Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014
Ts Nguyễn Văn Tuấn - Đèn Cù tập II: Tư duy, đối xử với kiều bào và quan hệ Tàu
Đèn Cù Tập II có dành vài chương để viết về sự sụp đổ của các chế
độ XHCN bên Đông Âu, và một số suy nghĩ của giới lãnh đạo chóp bu. Qua đó,
chúng ta cũng có thể có vài ý niệm về suy nghĩ của các vị đang nắm quyền lèo
lái con thuyền đất nước thời đó. Không nói ra thì chắc nhiều người cũng có thể
đoán được là tư duy của họ còn rất nhiều hạn chế.
Chuyện tư duy
Chuyện tư duy
Chúng ta biết rằng ông Lý Quang Diệu được đánh giá cao ở Việt Nam và trên thế
giới. Dù người ta không mặn mà với kỉ luật sắt của Singapore, nhưng ai cũng phải
công nhận ông là một người có tài chiến lược. Có người tặng cho ông danh hiệu
nhà độc tài tốt bụng (benevolent dictator). Nhưng có thời ở Việt Nam, ông Lý
Quang Điệu là một đối tượng bị báo chí Nhà nước chửi như tát nước. Tay sai đế
quốc. Chống cộng. Chống nhân dân Việt Nam. Ông Diệu được giới lãnh đạo VN tặng
cho rất nhiều cái nón.
Nhưng đùng một cái, VN “mặn nồng” với ông Lý Quang Diệu. Ông Võ Văn Kiệt từng mời ông Diệu làm cố vấn và cộng tác. Nhưng ông Diệu từ chối, và nói rằng nếu không có Mĩ gật đầu thì VN vô phương phát triển. Ông Diệu nói rằng Mĩ là chìa khoá, Mĩ là động cơ để phát triển. Ngay cả Tàu cũng phải ôm lấy Mĩ mà phát triển, thì VN không nên xem thường Mĩ.
Sau 1975, một nhóm chuyên gia kinh tế báo cáo cho ông Lê Duẩn rằng các nước như
Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiến mạnh là nhờ làm gia công cho các nước giàu
có. Nghe xong, Lê Duẩn nạt lại: Lại muốn học chúng làm nô lệ ư? Mà, chẳng phải
ông Lê Duẩn mới có tư duy bảo thủ và ngạo mạn đó, ông Tố Hữu cũng thế. Khi một
thứ trưởng Bộ Y tế trình rằng các hãng dược phẩm ở miền Nam lúc đó đang thất
nghiệp, và ông đề nghị làm thuốc kháng sinh cho khối Comecon. Tố Hữu quát: Trẻ
con! Độc lập mà đi gia công?! Anh tưởng Comecon mà không ngoạm nhau à? (Trang
282). Tư duy kinh tế của giới lãnh đạo VN thời mới thắng cuộc là như thế.
Mãi đến 1999, khi VN kí hiệp định thương mại với Mĩ, mà vẫn có vài người có tư
duy chống Mĩ! Trong Đèn Cù, tác giả Trần Đĩnh kể rằng sau khi hiệp thương được
kí 2 ngày thì Đỗ Mười chỉ thị phải nhớ rằng Mĩ vẫn là kẻ thù của VN và của thế
giới. Đỗ Mười còn nói ai thò tay kí vào hiệp thương thì đáng tội "bán nước".
Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, người tích cực vận động cho hiệp định, sau đó phải
"ra đi", nói đúng hơn là bị truất phế khỏi chức bộ trưởng.
Đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc
Đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc
Có thể nói rằng "thành tích" đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc
của VN không có gì đáng khoe. Nói đúng ra là họ có thái độ hai mặt, ngoài mặt
thì nói hay, đằng sau lưng thì nói xấu. Trong Đèn Cù tập II, Trần Đĩnh kể nhiều
chuyện cho thấy thái độ xảo trá như thế.
Đặng Chấn Liêu là một quan chức của Liên Hiệp Quốc, theo tiếng gọi của cụ Hồ về
Việt Nam đóng góp xây dựng XHCN. Ông trở thành chủ nhiệm bộ môn tiếng Anh của Đại
học Sư phạm Hà Nội. Tuy nhiên, ông lại là nạn nhân của Hoàng Văn Hoan, người
nghi ngờ ông Liêu là tình báo của Anh. Ông Liêu còn dính dáng vào vụ "án
xét lại", nên lao đao ở Hà Nội một thời gian dài. Những người đau khổ thường
có khả năng đúc kết triết lí cuộc đời rất hay. Trong một cuộc trò chuyện cùng
Trần Đĩnh và Gs Tôn Thất Tùng, ông Đặng Chấn Liêu tổng kết quan sát về qui luật
hành xử của chế độ như sau: "Chúng mình nhìn người bằng con mắt thân thiện
vì chúng mình cảnh giác trước tiên với cái xấu ở trong bản thân; còn họ, tự nhận
là cách mạng cao quí, họ luôn cảnh giác với người khác để kịp thời giáo dục, uốn
nắn. Họ với chúng ta cơ bản ngược giò nhau, họ bắt buộc phải tự khẳng định vai
trò lãnh đạo, dạy dỗ chúng ta. Cái mặc cảm ưu việt này dẫn tới đòi dân phải có
mặc cảm tự ti với họ. Mặc cảm tự ti này là dấu hiệu dân tin tưởng đảng, yếu tố
hàng đầu của thắng lợi, khốn nạn là thế đấy." (Trang 297).
Một Việt kiều khác là Mỹ Điền, từ Anh về miền Bắc Việt Nam, cũng với ý đồ xây dựng
XHCN. Ông là con của một địa chủ ở miền Nam. Ông được phân công đi làm cán bộ Cải
cách ruộng đất ở Thái Bình. Người trong đoàn nói với ông rằng từ nay trở đi,
ông phải gọi mẹ là "Con địa chủ". Là người miền Nam rất thẳng thắn,
ông dứt khoát phản đối và không chấp nhận cách gọi mất dạy đó. Ngày hôm sau,
ông được cho về Hà Nội. Về Hà Nội, ông trở thành một giáo viên dạy tiếng Anh,
và một trong những học trò của ông là Nguyễn Dy Niên, người sau này trở thành Bộ
trưởng Bộ ngoại giao. Mỹ Điền nói với tác giả Trần Đĩnh rằng "Tôi đã ở
trong quân đội Bình Xuyên sau Cách mạng tháng 8. Tôi cũng đã ở nội phủ cộng sản.
Tôi thấy sao? Nội phủ phần lớn là hoạn quan. Bình Xuyên phần lớn là dân anh chị.
Phải công bằng mà nói là dân anh chị lại quân tử, nói là giữ lời. Hoạn quan thì
không à nha." (Trang 304).
Một trí thức miền Nam khác là Phạm Trung Tương cũng bị đối xử không tốt. Ông
Tương từng làm cò cảnh sát, nhưng lại là người có cảm tình với Việt Minh. Ông
giúp Việt Minh trong cuộc tổng khởi nghĩa và được ghi nhận công trạng. Sau đó,
ông được tập kết ra Bắc, rồi thất nghiệp do lí lịch đen. Mỹ Điền thấy thương
nên "tâu" với Ung Văn Khiêm về tình trạng của Phạm Trung Tương, ông
Khiêm giới thiệu cho ông Tương về làm ở nhà xuất bản Ngoại văn, chuyên dịch
sách báo.
Sau 1975, ông Tương quay về quê Trà Vinh. Tỉnh uỷ Trà Vinh "đì" ông rất
tận tình. Nhà ông bị cắt điện, sống tối om. Bệnh viện từ chối không điều trị
cho ông. Một hôm, Lê Duẩn xuống Trà Vinh nói chuyện cùng giới trí thức. Duẩn đứng
trên bục nhìn xuống thấy một người quen quen, ông bèn đi xuống gặp ông Tương, rồi
nói trước hội trường: Người con ưu tú của miền Nam đây! Tối hôm đó, nhà ông
Tương lập tức có điện, và bệnh viện đến nói với ông rằng từ nay luôn có một
phòng cho ông đến điều trị bất cứ lúc nào.
Frida Cook là đảng viên Đảng cộng sản Anh, bà tình nguyện sang Bắc VN làm giáo
viên dạy tiếng Anh. Sau 1975, bà lại sang VN, và nhờ Mỹ Điền dẫn đi thăm các trại
cải tạo, đó là thứ hiếm mà bà nói thế giới không có được. Đến cổng trại, bà gặp
một ông cụ, và hỏi sao ông vào đây. Ông cụ trả lời rằng ông là viên chức chế độ
VNCH. Bà Cook kêu lên: "Ôi, tôi nghe giới thiệu thì toàn là những ác
ôn!" . Khi VN sang chiếm Campuchea, bà Cook gửi trả VN những huy chương, bằng
khen mà VN đã từng trao cho bà trong thời chiến. Bà nói "tôi từ lâu đã ngửi
thấy ở họ một cái gì …". Nhưng bà Cook không biết rằng cả chục năm trước,
an ninh Việt Nam đã cho rằng bà ấy là một gián điệp Anh được gửi sang VN để phá
hoại. Nhà nước VN gắn huy chương cho mụ ấy cốt để che mắt và mò phá tuyến của mụ
ấy (trang 303).
Đèn Cù còn đề cập đến Gs Trịnh Xuân Thuận, một nhà vật lí thiên văn có tiếng
qua những tác phẩm khoa học phổ thông. Thân phụ ông Thuận là Trịnh Xuân Ngạn, từng
làm việc trong toà án dưới thời VNCH. Sau 1975, ông Ngạn bị chính quyền mới bắt
đi tù cải tạo. Ông Thuận nhờ chính phủ Pháp can thiệp để cứu ông bố ra tù (Trang
315). Năm 2005, VN vinh danh ông Thuận cùng 14 nhà khoa học Việt kiều khác ở nước
ngoài. Nhưng những người trong giới cầm quyền có lẽ chưa đọc cuốn "Hỗn độn
và hài hoà" mà trong đó ông Thuận viết rằng "Tôi thông báo cái chết của
chủ nghĩa duy vật biện chứng".
Quan hệ với Tàu
Quan hệ với Tàu
Tháng 2/1999, ông Lê Khả Phiêu (lúc đó là tổng bí thư) đi thăm Tàu. Người ta ngạc
nhiên vì sự chậm trễ này. Thường thì sau khi ai đó nhậm chức tổng bí thư Tàu mời
sang thăm nay, còn đằng này, ông Phiêu nhậm chức từ năm 1997 mà mãi đến 1999 mới
được mời sang thăm Tàu. Buổi tiếp đón không có diễn văn, chỉ có hội đàm, rồi
chiêu đãi, và hạ màn. Trong buổi chiêu đãi, Giang Trạch Dân ca bài "Bông hồng
nhỏ của tôi", còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thì hát bài
"Cây trúc xinh", có lẽ ý nói trúc mọc một mình, không cần đến "bạn".
Tiền Kỳ Tham từng là phó thủ tướng Tàu có viết hồi kí, và ông dành 2 chương để
viết về VN. Trong đó có nói về chuyến thăm của Lê Khả Phiêu. Theo hồi kí này,
đoàn của ông Phiêu chờ mãi chẳng thấy phía chủ nhà Tàu nói gì cả. Xem lịch thì
thấy 2 giờ chiều Giang Trạch Dân có lịch đón đoàn VN, ông Phiêu bèn dẫn đoàn đến
nơi, nhưng thật ra giờ đó thì Giang tiếp thống đốc Hồng Kong, nên Tiền Kỳ Tham
nói đoàn ông Phiêu phải chờ đến 5 giờ chiều! Ông Phiêu đưa cho họ Tiền một tờ
giấy gồm một số chữ, và đề nghị Tiền đưa cho Giang. Giang Trạch Dân mở ra đọc,
đọc xong, lẳng lặng vo lại và ném vào sọt rác. Giang lấy tờ giấy khác và viết
theo ý của y (Trang 354). Nghe nói Giang viết 16 chữ: "Sơn thuỷ tương
liên, lí tưởng tương thông, văn hoá tương đồng, vận mệnh tương quan."
Nhận được giấy của Giang viết, ông Phiêu hỏi Tiền Kỳ Tham tại sao không có chữ
"bình đẳng" hợp tác như ông Phiêu nêu ra. Tiền Kỳ Tham viết:
"Tôi không trả lời Phiêu mà chỉ cười và nghĩ thầm rằng, người lãnh đạo cao
nhất như Phiêu mà không hiểu nổi rằng xưa nay có bao giờ Việt Nam được bình đẳng
với Trung Quốc!" Nhưng khi về đến VN, đoàn ông Phiêu mở cuộc họp báo và
tuyên bố chuyến đi thăm Tàu là "thành công tốt đẹp"! Hồi kí của Tiền
Kỳ Tham còn quan tâm đến văn học VN. Trong hồi kí, họ Tiền nhắc đến các tác phẩm
văn học VN bị cấm lưu hành, trong đó có tập thơ của Nguyễn Duy. Họ Tiền dẫn câu
thơ của Nguyễn Duy: Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng; / Điếm cấp cao bán miệng
nuôi trôn.
Nói chung đọc qua những trang trong Đèn Cù Tập II, chúng ta dễ nhận ra rằng giới
cầm quyền chẳng tin tưởng vào ai, kể cả chính người của họ, còn kiều bào và người
nước ngoài thì chỉ là "hoa lá cành" cho họ mà thôi. Một điều cũng thể
hiện khá rõ nét là những gì mà giới lãnh đạo Tàu và Mĩ hay nói về giới cầm quyền
VN: đó là không đáng tin cậy, vì nói một đằng làm một nẻo.
(Nguồn: FB NguyenVanTuan)