Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

Võ Phiến - Lại thư nhà (kỳ 9)


Còn vỏn vẹn chín năm nữa thì miền quê tôi kể là được sát nhập vào bản đồ Việt Nam đúng năm thế kỷ. Tôi tưởng tượng nếu mỗi địa phương được vui mừng làm lễ kỷ niệm những ngày lịch sử như vậy thì có lẽ cũng là điều hay.

Riêng về phần tôi, tôi lấy làm hổ thẹn mà nhận rằng quả tình thường nhật tôi không ngờ quê hương mình có một quá khứ xa xăm đến bậc đó. Thăm dò cái quá khứ ấy ở đâu? Chúa này kế chúa kia, vua này tiếp vua nọ chỉ trong có mấy trang sử nhỏ, cây cỏ trong miền mỗi mùa mỗi thay lá, hình mây bóng nắng mỗi lúc mỗi đổi mới... tìm cái cảm tưởng xưa cũ lâu dài ấy ở đâu? Rốt cuộc chỉ có khi nào gần bà, tôi mới thấy lịch sử là mênh mông. Suốt từ giờ này qua giờ kia, bà tôi kể cho nghe vụ kiện giữa chi phái lớn với chi phái nhỏ trong “gánh” họ Lê kéo dài ra liên miên, trong đó có bà góa phụ mang gạo lên tỉnh hầu quan suốt tháng, có ông tú viết đơn giúp bên này, ông lý thảo đơn giúp bên kia, có những vụ đốt nhà, đập lộn, nằm vạ, những chuyện nhì nhằng vụn vặt bỗng nhiên hóa ra quan trọng chỉ vì thuộc về “mọi lần”, bà tôi kể cho nghe đám hát ăn mừng của ông chánh tổng Hạ Ninh, đám cưới ông cử họ Trần, những yến tiệc đãi đằng, bánh trái, cùng những cuộc cãi vã, bà tôi kể về ước nguyện làm quan của gia đình này, về truyền thống đạo tặc của dòng họ kia v.v... Những sự tích lớp lang ấy, với tất cả sự mến tiếc của bà tôi, gợi lên trong trí tưởng tượng của tôi một dĩ vãng ly kỳ và sâu thăm thẳm. Tưởng chừng như năm trăm năm lịch sử quá gọn ghẽ trên sách vở không đủ chỗ chứa những sự việc ngổn ngang phong phú trong kỷ niệm một đời bà tôi.

Bà tôi qua đời. Thời kỳ đang có nhiều rắc rối khó khăn, ai nấy lo cho tương lai hơn là bỏ thì giờ ra nghĩ quẩn về những vụn vặt của quá khứ. Lần lần tôi lớn lên, và tôi cũng đua đòi theo mọi người. Xứ sở gặp toàn những chuyện rối ren. Giặc giã, rồi nghỉ, rồi lại giặc giã; chính phủ này, chủ nghĩa này; rồi chính phủ khác, lại đường lối khác... Tôi cũng lăng xăng theo thời cuộc, nay đây mai đó. Rồi tới khi mỏi mệt, bèn dạt về một đô thị lớn, xa hẳn tiếng súng, len lách giữa xe cộ ồn ào, dạo phố và tán dóc.

Thỉnh thoảng, hoặc nhân một ngày giỗ lớn, hoặc nhân một đám tang, đám cưới nào đó trong họ, tôi về làng. Và những điều trông thấy thực khác xưa. Khu gò trước đình làng, nơi “mọi lần” vẫn diễn ra những hội hè đình đám tưng bừng, bây giờ thực ra chỉ là một khoảnh đất sỏi cằn cỗi, lơ thơ mớ cỏ may quét vào ống quần, một khoảnh đất thật là nhỏ hẹp quá chừng, đi có mấy mươi bước đã hết! Dấu chân ông Khổng Lồ vừa bé vừa cạn, mùa nắng không còn một giọt nước đọng, tới nỗi cây rù rì mọc bên bờ vàng héo đi, tưởng sắp chết khô.

Về phía các nhân vật thì cháu đích tôn ông chánh tổng Hoàn của “mọi lần” ngày nay chỉ là một anh chàng bán thịt heo ngoài chợ, người thấp lùn, thường buộc cái khăn lông rất bẩn quanh đầu. Chi phái lớn của “đống” họ Lê còn lại một người con gái có chồng tập kết ra Bắc, tuổi ngót ba mươi, nước da vàng vì bệnh sốt rét; chị ta mua lại cái máy may cũ về may thuê những quần cụt áo cánh và áo bà ba trong căn nhà lẹp xẹp ở đầu làng. Nhờ ăn mặc sạch sẽ, chị ta cũng hấp dẫn được mấy người đàn ông ngày thường loanh quanh tán tỉnh, giọng cười nói thô kệch khả ố thế nào... Ông tú Từ Lâm ngày nay vẫn còn sống. Về già ông ta trở lại quí mến cụ Khổng hơn bao giờ hết: năm khi mười họa gặp lại tôi, thế nào ông ta cũng hỏi mượn một tờ tạp chí Nhật nhật tân của hội Khổng Học. Giá cụ Khổng còn ở đời mà trông thấy một môn đồ trung thành như vậy tôi chắc cụ cũng khó cầm lòng, có thể cụ sẽ tha thứ hết thảy những năm lang thang phóng túng, sống ngoài lề xã hội đạo đức, của ông tú. Nhưng tiếc thay cụ Khổng không phải là bác sĩ, mà ông tú Từ Lâm ngày nay thì lại cần đến thuốc men thực công hiệu mới sửa chữa được hậu quả những phóng túng trước kia, hơn là cần đến sự tha thứ. Ngày nay thì ông ta ốm yếu quá sức, lúc nào cũng mặc kín từ đầu tới chân, choàng áo bành-tô, mang bít tất cao tới đầu gối, tránh gió tránh nước, run lẩy bẩy từ bàn tay cho đến quai hàm dưới. Những năm sống ở thị thành còn lưu lại nơi ông tú già cái bệnh nghiện cà-phê. Ði tới nhà ai ông ta cũng bọc theo trong túi một gói cà-phê bột, ông ta xin một ly nước sôi, lẩy bẩy mở gói ra, trút cà-phê vào ly rồi dùng cái dĩa tách đậy kín lại. Một lát sau, ông ta gạn chắt nước cà-phê ra chén, cho vào một ít đường. Trong cách thưởng thức cà-phê Tây phương của ông tú Từ Lâm có pha trộn lai căng lối dùng trà của người Á Ðông xưa; nhưng trông hai bên Ðông Tây gặp nhau tình cờ ở nơi cái già nua lẩm cẩm, ở những ngày tàn rất tiêu điều của ông tú Từ Lâm, người ta nghĩ rằng giá chúng nó đừng gặp gỡ nhau lại hơn.

Ờ! Về phía các nhân vật sao tôi lại không chú ý đến Năm Thiều, người con trai của Thập Tam? Anh ta cưới Xuân hồi mới đình chiến. Gần đây tôi có gặp lại, người thiếu phụ đó mới hai đứa con mà trông già hơn anh chồng nhiều quá. Chị ta giống tính mẹ, ăn mặc xuềnh xoàng, dơ dáy, không để ý đến chuyện trang sức chút nào. Anh chồng, làm dân vệ xã, thì lại như một cậu con trai mới lớn: có một lần gặp nhau, tôi trông thấy anh ta mặc quần ống túm, đầu tóc uốn dợn phía trước, chải tém phía sau. Tôi tò mò sờ sợi dây chuyền vàng nặng một lượng anh ta đang đeo quanh cổ, hỏi: “Anh sắm cái này được bao lâu? Lần trước tôi không thấy. Ðộ này phát tài lắm phải không?” Anh ta đỏ mặt, chối liền: “Của nhà tôi đưa tôi đi sửa, đem về chưa kịp trả lại đấy mà!” Chị vợ đứng bên cạnh, ngó lảng về phía khác, mỉm cười, tha thứ dễ dãi, như tha thứ một đứa trẻ.

Người thiếu phụ có nụ cười biếng nhác đó hiền lắm, chịu thua, chịu thiệt hết; chị ta làm lơ trước những vụ ngoại tình lăng nhăng của anh chồng. Chị ta cũng không ăn hàng vặt vãnh như người mẹ trước kia. Nhất là chị ta không thích ăn bún và không bao giờ rờ đến một múi mít. Cái xác chết của thằng em trên võng hồi nhỏ vẫn ám ảnh chị ta đến ngày nay.

Những hình ảnh ấy – từ khu gò trước đình làng, cho đến người cháu đích tôn của một dòng họ lừng lẫy bây giờ đứng bán thịt heo, từ ông tú Từ Lâm nhắc nhở một thế hệ xa xôi tàn tạ cho đến anh Năm Thiều của một lớp son trẻ lố lăng – tất cả những hình ảnh ấy làm cho ngày nay quê hương đối với tôi hết cả cái hấp dẫn của thuở bà tôi còn sống. Tôi có cảm tưởng như một người đi tàu trong đêm trăng qua một miền xa lạ, nhìn phong cảnh hai bên đường chỗ nào cũng lung linh kỳ ảo, nhưng sáng ra, xuống tàu, đứng ở một nền ga xép cũ kỹ nhìn xung quanh chỉ thấy toàn đồng khô cỏ cháy.

Lại một hôm, trong bữa tiệc cưới người anh họ ở trong làng, tôi được trông thấy con gà hầm, bẻ quặp mỏ xuống, có mấy sợi bún chẽ phủ qua loa trên mình làm áo tơi, có miếng đu đủ vạt nhọn, khoét trũng, chụp lên đầu làm nón, cặp dưới cánh cây cần câu làm bằng một khúc măng, con gà ấy ngồi giữa tô canh. Tôi rụng rời: ông Lã Vọng! Vì con gà luộc bộ tịch thiểu não ấy chính là ông Lã Vọng của bà tôi “mọi lần”. Tôi thấy cạn hẳn đi cả cái thời xưa sâu thăm thẳm và rộng mênh mông. Tất cả cái thời xưa của bà tôi nghèo sút đi rất nhanh chóng.

Hai năm liền tôi không về làng. Mà tôi cũng không thấy có gì đáng tò mò về chỗ làng mạc của mình nữa.

(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét