Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

Phan Nhật Nam - Hoàng-Trường Sa, Đầu Sóng Ngọn Gió


Trong thời đại hôm nay, Tổ Quốc Việt Nam đối với người Dân Việt trong cũng như ngoài nước không có danh tính địa vực, hải đảo nào gợi lên niềm xúc động sâu xa như tên gọi hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa. Hoàng-Trường Sa đã không còn là hai hải đảo hoang vắng, cách biệt mà đầu Thế Kỷ 20 hầu như hoàn toàn xa lạ đối với số đông người Việt. Bởi nay Hoàng Sa đã là máu thịt Việt Nam, của Miền Nam kể từ cuộc hải chiến 19 tháng 1, 1974 giữa hải quân Trung Cộng và Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa với kết quả máu của 74 chiến sĩ đã thấm xuống vùng biển quê hương mà danh tính Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà, Hạm Trưởng HQ 10  đã hiển linh cùng lịch sử người Nam giữ nước. Tháng 3 năm 1988, thêm một lần, hải quân Trung cộng được thuận nhượng gián tiếp của Bộ Chính Trị đảng cộng sản tại Hà Nội đã tấn công chiếm lĩnh ba đảo Collins, Lensdowne và Gạc-Ma, từ đó xây dựng thành những căn cứ quân sự để hiện thực đường Lưỡi Bò 9 Đoạn do Bắc Kinh tự quy định sau lần thành lập 1949.  


Không chỉ lấn chiếm về mặt quân sự, mưu định bành trướng của Bắc Kinh trên vùng Biển Đông tiếp được thực hiện với lần thành lập thành phố Tam Sa vào ngày 24 tháng 7 năm 2012 trên đảo Phú Lâm sau khi bị chiếm đóng, đổi tên là đảo Vĩnh Hưng. Thành phố Tam Sa là một đơn vị hành chánh thuộc tỉnh Hải Nam có chức năng quản trị một khu vực rộng lớn mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền, bao gồm: Quần đảo Hoàng Sa (Bắc Kinh đổi thành Tây Sa); Quần đảo Trường Sa (đổi là Nam Sa), bãi Macclesfield và bãi cạn Scarborough (Thuộc lãnh hải Phi Luật Tân đổi thành Trung Sa) cùng vùng biển xung quanh.

Tham vọng của Trung cộng không ngừng lại với Tam Sa, ngày 6 tháng 5, 2014, Bắc Kinh cho lệnh hạ đặt giàn khoa Hải Dương 981 chỉ cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi 119 hải lý, tức là trong vòng 200 hải lý thuộc vùng Đặc Quyền Kinh Tế của VN do quy định từ Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) ký kết năm 1982. Hơn thế nữa, hành động của Bắc Kinh cũng là vi phạm Tuyên Bố về Ứng Xử của Các Bên ở Biển Nam Trung Hoa - Tiếng Anh: Declaration on Conduct of the Parties in the South China Sea - viết tắt là DOC. Một văn kiện được các nước ASEAN và nhà nước Trung cộng ký kết trong ngày 4 Tháng 11 năm 2002 nhân Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN nhóm họp lần thứ 8 tại Nam Vang, thủ độ Campuchia. Đây là văn kiện pháp lý đầu tiên mà ASEAN và Trung cộng đã đạt được về Biển Đông, coi như là bước đột phá trong quan hệ giữa ASEAN và Trung cộng  nhằm giải quyết những tranh chấp trên vùng biển Trường Sa. Nhưng trong thực tế chỉ là những văn kiện không có giá trị thi hành, do ý đồ bành trướng của nhà nước cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bắc Kinh còn muốn đi xa hơn nữa.

Cần phải trở lại lịch sử xa hơn, sách lược bành trướng của Bắc Kinh không chỉ hình thành từ cuộc xâm lăng Hoàng Sa năm 1974, nhưng cụ thể đã được Mao Trạch Đông nói thành lời từ ngày 4 tháng 9, 1958: Biển Đông chỉ yên khi thuộc về Trung Quốc! Quan điểm chỉ đạo của Mao Trạch Đông được định chế hóa thành quy định về lãnh hải do Tổng Lý Quốc Vụ Viện Châu Ân Lai ấn ký có nội dung: Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi gồm  Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. Bản tuyên bố của Châu Ân Lai mau chóng được Phạm Văn Đồng, thủ tướng nhà nước VNDCCH tại Hà Nội ghi nhận, tán thành qua công hàm 14 tháng 9. Nhưng sau nầy Hà Nội chống chế, công hàm Phạm Văn Đồng có mục đích cầu Bắc Kinh viện trợ để tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Lời giải thích cho thật là như thế cũng không thể che lấp một chủ trương cần phải kết án: Nhờ tay ngoại nhân để quyết liệt tàn sát đồng bào, xâm chiếm miền Nam. Nhưng cũng không phải như thế, vì chiến tranh xâm lược miền Nam phải đến 1960 mới được khởi sự với lần thành lập MTGPMN, 20 Tháng 12, 1960.

Bắc Kinh không những chỉ được Hà Nội tán đồng một lần vào năm 1958, mà sau nầy vào năm 1974, khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa lâm chiến tại Hoàng Sa thì tại Hà Nội Trường Chinh, cựu Bí thư đảng, chủ tịch quốc hội hân hoan tuyên bố: Để Trung quốc quản lý Hoàng Sa vẫn tốt hơn để dưới quyền bọn Mỹ-Ngụy. Cuối cùng tất cả sách lược xâm chiến xuống phương Nam qua lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa được đúc kết trong quan niệm chiến lược của TBT Lê Duẩn: Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên xô. Đánh cho Trung Quốc. Chúng ta có thể tạm đóng lại  chương lịch sử đau buồn và tủi nhục của Việt Nam tại đây với sự kiện: Hải quân Liên Xô đóng tại Cam Ranh hoàn toàn bất động trước lần Trung cộng xâm chiếm Trường Sa, 1988 dẫu hai bên Xô-Việt đã cùng ký Hiệp ước liên minh quân sự từ 1978.

Không ai yêu nước/giữ nước bằng chính người dân nước ấy – Nhưng oan nghiệt thay, truyền thống yêu nước của người Việt Phương Nam hiện thực tại Hội Nghị San Francisco năm 1951 qua tuyên cáo của Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trần Văn Hữu về chủ quyền của Quốc Gia Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa dẫu không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ cộng đồng quốc tế gồm 51 nước tham dự hội nghị, nhưng hai thập niên sau đã bị xóa bỏ bởi sách lược của các đại cường Trung, Mỹ có sự tiếp tay trực tiếp của nhà nước cộng sản Hà Nội.

Sau khi người Pháp rút khỏi Đông Dương, 1955, thay thế Chính Phủ Quốc Gia, Việt Nam Cộng Hòa đã chiếm giữ, thực hiện chủ quyền cho đến trận chiến Hoàng Sa 1974. Thời điểm nước Mỹ thực sự xoay trục về hướng Tây, Hạm Đội 7 của Mỹ bất động trước lời kêu cứu của đồng minh VNCH trong cơn bão lửa Hoàng Sa.

Lịch sử luôn được lập lại, nhưng phần lớn chỉ lập lại những sai lầm và đổ vỡ. Nước Việt Nam đứng trước Biển Đông với hai vị trí tiền tiêu Hoàng –Trường Sa liên hồi chịu cơn sóng gió tấn công từ mọi phía cùng lúc với sự phá hoại của lực lượng nội thù cộng sản. Biết đến bao giờ hai quần đảo máu thịt nầy trở về lại với Tổ Quốc Việt Nam?




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét