Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

Võ Phiến - Lại thư nhà (kỳ 8)


Có một vật gì cộm dưới lưng! Tôi lật chiếu xem: thì ra là một cây quạt! cây quạt của bà tôi, có buộc một sợi chỉ ở sau cán để phòng những khi đi xa thì gài vào nút áo cho khỏi rơi mất.

Tò mò, tôi điểm qua các vật dụng bà tôi để trên chiếc giường mình đang nằm. Một cây chổi bằng cọng dừa dùng để đuổi muỗi, treo dọc theo cây trụ mùng. Một hộp thuốc tể bát vị đã uống hết thuốc, hộp dùng đựng thuốc rê và giấy quyến, để dưới chiếu, phía đầu giường. Một hộp quẹt vỏ rất cũ kỹ, ba cây đèn cầy, để ban đêm bà tôi thức dậy cầm đi soi khắp xó xỉnh trong nhà. Một gói giấy, trong có mấy tờ bạc vuốt rất thẳng... Những đồ vật nhỏ nhặt, những sắp đặt tỉ mỉ, những thói quen thân thiết lâu đời... một nếp sống đã an bài và thu hẹp trong những hoạt động vặt vãnh! Bà tôi bận tâm về những cái ấy hơn bất cứ cuộc tấn công quân sự nào.

Tôi nằm nghĩ đến mối buồn phiền của bà trong ba hôm rồi, nằm ở một hè nhà dưới chân núi, xung quanh lúc nào cũng lao nhao người vật ngổn ngang, ba hôm xa lạc những chum mắm và những cây nến, xa lạc cây quạt có sợi chỉ buộc đằng cán!...

Có tiếng khua ở trước sân. Tôi xô một cánh cửa sổ trông ra. Một người đang lom khom bưng tỉn mắm đã nghiêng đổ, trút cả vào cái tô lớn thường dùng uống nước chè Huế. Tôi bước ra, người đàn ông quay lại: anh Bốn Thôi! Anh ta cười bảo: “Anh em dân quân xin miếng mắm ăn cơm.” Anh cúi xuống tiếp tục chắt hết nước mắm vào tô, xong rồi ngẩng lên, thong thả nói thêm, để phân trần: “Mấy hôm nay không có chợ, trong xóm lại không có đàn bà để kiếm cái ăn. Phải xin chút ít của đồng bào!... Ủa! heo lại lật đổ mắm nữa! Hôm qua, hôm kia, ngày nào vô đây tôi cũng thấy có đôi ba hũ mắm bị ngã, đỡ lên xong lại bị ủi ngã nữa. Không biết heo nhà ai.”

Cho đến khi tình hình thực yên ổn, bà tôi hồi cư thì rác trong vườn có được dồi dào phong phú khác thường, tha hồ cho người dọn đốt. Tuy nhiên hầu hết các hũ mắm của người đã chẳng còn gì nữa: phần thì bị heo phá đổ, phần thì anh em dân quân mượn dùng.

Tôi từng nghe trong chiến tranh nhiều nhân vật tên tuổi bị thiệt mất hoặc một thư viện gồm mấy vạn cuốn sách quí, hoặc một kho tàng đồ cổ vô giá. Những sự thiệt hại như thế khiến cả xứ cùng tiếc. Trái lại chưa nghe nói có ai xúc động vì một sự thiệt hại tương tự như sự thiệt hại của bà tôi. Tuy thế mà so sánh về sự buồn rầu của kẻ bị mất mát, thì vị tất bà tôi đã chịu nhường các nhân vật kia. Nhất là từ đó cho đến khi nhắm mắt qua đời, người không thể nào gầy dựng lại được “cơ sở” như trước nữa.

Sau cuộc nhảy dù ấy một tháng có cuộc đổ bộ ở duyên hải, cả làng lại tản cư lần nữa. Hai tháng rưỡi sau, mặt trận An Khê muốn vỡ: dân chúng được lệnh sơ tản tài sản, vật dụng. Những cuộc chuyển dời liên tiếp như vậy trở ngại công việc mùa màng và làm hao hụt vật thực lúa gạo của mọi gia đình. Trong tình trạng luôn luôn bị náo động ấy mọi người trong nhà cố giải thích với bà tôi rằng mua sắm tích chứa mắm muối thực là không hợp thời. Bà tôi rầu rĩ, và những lúc nhàn rỗi lại thủ thỉ kể chuyện với tôi về mắm (mắm bấy giờ bắt đầu thuộc về “mọi lần”) bằng tất cả sự luyến tiếc.

Bước qua tháng bảy năm đó bà tôi nhuốm bệnh. Người chịu không nổi sơn lam chướng khí trong các kỳ tản cư, chịu không nổi những xúc động lo hãi, buồn rầu liên tiếp.

Những bà cụ già bảy tám mươi tuổi, mắt mờ tai nặng, họ không đủ minh mẫn để nhận thấy các biến cố xảy đến trong xã hội hiện tại. Họ sống với dĩ vãng. Họ bám giữ các thói quen cũ, cùi cũi sống trong cái thế giới riêng của mình, mỗi ngày mỗi tách xa, quá tầm réo gọi của cuộc sống hiện tại. Ðời chỉ còn nom thấy những cái lưng còng của họ càng ngày càng xa khuất. Nhưng một khi cảnh sống huyên náo ác liệt bất ngờ làm xúc động đến họ, gọi giật họ về thực tại, họ sẽ hoảng hốt kinh hoàng, thần kinh rối loạn, họ không chịu nổi nữa.

Trung tuần tháng chín, trung đoàn trưởng trung đoàn 80, một người Thổ, toan lập chiến công đặc biệt, lựa chọn toàn cán bộ từ trung đội trở lên, thành lập một đơn vị quyết tử, đốt lửa ăn thề, lấy quốc kỳ làm khăn quàng, nửa đêm tấn công đánh úp đồn Thượng An. Ðến chín giờ sáng hôm sau, tám phần mười đại đội quyết tử bị tiêu diệt. Trung đoàn trưởng Văn Danh tử trận. Kế hoạch đánh đồn thất bại nhanh chóng và bất ngờ làm hoang mang bối rối toàn thể binh sĩ. Chỉ trong vòng ba hôm sau, tin dữ loan truyền ra khắp tỉnh: dân chúng lo sợ địch thừa cơ hội trung đoàn vừa mất quá nửa số cán bộ chỉ huy, mà đánh rốc xuống. Nhà nhà lại rục rịch sơ tản con nít và người già. Bà tôi lắc đầu, không chịu xa nhà một lần nữa: người tự xét mình đã yếu lắm, muốn được ở yên tại nhà mình cho dù tình thế có ra sao đi nữa.

Tình thế rồi lại tạm yên. Nhưng các sự lộn xộn trong năm làm cho sinh kế gia đình khó khăn, vật thực thiếu thốn. Vào những ngày mưa gió đầu tháng mười, bà tôi bệnh tình bắt đầu trầm trọng. Một hôm người thoáng nghe mẹ và các cô tôi kêu than là nhà thiếu hẳn mắm để ăn, tiếc rằng đến lúc cần thiết nhất thì số mắm tích trữ của bà tôi lại bị phá hủy. Bà đang lim dim bỗng mở mắt ra, gọi mẹ tôi lại, đàm đạo về mắm. Lần đầu tiên trong những năm về già, người được dâu con tán thưởng về việc trữ mắm. Người hoan hỉ ra mặt, quên hẳn cơn bệnh, dặn dò chỉ bảo mẹ tôi nhiều điều để cố gắng xây dựng lại một cơ đồ mắm muối!

Khi bà thấm mệt, ngừng nói, ngủ thiếp đi, mẹ tôi rón rén bước ra khỏi phòng. Gặp các cô, mẹ tôi nhếch miệng cười buồn bã.

Tối hôm đó, bà tôi phát nóng, mê sảng. Nửa đêm bà trụt xuống khỏi giường, định lần dò đến võng, nhưng loay hoay mãi tìm không ra phương hướng. Người lạc lối ngay trong nhà mình, trong ngôi nhà quen thuộc mà người không bao giờ muốn xa rời. Bà tôi la ú ớ. Mọi người thức giấc, dìu người trở lại giường nằm. Ai nấy đều lo ngại. Tuy vậy, từ đó thỉnh thoảng tỉnh táo người lại hỏi han mẹ tôi về công việc mắm muối, ngầm ý khích lệ.

Sự thực thì độ ấy không cần có sự khuyến khích của bà, gia đình vẫn cố dành dụm mua cho được mắm để ăn. Mùa tháng mười năm đó, hơn tất cả mọi năm, nhà tôi đặc biệt chú ý tới cua: vừa mua, vừa đổ ra đồng để bắt. Các cô tôi xúm nhau nghiên cứu và thí nghiệm các cách làm mắm. Tuy nằm bệnh một nơi, bà tôi không bỏ qua những biến chuyển quan trọng và hợp ý như thế.

Các cô tôi làm hỏng liên tiếp bốn hũ mắm cua chua. Ðến hũ thứ năm thì kết quả tốt đẹp không ngờ: nếm thử một chút, ai nấy đồng thanh công nhận không thua mắm của chị Lộc.

Bà tôi được báo tin ấy, mỉm cười. Cái cười của người vừa có vẻ đắc thắng vừa có nghĩa hài lòng vì con dâu trở về với những chăm chút của “mọi lần”.

Nhưng người không còn gượng được nữa. Người mất ngay hôm ấy. Trong tất cả “đống” họ tôi, không ai ngờ sự thành công nhỏ nhặt về một hũ mắm cua lại thành ra nguồn vui cuối cùng mà bà tôi được hưởng trên đời.


(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét