượng Bắc Việt không bị bắt buộc rút về Bắc, họ chiếm cứ lung tung. Đâu phải chỉ có bấy nhiêu đó. Mới đây trên tờ Newsweek hay tờ Time gì đó có cái bản đồ Nam Việt với những chiến khu cộng quân, những vùng bị cộng sản khống chế, tô màu đỏ. Tao nhìn vô cái bản đồ ấy, thấy phần còn lại của mình có mấy đâu. Đã vậy mà trong cái phần đất còn lại đây chất chứa vô số cán bộ cộng sản, thứ chìm thứ nổi, có thứ chính cống, có thứ chưa chính cống, chỉ là khuynh tả, thiên cộng v.v... Còn ở phía bên kia thì hàng ngũ chặt chẽ răm rắp, không có một kẽ hở... Chênh lệch nhau quá, thấy không?
— Cái quân bình ở thời Chiêm Thành với bây giờ khác đó ba.
— Con nói khác ra sao?
— Hồi đó chỉ có ta với Chiêm Thành đối đầu nhau trên mảnh đất này. Bây giờ tương quan quốc tế...
— Ờ, cái đó có...
— Ba nghĩ coi: giữa một chút Tây Bá Linh với Đông Đức đâu có quân bình, vậy mà bên này không xóa được bên kia.
— Có lý. Cái quân bình thời bây giờ phải xét rộng rãi hơn, tới cả toàn bộ phe bên này với phe bên kia. Nhưng cái đó ba xét rồi: phe ta ỉu xìu, chỉ chực bỏ cuộc! Cả tình hình quốc tế lẫn quốc nội đều thuận lợi cho họ, nếu các tay có trách nhiệm ở Bắc Việt không nhân dịp này mà đánh nhầu tới, thanh toán cho xong Nam Việt thì sau này họ biết trả lời sao trước lịch sử về cái lỗi lầm, cái “tội” của họ chớ hả?
Trung tá Du ngừng ăn, ngẩng lên nhìn vợ và con gái, vẻ gần như hoan hỉ sau khi thanh toán xong một vấn đề. Rồi như một người cẩn tắc, ông trở lui, soát xét lại một lần chót cho chắc ăn:
— Riêng giữa Nam với Bắc Việt thì họ lấn ta quá nhiều rồi, mất quân bình. Còn nói về thế cuộc quốc tế thì sức ủng hộ của phe ta kiệt quệ, phe ta mất hết ý chí, trong khi phe họ càng gần thành công càng hăm hở: Không còn chút quân bình nào nữa hết...
Con Lý bỗng phát cười rinh rích ở đầu bàn. Khi ai nấy ngạc nhiên quay nhìn nó thì thằng Thịnh lại cười lớn hơn. Nó nói:
— Thầy trò chị Liên kỳ ghê, má biết không?
— Sao? Má đâu biết?
— Hôm qua lớp của chỉ, gần nửa lớp con gái cởi áo dài ra, mặc áo lót ngồi học đó má.
Cả nhà cùng cười ầm lên. Dì Tám hỏi:
— Cô giáo bắt buộc vậy hả? Cô nào vậy?
— Cô Tiết đó má.
Trung tá Du bảo:
— À, bà Tiết già rồi. Một bà già với một đám con nít...
— Nữ sinh trung học mà ba? Tụi con ở tiểu học, con trai, có khi nào các thầy cho cởi trần trong lớp đâu? Các cô vui quá há.
Lúc đó con Liên mới lên tiếng:
— Chiều hôm qua, tụi nó nhao nhao kêu nóng quá trời chịu không thấu, quạt máy trong lớp hư hết trơn; cô cũng kêu nóng, cô biểu đóng cửa lại, đứa nào muốn cởi áo cho cởi...
Dì Tám cười ngặt nghẽo. Trung tá Du hỏi:
— Còn cô?
— Cô cũng cởi áo, bắt mấy đứa lên cạo gió.
— Đàn bà dạy con nít, vui há.
— Con nít hả ba? Ba chưa thấy mấy chị lớp chị Liên đó. Đệ thất mà như chị Hồng chị Huệ... Bự con quá trời.
Con Liên cãi:
— Thì chỉ có hai con đó. Nó gốc Hoa học tiếng Việt muộn nên khai trụt tuổi chớ bộ.
— Em thấy bự ghê đi, chị Ba, bự vầy nè.
Nó vòng tay trước ngực.
Con Liên la:
— Thằng Thịnh, vô duyên! Thì tụi nó vậy chứ bự cái gì cứ kêu bự hoài?
— Không hả? Hôm nọ chị Huệ đánh vũ cầu ngoài đường, em thấy chạy cứ núc ních rung rinh như đàn bà...
— Nà, vô duyên!
Con Lý e ngại, hỏi chị:
— Mấy chị Hồng chị Huệ cũng cởi áo hả?
Ông Du chú ý theo dõi. Con Liên trề môi:
— Đời nào!
Thằng Thịnh lại tấn công:
— Để em tới trường nói mấy thầy qua bên trường nữ nghiên cứu bắt chước. Bên trường em, lâu lâu khám xét quần áo, móng tay móng chân một lần. Bắt buộc nhiều chuyện khó quá.
Con Liên chống đỡ yếu đuối:
— Ừ. Cho tụi bay bắt chước.
Ông trung tá Du chen vào:
— Bà Tiết bà ấy gần hưu rồi. Nội năm nay năm tới gì đó. Bây giờ bà ấy xuống đệ thất đệ lục dạy, cũng như nghỉ ngơi. Hồi trước bà ấy dạy đệ nhị cấp. Lớp học, bà ấy coi như ở trong nhà. Quen thuộc quá rồi mà.
Dì Tám quay lại phía thằng Thịnh:
— Thằng này nó cứ chờ cơ hội là nhạo con Liên. Bộ trường mày không có gì đáng nói hả?
Con Liên sực nhớ ra, nói vội vàng:
— Trường nó hả má? Trường nó các thầy các cô chia bánh mì với sữa không xong, xục rục nhau...
— Bánh mì gì, mày nói tao chưa hiểu?
— Bánh mì Caritas đó.
Trung tá Du can thiệp:
— Cơ quan từ thiện có chương trình giúp học sinh tiểu học một ít thực phẩm để ăn uống tại trường, tôi có nói với mình hôm trước đó. Tụi nó thường kêu bánh mì Mỹ, sữa Mỹ ấy mà. Nhà thầu cung cấp ăn bớt một phần. Các thầy cô lẽ ra không có phần trong đó, nhưng... tội nghiệp... đồng lương hồi này không đủ ăn. Chuyện đó không nên nói. Thôi bỏ qua nghe Liên.
Ông quay về phía Dung hỏi:
— Trên Sài Gòn cũng vậy chớ gì?
— Dạ, cũng vậy. Có người đi dạy về thỉnh thoảng phải chạy xe ôm.
Dì Tám kêu:
— Trời đất ơi!
— Thì đó. Thầy giáo chạy tắc-xi, chạy xe ôm, làm thợ sửa đồ điện, sửa ống nước v.v... để kiếm thêm, đó là chưa kể những lối kiếm chác bất lương. Giặc giã riết rồi đời sống phải loạn, rồi bất mãn chồng chất, dân oán trách chính phủ, rồi muốn hòa bình với bất cứ giá nào. Sức mấy mà tiếp tục chiến tranh nổi.
Ông trở về chuyện “thời thế”. Mấy đứa trẻ lại dần dần tách riêng từng nhóm, tiếp tục những câu chuyện của chúng với nhau.
Sáng hôm sau, lúc Dung sắp ra về, trung tá Du gọi nàng lại. Nàng ngồi, chờ đợi; cha nàng nói thong thả:
— Ba thấy má con suy tính kỹ... Đúng. Má con tính việc đúng lắm. Tình hình đầy bất trắc. Chuyện gì cần làm, làm ngay. Vợ nào chồng nấy, lo cho nhau. Không xếp đặt kịp thời, lúc rối ren thêm khó... Con lo phụ việc với má. Hôn lễ tổ chức đơn giản thôi. Phải thông cảm: lúc này Triệu nó đang quýnh về công việc: việc tràn ngập, đầy đầu...
Dì Tám mang ra một gói lớn, cười cười. Dì đặt gói lên đùi Dung. Nàng kêu: “Dì với ba cho con nhiều quá!”
Cha nàng cười bảo: “Mày biết có gì trong đó mà kêu nhiều? Mày xuống bất ngờ, dì kêu không kịp trở tay... Này! Hôm đó ba sẽ lên Sài Gòn trước một ngày, nghỉ tại nhà cậu Sáu. Có việc gì cần gặp ba, con tới nhà cậu, nghe.”
Trung tá Du nói xong mấy điều, trông có vẻ thoải mái. Ông hỏi Dung:
— Anh ấy vẫn còn làm việc ở Vũng Tàu, phải không?
— Dạ. Ảnh vẫn một chỗ ấy.
— Và vẫn đi một chiếc Honda ấy?
Dung cười:
— Dạ. Bây giờ máy rống to hơn, phun khói nbiều hơn. Hùng dũng hơn trước.
Mọi người cười vui. Trung tá Du nói, giọng hiền hậu:
— Anh ấy, ba thấy đằm tính, không bon chen, đua đòi...
(Còn tiếp)




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét