Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

THẾ KỶ 21 - SỐ 20, THÁNG 11, 1990 (điện tử hóa)

Digital
SỐ 20, THÁNG 12, 1990
Bạn đọc thân mến,
Người ta không gọi nhà văn trẻ (vì họ nhỏ tuổi) hay nhà văn già (lớn tuổi), người ta cũng không gọi nhà văn mới (sáng tác) hay nhà văn cũ ( đã từng có tác phẩm và đã thành danh), người ta cũng không thích phân biệt nhà văn nữ nhà văn nam. Một người cầm bút viết nên tác phẩm và tác phẩm ấy được người đọc chấp nhận, người ấy là một nhà văn. Chấm hết. Không thể gọi là nhà văn nếu người viết không có tác phẩm, càng không thể gọi là nhà văn khi những chữ viết ấy thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật hoặc chỉ là những bài tham luận chính trị.


Tuy vậy có điểm giống nhau trong cuộc sống nói chung là văn chương cũng như mọi thứ trên đời đều có những bước đi tiếp nối của nó. Như người thợ mộc với cái bào, người thợ nề với cái bay, người đi làm ruộng với cái cày... người cầm bút với cây viết... họ làm ra sản phẩm (vật chất, tinh thần) cho đời sống. Những người đi sau tiếp tay những người đi trước, văn chương “làm ra” là để phục vụ con người, làm cho cuộc đời đẹp đẽ hơn. Và vì lẽ đó người viết sau càng thấy có một nỗ lực vượt qua người viết trước trong ý nghĩa nhìn thấy kiếp nhân sinh trong một cái nhìn khác người viết trước. Hoặc nói cách khác, những tác phẩm ra đời sau của một tác giả vượt qua được những giới hạn, những bến bờ, mà tác phẩm trước của ông (bà/cô) đã không đạt tới.

Chúng tôi hiểu chữ trẻ trong ý nghĩa đó. Nguyễn Hoàng Nam, Đỗ Kh., Trần Vũ, Hoàng Mai Đạt, Vũ Quí Hạo Nhiên, Tạ Thái... là những nhà văn trẻ ở chỗ không phải vì họ trẻ tuổi (dù họ trẻ tuổi thật), cũng không phải chỉ vì họ mới viết (dù họ mới sáng tác từ sau 1975 và trên một vùng đất không phải là quê hương.)Họ trẻ trong chữ nghĩa của họ. Và họ trẻ trong suy nghĩ của họ. Tôi luôn luôn thấy Cao Bá Quát là trẻ mặc dù ông sống cách xa chúng ta hằng thế kỷ. Chúng tôi vẫn thấy Hồ Xuân Hương trẻ vì bà đã dám nói những điều mà cho đến nay trong văn chương vẫn bị coi là cấm kỵ. Chúng tôi vẫn thấy Nguyên Sa trẻ qua ngôn ngữ và qua suy nghĩ trong thi ca của ông. Và ở quê nhà, Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn trẻ dù ông đã có nhiều tác phẩm được ấn hành. Ai cấm ta không được gọi Milan Kundera, Gabriel Garcia Marquez, Antoine de Saint-Exupéry... không phải là những nhà văn trẻ? Chính tác phẩm của họ cho phép ta gọi như vậy.

Thế kỷ 21 kỳ này mong được giới thiệu các tác giả trẻ trong ý nghĩa trên.

Digital

SỐ 19, THÁNG 11, 1990
Lầm lẫn của Cộng sản Việt nam là mở cánh cửa kinh tế (thực ra cũng chỉ mới mở hé hé thôi, trong khi vẫn đóng chặt cánh cửa chính trị. Ðó là lý do khiến xã hội Việt Nam hiện nay diễn ra vô số cảnh tượng dở khóc dở cười...










Digital
SỐ 18, THÁNG 10, 1990
Chính môi trường xã hội mới mẻ ày đã cung cấp cho người cầm bút đề tài xây dựng tác phẩm. Và cũng chính những tác phẩm ấy tác động ngược lại trên xã hội, nên sáng tác kia chứa đựng được trong nó máu thịt của đời sống. Ðọc các sáng tác của những nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại, chúng ta thấy ngay cái ý niệm về biên giới của một quốc gia ngày nay đã không còn hạn hẹp nữa. Các nhà văn nữ - cũng như những người cầm bút Việt Nam lưu vong nói chung, khi bỏ nước ra đi đã không quên mang theo trái tim Việt Nam trong lồng ngực họ. Giờ đây những người Việt Nam ở Âu Châu, Úc Châu hay Mỹ Châu… họ đã tỏa ra nơi chốn ngụ cư ấy hương thơm Việt Nam.




Digital
SỐ 17, THÁNG 9, 1990
Tờ báo hiện nằm trong tay bạn kỳ này đặc biệt ngoài sự đóng góp của các tác giả quen thuộc của bạn đọc Thế Kỷ 21 như Võ Phiến, Nguyễn Hữu Chung, Nguyễn Hưng Quốc, Phạm Cao Dương, Gúc, Trần Dạ Từ, Khánh Trường, Nguyễn Ðăng Thường, Ðỗ Quán Anh, Nguyễn Khanh, Lê Thụy, Vann Phan… chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc một số tác giả cũng rất quen thuộc nhưng lại là lần đầu tiên đóng góp trên Thế Kỷ 21. Ðó là các nhà văn, nhà thơ Mai Kim Ngọc, Trầm Phục Khắc, Lưu Hy Lạc…





Digital
SỐ 16 THÁNG 8, 1990
Tạp chí Thế Kỷ 21 tin rằng qua bài Thảo Luận Việc Dựng Lại Ðất Nước, các bạn quan tâm đến thời sự chính trị - sẽ “tiếp nhận có chia sẻ” với tòa soạn về nội dung số báo. Thảo luận việc dựng lại đất nước mặc dù không nằm ngoài bìa, nhưng có thể xem đó là chủ đề của số này… (trích thư tòa soạn)










Digital
SỐ 15, THÁNG BẢY, 1990
Nói cụ thể, số người cầm bút ở hải ngoại thực sự sống bằng ngòi bút của mình hình như không nhiều gì. Mặt khác, guồng máy xã hội kỹ nghệ đã lôi cuốn người ta vào một vòng quay không ngưng nghỉ, khiến công việc viết lách trở nên khó khăn. Thứ nữa những người còn cầm bút và còn gửi công trình của mình đến tờ báo phần lớn là do lòng yêu mến tờ báo chứ không phải vì tiền nhuận bút...









Digital   I   ebook
SỐ 14, THÁNG SÁU, 1990
Trong số này ngoài các mục thường xuyên(…) Thế kỷ 21 gởi đến các bài bình luận về kinh tế chính trị (Hoàng Linh, Lê Thiện Tùng), biên khảo (Bằng Vũ) và các sáng tác mới nhất của Nguyễn Bá Trạc, Hải Vân, Nguyễn Hữu Chung, Bùi Bảo Trúc, Trân Sa…

Tuy nhiên phần chiếm nhiều trang nhất trong số báo này lại là những bài viết nhằm trả lời câu hỏi “Có hay không… văn nghệ phản kháng trong nước.”





SỐ 13 THÁNG 5, 1990
Digital   I   ebook
Nhân dịp ngày đản sinh đức Phật, Thế Kỷ 21 cũng gởi một lời nhắn nhủ đến đảng Cộng Sản đang cầm quyền ở Việt Nam. Suốt tháng Tư vừa qua, báo Nhân Dân, tiếng nói của đảng Cộng Sản Việt Nam liên tiếp đe dọa sẽ sai quân đội đàn áp nếu dân chúng nổi lên chống chính quyền.

Nhân ngày Phật Ðản, đồng bào Phật tử ở trong nước sẽ nhắc nhở những người Cộng Sản hãy chấm dứt thái độ bạo động, tư tưởng bạo động và đường lối bạo động đó ngay. Hai ngàn năm trăm năm trước, đức Phật đã dạy loài người quy tắc cư xử với mọi loài. Ðó là nguyên tắc Bất Hại - Ahimsa, mà người phương Tây thường dịch là Bất Bạo Ðộng, non-violence... Thế Kỷ 21

SỐ 12, THÁNG 4, 1990
Digital   I   ebook
Chủ nghĩa cộng sản từ chỗ đóng vai bá đạo ở một số quốc gia nay đang từ từ từng bước tụt xuống hàng thứ yếu và gần như tan rã toàn bộ ở hầu hết các nước cộng sản. (...) Còn Việt Nam thì bao giờ, cách nào,... chính quyền cộng sản sẽ lung lay sụp đổ theo cái giòng lịch sử lớn lao này?












SỐ 11, THÁNG 3, 1990
Digital   I   ebook
Bắt đầu từ số này, ngoài những bài biên khảo, phân tích, bình luận về thời sự, lịch sử, chính trị; văn học; những sáng tác văn học; những bài viết ngắn về người và việc; những phỏng vấn... Thế Kỷ 21 mở mục thường xuyên: Trong Cõi Người Ta...; (...)

Trong số này có hai bài - một là của nhà văn Xuân Vũ viết về Nguyễn Ðình Thi, và hai là của Stephan J. Morris - do Nguyễn Thiên Ân dịch, viết về những khuôn mặt trí thức ngụy hòa... 









SỐ 10, THÁNG 2, 1990

Digital   I   ebook
Trong các cuộc vận động cách mạng ở Ðông Âu giới trẻ là lực lượng tiền phong. Ở Tiệp Khắc, ở Ðông Ðức, Rumani, thanh niên phất cờ khởi nghĩa. Ðòi tự do, đòi cải thiện đời sống vật chất, đòi quyền được tự hào làm người dân Việt, đòi xây dựng lại nền văn hiến, đạo lý của dân tộc, đó là những tiếng kèn thúc quân của cuộc cách mạng sắp tới ở Việt Nam. Thanh niên Việt Nam đang lên đường - trích Thế Kỷ 21, số 10, tháng 2, 1990



SỐ 9, THÁNG 1, 1990 (BỘ 2)

Digital   I   ebook
Quyền lực dẫn tới thối nát, và quyền lực tuyệt đối thì thối nát cùng cực" LORD ACTON, sử gia Anh thế kỷ 19)

Từ thời cổ, người Hy Lạp (và người La Mã) đã tin rằng lịch sử là những chu kỳ tái diễn: từ dân chủ đi tới hỗn loạn vô chính phủ, trải qua giai đoạn độc tài (quân chủ hoặc quý tộc)... cứ thế, cứ thế.

Lý thuyết đạo Thiên Chúa, ngược lại, cho rằng đời sống thay đổi và tiến bộ ngày càng đến gần "phán xét cuối cùng của Thượng Ðế."

Ðến thế kỷ 19, triết gia Ðức Georg Wilhelm Friedrich Hegel đưa ra sử quan "biện chứng." Biện chứng gồm tiền đề và phản đề - hai cái này đấu tranh với nhau đưa tới một tổng đề. Tổng đề sau đó lại trở thành một tiền đề mới... cứ thế, cứ thế.

Một người Ðức khác, ông Karl Marx, đem thuyết biện chứng của Hegel ra giải thích lịch sử và ứng dụng vào việc tạo dựng một mô thức xã hội mới: với tiền đề là chủ nghĩa tư bản, Marx đưa ra phản đề là chủ nghĩa cộng sản, và viễn tượng của cuộc đấu tranh tư bản - cộng sản tất yếu dẫn tới tổng đề một xã hội không giai cấp, của cải tràn đầy, và con người sống như ở nơi thiên đường.

Lý thuyết của Marx đầy mầu sắc tôn giáo nên quyến rũ được nhiều người.

Có điều đây là một quy luật lịch sử có đời sống ngắn ngủi nhất - vì nó đã cáo chung vào cuối năm 1989, khi những lá cờ trắng phất lên sau bức tường đỏ.

Và một quy luật lịch sử khác, do sử gia người Anh, Lord Acton, đưa ra cũng hơn 100 năm, đang được minh chứng là có giá trị lâu dài hơn (nếu không muốn nói là vĩnh cửu): "Quyền lực dẫn tới thối nát, và quyền lực tuyệt đối thì thối nát cùng cực." Chế độ dân chủ, áp dụng quy luật lịch sử Acton, có những biện pháp ngăn chận con đường dẫn tới "quyền lực tuyệt đối" - bầu cử tự do và giới hạn nhiệm kỳ cầm quyền. Chế độ dân chủ không hẳn là chế độ tốt nhất, nhưng rõ ràng nó không dẫn tới một "thối nát cùng cực" để phải "phất cờ hàng" như chế độ cộng sản ở Ðông Âu, hoặc bị sức dân quất sụm như các nền độc tài ở Lỗ Ma Ni (Ceausescu bị xử tử), Phi Luật Tân (Marcos bị  lưu vong), Panama (Noriega bị truy kích), v.v.

Bài học lịch sử mới của năm 1989 cần được giảng dạy ở Việt Nam - chỉ e các học trò ngoan cố không chịu hc thì không còn chọn lựa no khác hơn đoạn kết của gia đình Nicolae Ceaucescu. - Thế Kỷ 21, Thêm một bài học của lịch sử" - Bộ 2, số 9, tháng 1, 1990

Trong số này:
  • Thư Tòa Soạn: Thêm Một Bài Học Lịch Sử - 1
  • Hạ Long Lưu Văn Vịnh: Giả Thuyết Về Một Thế Trận Mới Của Mạc Tư Khoa - 4
  • Nguyễn Hữu Chung: Ăn Chuối - 7
  • Lê Ðình Ðiểu: 1989: "Ðộng Ðất Tám Chấm" Sau Bức Tường Ðỏ - 9
  • Xuân Vũ: Ðào và Chó - 14
  • Trần Diệu Hằng: Chuyện Của Người Ðọc Truyện - 20
  • Hải Vân: Có Lẽ Chẳng Bao Giờ - 26
  • Nguyên Sa: Trái Tim, Trí Nhớ và Giòng Sông - 28
  • Mai Thảo: Huyết Hoa - 28
  • Nguyễn Hoàng Nam: Vài Chuyện Vặt Mùa Xuân - 29
  • Nguyễn Thiếu Nhẫn: Ngọn Cỏ Trong Mùa Xuân - 30
  • Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Tình Bậu Muốn Thôi - 35
  • Trân Sa: Ðóa Hôn Giữa Lá - 39
  • Nguyễn Mạnh Trinh: Mười Hai Câu Lục Bát - 43
  • Hà Thúc Sinh: Phở Hách - 44
  • Khánh Trường: Tình Yêu - 51
  • Thơ: Nguyễn Tất Nhiên, Bắc Phong, Hoàng Xuân Sơn, Phạm Việt Cường, Chân Phương
  • Ngô Nguyên Dũng: Nhân Chứng - 58
  • Phạm Xuân Ðài: Gặp Gỡ Bác Sĩ Zinvago - 65
  • Phạm Duy: Phố Hàng Dầu - 70
  • Nguyễn Hưng Quốc: Mười Lăm Năm Văn Học Cộng Sản Việt Nam - 7
  • Lê Tam Ca: Mười Dự Báo Cho Ðời Sống - 84
  • LTC: Sách Báo Trong Tháng - 86
SỐ 8, THÁNG 12, 1989

Digital   I   ebook
Biến cố "bức tường Bá Linh" tạo ra những âm hưởng vang dội, khắp mặt hành tinh, trong đó có sự lên tiếng của nhiều người Việt Nam (qua cuộc phỏng vấn chớp nhoáng của các thông tín viên Người Việt Thế Kỷ 21 ở Mỹ, Pháp, Ðức, Canada...)

Phần lớn các câu trả lời đều cho rằng biến cố "bức tường Bá Linh" sẽ có ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam. Thế Kỷ 21 cũng chia sẻ quan điểm này, nhưng không đồng ý với một vài vị cho rằng máu, nước mắt và mồ hôi người Việt hai miền Nam, Bắc đổ ra vô ích, vì sau gần nửa thế kỷ giằng co, vẫn "không có bức tường nào đổ" ở Việt Nam.

Phải thấy rằng chính những máu, nước mắt và mồ hôi Việt Nam đã đổ ra đó, và còn đang đổ ra - ở hàng ngàn "trại cải tạo," hàng vạn cuộc vượt biển, hàng chục trại tù tị nạn Ðông Nam Á - là ngòi nổ cho trái mìn Ðông Âu, cho giây chuyền nổ chạy suốt những bức tường đỏ vòng quanh thế giới. Trường hợp Việt Nam trở thành động cơ thức tỉnh lương tâm nhân loại. Việt Nam sau 1975 làm hiện ra những "lá cờ trắng sau bức tường đỏ." - trích Thế Kỷ 21, số 8, tháng 12, 1989 - Những lá cờ trắng sau bức tường đỏ.



SỐ 7, THÁNG 11, 1989


Digital   I   ebook
Dân tộc Khờ me sẽ tiếp tục thống khổ. Một dân tộc có truyền thống hiếu hòa, thanh niên mới lớn lên đi ở chùa trước khi vào đời thế tục, không may lại chịu toàn khổ ải. Tất cả chỉ vì các người lãnh đạo đã không biết đặt quyền lợi toàn nước đứng bên ngoài các cuộc xung đột quốc tế. Chuyện Nga, Tàu, Mỹ tranh giành là chuyện không thể tránh được. Người lãnh đạo khôn ngoan thì sẽ lái con thuyền đất nước ra ngoài cơn bão quốc tế đó. Ngược lại, họ là lũ phản bội đối với chính dân tộc họ. Ở Việt Nam, năm 1945, tình trạng đó đã xảy ra. Trước viễn ảnh thế giới phân hai Tư Bản, Cộng Sản tranh giành ảnh hưởng, Cộng sản Việt Nam tình nguyện đưa cả dân tộc vào giữa trận, hứng bom đạn hy sinh bao triệu người dân, để cuối cùng độc lập tự do đều là bánh vẽ, và hạnh phúc thì bị thủ tiêu. Trong hai hoàn cảnh lịch sử đó, hai dân tộc Việt Nam và Căm Bốt đều là nạn nhân của sự lừa dối. - trích Thế Kỷ 21, số 7, phát hành ngày 1 tháng 11, 1989



SỐ 6, THÁNG 10, 1989
Digital   I   ebook
Thượng tuần tháng Chín vừa qua, nhà thơ Trần Dạ Từ từ Thụy Điển đã bay đến Cali. Sau mười hai năm trong lao tù cộng sản, và sau gần mười lăm năm xa cách bạn hũu, Trần Dạ Từ đã được báo giới và văn nghệ sĩ Cali đón tiếp trong một bầu không khí thân mật và ấm áp. Điều mới mẻ mà nhà thơ của chúng ta mang đến cho bạn hữu ở đây không phải là nỗi khổ nhục của những ngày tù tội của anh, mặc dù anh có thừa thãi những điều ấy để kể. Điều mới mẻ mà Trần Dạ Từ mang đến cho chúng ta, những người cầm bút, là gợi ý về một “Ngày Văn Nghệ Sĩ Việt Nam,” ngày 3 tháng Tư. Gợi ý ấy không phải chỉ để chúng ta suy nghĩ. Gợi ý cần được thể hiện một cách cụ thể.

Trung tuần tháng Chín, trận bão Hugo thổi qua đảo Puerto Rico khiến cho gần 300,000 người màn trời chiếu đất. Đó là trận cuồng phong khủng khiếp nhất trong vòng 50 năm đã đi qua xứ này. Nhưng cơn bão chưa dừng chân hẳn. Vùng đất South Carolina vừa phải “đón nhận” thiên tai này bằng nhưng “bức tường nước” cao 22 bộ thổi vào bờ biển phía đông.

Cali cũng phải nhận chút hơi hám của Hugo. Buổi sáng mưa nhỏ hột và lạnh nhẹ, để hôm sau đón ngay cơn nóng hấp chờ đợi trận gió “Lào” Santa Ana hằng năm.

Đó là thời gian ở Việt Nam, Nguyễn Văn Linh và Hà Nội vừa trở giọng đối với cái mà giới cầm bút trong nước gọi là “đổi mới.” Mở đầu dọ dẫm trước đó là đẩy Nguyên Ngọc, Tổng Biên Tập tờ tuần báo Văn Nghệ qua việc cho đăng tải một số truyện ngắn, bút ký của Nguyễn Huy Thiệp, Phùng Gia Lộc, Phạm Thị Hoài… Sau đó, và mới đây nhất là bài diễn văn của Nguyễn Văn Linh, người được coi là tác giả của nhiều bài báo ký tên NVL, “nói và làm,” người chủ trương cởi mở, glasnost, perestroika, một cái bóng của Kikhail Gorbachev ở Việt Nam. Bài diễn văn “đóng” lại cánh cửa vừa hé, và nói theo giọng của một cán bộ già khi trả lời cho ký giả Steven Erlanger của tờ The New York Times, rằng giọng điệu ấy không khác gì giọng điệu mà các nhà lãnh đạo đảng CSVN đã nói cách đây 45 năm. Một danh sách đầy tên tuổi của những tay Tổng Biên Tập chạy theo “đổi mới” một cách mạnh mẽ trước đây, nay chuẩn bị trao hoàn nhiệm sở cho người mới. Vũ Kim Hạnh, Tổng Biên Tập tờ tuần báo Tuổi Trẻ của Thành Hồ, nằm trong danh sách ấy. Cái nắp xú-páp vừa hé mở đã đóng lại. Bài học dân chủ ở quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh đã dạy cho Bắc Bộ Phủ biết đâu là con đường phải đi của những tay lãnh tụ già nua sợ mất chỗ ngồi.

Sau  cùng, hạ tuần tháng Chín cũng là tháng của Hà Nội rút hết quân ra khỏi xứ Chùa Tháp. Chân chưa nhón bước đã vội vã tuyên bố sẽ trở lại ngay nếu Nam Vang yêu cầu.

Chiến trường Đông Dương vẫn sôi động. Thương trường Đông Dương mà Thái Lan muốn đặt tay vào, có lẽ cũng còn phải chờ…



SỐ 5, THÁNG 9, 1989

Digital   I   ebook
THƯ TÒA SOẠN: Tiếng Việt của nước Đại Việt - Từ nhiều năm nay một câu hỏi lớn vẫn được nhiều người thiết tha với vận mệnh của tiếng Việt và văn hóa Việt đặt ra: Liệu bao lâu nữa tiếng và chữ Việt ở hải ngoại sẽ tàn lụi? Liệu bao lâu nữa, những đứa trẻ Việt nam sẽ đánh mất bản sắc Việt Nam? Liệu bao lâu nữa những tờ báo Việt ngữ sẽ không còn xuất hiện ở các phố chợ Á Đông? Liệu bao lâu nữa...? 

Người ta ví ngôn ngữ Việt trên vùng đất lưu vong như những chiếc ghe vượt biên trên biển cả. Như những chiếc ghe tí hon trên đại dương bao la, văn hóa Việt; rồi đây không chóng thì chầy sẽ bị cái đại dương rộng lớn kia làm cho trôi giạt, lạc hướng, nếu không chìm xuống đáy nước! Anh hay Pháp, Đức hay Thụy Điển, Canada hay Úc, nhất là Hoa Kỳ... đó là những nước mở cửa cho người Việt định cư, đó là những "đại dương bao la," và trên một triệu người tị nạn chúng ta như những chiếc ghe tí hon trôi giạt tới!


Phải chăng rồi đây khi bước vào thế kỷ 21 - chừng một thập niên nữa thôi - chúng ta chỉ còn những người Việt nói tiếng Mỹ, nói tiếng Pháp, nói tiếng Đức... Phong cách sống của thế hệ thứ hai của chúng ta chỉ còn phảng phất chút ít cái hương vị quê nhà. Ngôn ngữ, văn hóa chỉ là "Vang Bóng Một Thời" 

Chúng tôi lạc quan nghĩ rằng không phải thế. Sức sống của dân tộc ta vẫn trường tồn. Văn hóa của Việt Nam mặc dù rải cùng khắp thế giới, trên những mảnh đất xa nhau và xa lạ từ con người, đến cảnh thổ sẽ vẫn không đánh mất bản sắc của nó. Có thể nó sẽ thay đổi tùy theo môi trường sống và nền vắn hóa trong đó nó gia nhập, nhưng chắc chắn tiếng nói và chữ viết Việt, vẫn được đốt đuốc chuyền tay. Trước đây người ta thường nói mặt trời của đế quốc Anh không bao giờ lặn, hoặc nơi nào có nhà cửa nơi đó có người Trung Hoa, ngày nay ta cũng có tể nói như vậy cho người Việt và tiếng Việt.

Sự có mặt của người Việt trên khắp các vùng đất của địa cầu cho phép ta tin tưởng sự lớn mạnh của một dân tộc vốn vẫn trường tồn sau khi đã là nạn nhân của nhiều cuộc xâm lăng và từng gánh chịu biết bao cuộc chiến tranh tàn khốc.

Tiếng nói và chự viết Việt Nam chỉ mở thêm những cánh cửa mới, chứ không bao giờ khép lại.

Thế Kỷ 21, trong mấy số đầu, đã lác đác bóng dánh những người trẻ (ở lứa tuổi 20, 30) xuất hiện.

Số 5, và có thể nói "từ số 5," lứa tuổi 20 xuất hiện đông đảo và đa dạng hơn.

Từ những lớp dạy Việt ngữ tới những cuộc thi viết văn, từ những tờ báo "học trò" đến những nhóm "thư viện," tuổi trẻ Việt hải ngoại, sau 14 năm xa quê hương, cùng với những thành công trong tiến trình hội nhập xã hội mới, vẫn tha thiết với nguồn suối văn hóa dân tộc.

Bằng phỏng vấn, trích dẫn, mời viết bài... Thế Kỷ 21 số 5 bắt đầu giới thiệu một loạt các khuôn mặt trẻ (từ 18 tới 30 tuổi) ở khắp nơi: California, Canada, Úc, Pháp...


Sự xuất hiện đông đảo và đa dạng này cho phép chúng ta tiên liệu một tiền đồ tươi sáng cho tiếng Việt ở bên ngoài nước Việt Nam - một "nước Việt lớn" (Ðại Việt) theo lời sử gia Phạm Cao Dương. - THẾ KỶ 21, 



SỐ 4, 8, 1989

Digital   I   ebook
THƯ TÒA SOẠN: BÀI HỌC THÁNG TÁM: Tháng Tám năm 1945 toàn đàn Việt Nam vùng lên để bảo vệ nền độc lập, trước viễn ảnh thực dân Pháp lăm le trở lại. Đảng Cộng Sản Ðông Dương đã cướp đoạt cuộc cách mạng đó. Phong trào giành độc lập tự do của dân ta đã bị họ tiếm đoạt để lần lần biến thành một bộ phận trong cuộc tranh chấp tư bản - cộng sản quốc tế.

Kết quả là mấy mươi năm chiến tranh tang tóc và giờ đây là cảnh nghèo đói, thối nát, lạc hậu và bế tắc cùng cực.

Sau đại chiến thứ hai tất cả các cựu thuộc địa đều đứng lên giành độc lập, tự do. Hãy nhìn sang các nước láng glềng: Tân gia ba, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân... Hãy so sánh với các nước cựu thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. Hãy ngó lại các nước đã bị tư bản và Cộng sản Quốc tế chia đôi: Nam-Bắc Hàn, Đông-Tây Đức. Không một nước nào còn nghèo đói, khốn khó chậm tiến như nước Việt Nam bây giờ.

Thiết nghĩ dân Việt Nam trí thông minh không chịu thua ai, không đến nỗi lười biếng ươn hèn, không sợ thiếu anh hùng hào kiệt. Vậy tại sao ngày nay nước ta lại là một nước nghèo hèn, cùng quẫn nhất thế giới?

Chỉ vì tất cả sức lực của toàn dân, lòng nhiệt thành và đức kiên trì của toàn dân đã bị dẫn vào một hướng đi sai lầm, tàn hại. Lòng yêu nước của người Việt Nam đã bị tiếm đoạt, lợi dụng để cho một nhóm người theo đuổi giấc mộng viển vông và chương trình khóc liệt của họ, gọi là chủ nghĩa xã hội. Họ là những tên lính tiên phong của Staline, họ đẩy cả dân tộc Việt Nam ra đứng ngay vào tuyến đầu của trận chiến giữa hai khối Cộng sản - tư bản quốc tế. Sukarno ở Indones!a, Nehru ở Ấn Độ, hay Ben Bella ờ Algérie... đã khôn ngoan đưa dân họ thoát ra ngoài cuộc xung đột toàn cầu này. Ngay cả Nam-Bắc Hàn, Đông-Tây Đức cũng còn đủ khôn ngoan để dân họ không bị lôi cuốn thêm vào vòng bom đạn. Nhưng ở Việt Nam thì Hồ Chí Minh một điệp viên trung kiên của Staline, và đảng Cộng Sản của ông ta, đã đưa cả dân tộc ra hứng bom đạn của hai khối trút xuống. Nửa thế kỷ đau thương tang tóc trong lịch sử dân ta là do đảng Cộng sả Việt Nam gây ra.

Cuộc cách mạng giành độc lập tự do đã bắt đầu từ mùa xuân năm 1945 khi các thanh niên trí thức hợp tác cùng chính phủ Trần Trọng Kim để thay đổi vận mạng đất nuớc. Bộ máy hành chánh đang thoát xác từ chế độ thuộc địa sang một chế độ độc lập. Nền giáo dục được dân tộc hóa và dân chú hỏa. Phong trào chống nạn mù chữ, phong trào thanh niên cứu đói thổi một luồng gió mới vào tinh thần cả nước. Khát vọng độc lập và thống nhất được chính thức xác định và tuyên dương, chấm dứt 60 năm nô lệ.

Cuộc cách mạng mùa xuân 1945 đó đáng lẽ phải được cũng cố bởi một chính phủ vì dân, thay thể chính phủ Trần Trọng Kim khi Nhật đầu hàng. Nhưng các lực lượng dân tộc và dân chủ không có một tổ chức hợp nhất, không có một chương trình hành động thích hợp. Nhóm người duy nhất đã học được thủ đoạn cướp chính quyền từ trường học của đệ tam quốc tế là đảng Cộng Sản ĐôngDương. Họ vừa có sẵn các tin tức về thế cờ quốc tế, vừa điêu luyện về thủ đoạn lừa bịp và tuyên truyền, và họ có một tín ngưỡng cuồng nhiệt là chủ nghĩa Mác xít, giúp họ quyết tâm không từ một mánh lới gian xảo và tàn bạo nào. Ðó là lý do khiến họ cướp giựt được quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến vì nước của toàn dân để cuối cũng bắt dân ta "yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội."

Đến năm nay, 1989, cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội đó đang phá sản. Khối Cộng Sản đang vỡ tan từng mảng, hiển nhiên như ở Hung Gia Lợi và Ba Lan, âm thầm nhưng mãnh liệt như ở  Trung Quốc, ồn ào và lộn xộn không biết đường hướng như ở Liên Xô. Tây Phương cũng không còn là khối tư bản của nửa đầu thế kỳ nữa. Thay vì lo ngăn chặn để quốc Cộng Sản, bây giờ Tây Phương chỉ lo giúp cho sự sụp đổ của chế độ Cộng sản ở các nơi không gây đổ máu và tang tóc, không làm xáo trộn và hư hại đến các thành quả kinh tế mà các nước không Cộng Sản đã đạt được.

Đó là tình thế mới vào tháng Tám năm 1989. Trong tình thế này chúng ta hãy xác nhận vị thế và đường hướng của cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ của người Việt Nam, đặc biệt là vai trò của người Việt ở hải ngoại. 

Mục đích của cuộc vận động cách mạng dân tộc và dân chủ là lật đổ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam. Hơn 6O triệu người dân trong nước và gần hai triệu người ở hải ngoại đồng tâm hiệp ý về mục đích này. Thế cờ quốc tế hoàn toàn thuận lợi cho việc thực hiện mục đích này.

Cuộc vận động cách mạng dân tộc và dân chủ hiện nay đã bắt đầu ở trong và ngoài nước, nhưng chưa có sự lãnh đạo thống nhất nên chưa có một sách lược chung. Nhưng tất cả cũng theo đuổi một mục đích, cùng nhắm vào một hướng. Những cơn sóng ngầm âm ỉ hiện nay, ở trong hay ở ngoài, đều sẽ giúp cho một ngày toàn dân ta xô vùi chế độ cộng sản.

Người Việt ở hải ngoại phải dùng sức mạnh văn hóa, kinh tế và ngoại giao của mình để hỗ trợ và kích thích cho cuộc cách mạng ở trong nước. Người trong nước phải được tự do làm ăn. Các tôn giáo phải được tư do phát triển, đào tạo tu sĩ, mở mang trường học. Sinh viên phải được tự do lập hiệp hội, giáo sư phải được tự do tìm học và dạy dỗ. Công nhân, nông dân phải có tự do tổ chức nghiệp đoàn độc lập. Quyền lập đảng, xuất bản và lưu hành sách báo, kể cả sách báo hải ngoại, phải được thực hiện. Khi tất cả chúng ta cùng tranh đấu cho các mục tiêu trên, bằng đường lối cứng hay mềm, dùng phương tiện văn hóa, ngoại giao, quân sự, hay kinh tế; tức là chúng ta đang cùng thúc đầy cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ sớm thành tựu, đang tấn phá cho chế độ Cộng Sản tan rã. Ðó là điều đồng thuận lớn nhất của toàn dân Việt Nam, để chuẩn bị cho thế ký 21.



SỐ 3, tháng 7, 1989


Digital   I   ebook
THƯ TÒA SOẠN: Hai biến cố thời sự, ở hai mặt đối xứng quả địa cầu, chẳng ăn nhập gì với nhau, nhưng ở chiều sâu của sự tương phản, lại chứa đựng một thông điệp: thế nào là tự do dân chủ?

Hai biến cố thời sự đó, một bên Tàu, một ở bên Mỹ, thoạt xem chẳng dính dáng gì đến Việt Nam - ở quê hương vùng Ðông Nam Á Châu, hay ở 43 quốc gia định cư tị nạn - nhưng xét kỹ lại vô cùng mật thiết. Tự do dân chủ chẳng phải là lẽ sống của hơn một triệu người Việt lưu vong đang được hưởng và muốn chia sẻ với hơn 60 triệu người Việt đang khao khát trong nước đó sao?

Biến cố bên Tàu: mùa Xuân Bắc Kinh, lòng dân trên Thiên An Môn, tượng nữ thần Dân Chủ thách đố tập đoàn Trung Nam Hải, và hình ảnh một thường dân nhỏ bé, đơn sơ đứng trước mũi một đoàn xe tăng - sự thách đố của lòng khát khao tự do dân chủ trước họng súng của độc tài, đàn áp và thối nát.

Hình ảnh người thường dân Bắc Kinh cô đơn cản ngăn và thách đố bạo lực chỉ hiện hữu khoảng một phút đồng hồ trên đại lộ Tràng An, nhưng được truyền đi tới triệu triệu cặp mắt qua màn ảnh truyền hình và mặt báo in, và còn mãi trong triệu triệu trái tim những con người yêu tự do, dân chủ.

Người thường dân Bắc Kinh cô đơn đó nay ở đâu? Anh còn sống sót sau đêm tàn sát kinh hoàng (mà Ðặng Tiểu Bình bảo rằng không hề có), hay anh đã nằm xuống, nát vụn dưới bánh xe tăng, dưới hỏa lực đại liên, của những quân đoàn "Giải phóng Nhân dân?" Không ai biết. Nhưng trong lòng người, và trong lịch sử, anh vẫn sống, sống mãi, hào hùng, lồng lộng.

Biến cố bên Mỹ: Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán quyết "đốt quốc kỳ không có tội." Gregory Jhonson, một công dân Mỹ tham gia một tổ chức chống Mỹ có tên là "Lữ ÐoànThanh niên Cộng sản," năm 1984 ở Dallas, đã đốt cờ Mỹ và cùng đồng bọn hát bài "nhổ vào cờ Mỹ." 1984, Jhonson bị bắt, 1989, nhờ "chín tòa quan lớn" (Tối Cao Pháp Viện Mỹ có chín thẩm phán), Jhonson được trả tự do. Liệu anh ta có tếp tục "nhổ vào nước Mỹ" - đất nước đã cho anh cuộc sống và cái quyền nhận hay không nhận nó. Jhonson và đồng bọn cứ tự do ngửa mặt nhổ vung tí mẹt - nước miếng của họ sẽ phủ đầy mặt họ. Khỏi cần nước miếng của hàng trăm triệu người Mỹ "yêu cờ."

Nhưng Tối CaoPháp Viện Mỹ có điên không, khi cho công dân Mỹ cái quyền "nhạo báng, hủy hoại biểu tượng quốc gia?" Nước Mỹ đang chia hai phe, bênh và chống phán quyết "đốt cờ" của Tối Cao Pháp Viện.

Có điều, trong đáy lòng, trong tiềm thức, của hơn hai trăm triệu con người sống trên mảnh đất của hai trăm năm dân chủ tự do này, hẳn thấy "an tâm."

Nghĩa là, không thấy "sợ hãi."

Mỗi người và mọi người đều được bóng mát của luật pháp che chở - chớ không bị bóng tối của xe tăng, đại pháp, quân đội và công an bủa vây. - THẾ KỶ 21

Trong số này:
  • Thế Kỷ 21: Ðằng Sau Cơn Lốc Trung Hoa - 6
  • Nguyễn Hữu Chung: Trung Quốc và Việt Nam - 15
  • Lưu Văn Vịnh: Việt Nam đi về đâu trong kỷ nguyên kinh tế? - 19
  • Vương Hữu Bột: Ðổi mới kinh tế trong khối Cộng sản: Nguyên do và chiều hướng - 24
  • Timothy Garton Ash, Trịnh Y Thư dịch: Sự cáo chung của chủ nghĩa Cộng sản ở Ba Lan và Hung Gia Lợi - 35
  • Nguyên Phong: Khoa học và thế kỷ 21 - 85
Thơ:
  • Trần DạTừ: Ðọc cổ tích Anderson chờ gặp lại Toàn - 32
  • Trần Mộng Tú: Thế Kỷ 21 - 81
  • Thường Quán: Nửa đêm, trăng hướng Bắc - 79
  • Lê Bi: Lịch sử đã rõ nét ở Thiên An Mông - 17
  • Nguyễn Bá Trạc: thơ Tháng Ba - 49
  • Phạm Công Thiện: Thơ cho hiện tại của tương lai - 53
Truyện:
  • Trân Sa: Hai nửa người và kẻ đi lạc - 54
  • Trần Diệu Hằng: Sách ước ngàn trang - 59
  • Nguyễn Thị Ngọc Nhung: Phỏng lửa - 65
  • Salman Rusdie / Nguyễn Ðăng Thường: Yêu ở Bombay - 75
  • Thái Hà: Ðỗ Kh. 13 câu trả lời - 45
  • Thơ Nguyễn Mạnh Trinh - 42
  • Nguyễn Mộng Giác: Lời cuối cho một ộ trường thiên - 78

và các mục thường xuyên...



SỐ 2, tháng 6, 1989

Digital   I   ebook
THƯ TÒA SOẠN - Thế là tờ báo Thế Kỷ 21 đã đến tay bạn đọc khắp nơi. Tờ báo chuyển đi những tâm tư, tình cảm và lý luận của hàng chục người viết - nhiều lứa tuổi, nhiều "trường phái," nhiều phong cách khác nhau. Tờ báo mang về những ý kiến, nhận xét, khích lệ và phê bình của hàng trăm, hàng ngàn người - qua thư từ, điện thoại, gặp gỡ hoặc chỉ bằng... mua báo.

Ban chủ biên Tạp chí Thế Kỷ 21 chân thành cảm ơn toàn thể quý vị và các bạn. Và chúng tôi mong rằng số 2 này làm quý vị và các bạn thích thú hơn số vừa qua và sẽ không bằng số tới.

Ðược ấp ủ từ lâu, nhưng chuẩn bị để ra mắt chỉ có một thời gian ngắn (Chưa đầy một tháng), Thế Kỷ 21 số 1 còn nhiều khiếm khuyết.

Mục tiêu "ngắn, gọn, dễ hiểu," do ban chủ biên đề ra, chưa đạt được bao nhiêu.

Phần văn học có vẻ lấn lướt hai phần chính trị và lịch sử.

Về hình thứ, dù đã cố gắng sửa bản vỗ rất kỹ, vẫn còn sót lỗi, đôi chỗ trình bày chưa cân đối hoặc không "đúng văn phạm"

Tuy nhiên, tờ báo cũng đã có một số ưu điểm, như: khổ báo lạ, độc đáo; chữ in rõ, dù hơi nhỏ; nhiều truyện và tin hấp dẫn; trình bày có phong cách riêng; v.v.

Ban chủ biên Thế Kỷ 21 ghi nhận những ý kiến trên đây, từ các thân hữu và độc giáo khắp nơi (Mỹ, Canada, Pháp, Úc...), và cố gắn sửa chữa những sai sót, phát huy những ưu điểm, để tờ báo ngày một hay hơn, vui hơn, có ích hơn, thiết thực hơn.

Về đường lối, Thế Kỷ 21 vẫn giữ nguyên tư thế một diễn đàn độc lập, không để bị chi phối bởi một thế lực chính trị, hay kinh tế nào - để có thể đóng đủ và đúng vai trò một cơ quan truyền thông chuyên nghiệp, với những đặc tính khách quan, vô tư, trong một xã hội tự do dân chủ đích thực.

Bảo rằng Thế Kỷ 21 "không chống cộng," vì không thấy khẩu hiệu chống cộng nào xuất hiện trong tờ báo, thật là một sai lầm. Tự bản chất một cơ cấu tự do dân chủ (và tích cực cổ xúy tự do dân chủ) đã là một kẳng định "chống cộng" rồi - vì cộng sản là phi dân chủ, là không tự do, như chính người cộng sản đã xác nhận: chuyên chính vô sản (không có chính kiến khác); yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội (không có chọn lựa nào khác). Chống cộng, và phải chống luôn cả những hình thái phi dân chủ, phản tự do khác, như độc tài quân phiệt, kỳ thị chủng tộc, tệ đoan xã hội, v.v.

Mặt khác, đã chọn chỗ đứng ở trong lòng cộng đồng người Việt tị nạn, Thế Kỷ 21 tất nhiên phải có cùng mục tiêu là lật đổ bạo quyền cộng sản, để xây dựng một nước Việt nam hòa bình, thịnh vượng. Nhưng phương thức và phong cách lật đổ bạo quyền chắc hẳn không chỉ có một. Người kháng chiến quân cầm súng, người hoạt động quần chúng cầm cờ và hô khẩu hiệu, người viết văn làm báo cầm bút - dùng văn học để tố cáo cái xấu, cái giả, ca ngợi cái đẹp, cái thực, dùng lý luận để dẫn giải chân lý, để chứng minh những thực tế chính trị và lịch sử, để phản bác hoặc phi bác những ngụy biện của những người mác-xít, những người mao-ít... là những phương thức chống cộng khác nhau nhưng cùng nhằm mục tiêu lật đổ bạo quyền cộng sản.

Có những người đa năng, đa tài, có thể một mình làm hai, bao công việc, dùng hai, ba phương thức. Nhưng cũng có những người chỉ có thể dùng một cách đánh, hãy để họ chọn lựa cách của họ, hãy khuyến khích họ dùng sở trường, bỏ sở đoản. Và nhất là đừng bắt mọi người phải làm theo ý mình, hoặc phải làm giống mình. "Cúc nào cũng là cúc vạn thọ cả! (Phan Khôi)" là yếu tính của độc tài. "Sự khác biệt" là yếu tính của dân chủ, tự do.

Thế Kỷ 21 dự trù mỗi số có một chủ đề. Nhưng đó là điều khó thực hiện - nhất là khi tờ báo trải rộng vòng cộng tác và vùng độc giả, khắp nơi trên thế giới. Cho nên, mỗi số sẽ có một bài, hoặc một số bài, nói về một vấn đề. Và vấn đề này có thể được khai triển ở những số sau.

Chẳng hạn, trong số 2, Vương Hữu Bột đặt vấn đề "cởi trói Việt Nam" - một đề tài lớn. Nhưng tác giả họ Vương chỉ mới khai triển mộtmặt: khoa học xã hội.Còn chính trị, giáo dục, kinh tế..., chắc hẳn chúng ta phải bàn tới trong những số báo sau.

Рchuẩn bị cho những đóng góp sắp tới, chúng tôi đề nghị một số vấn đề có thể dùng làm đề tài thảo luận sau đây:
- Tiềm năng kinh tế người Việt hải ngoại
- Tuổi trẻ Việt Nam trước ngưỡng cửa Thế Kỷ 21
- 45 năm nhìn lại "cách mạng tháng 8, 1945"
- Mười năm cuối của thế kỷ 20, nghĩ gì, làm gì?

Mong nhận được sự đóng góp quí báu của quý vị và các bạn.

Thân chào và mong gặp lại - THẾ KỶ 21

Trong số này:
  • Thư tòa soạn - 4
  • Thế Kỷ 21 ra mắt khắp nơi - 6
  • Vương Hữu Bột: Cởi trói Việt Nam - 8
  • Ngô Châu Văn: Bắt đầu hạ bệ huyền thoại Hồ Chí Minh - 19
  • Nguyễn Hữu Chung: Chuyện bao giao Mỹ-Việt Nam - 21
  • Hoàng Khởi Phong: Nói chuyện với ông Nguyễn Ðồng Sơn - 23
  • Thơ Hoàng Xuân Sơn - 30
  • Nguyễn Thị Chân Quỳnh: Nói có sách, mách có ảnh - 31
  • Nguyễn Minh: Cô gái Sài Gòn - 35
  • Thơ Hà Thúc Sinh - 36
  • Tam Trương: Múa Lân - 37
  • Nhã Ca: Cười một mình - 40
  • Nguyễn Xuân Hoàng: Nghĩa địa của người sống - 47
  • Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Tuyết trắng - 51
  • Mai Thảo: Thơ Nguyễn Tất Nhiên - 56
  • Khánh Trường: Tuyên chiến với bọn giả hình - 58
  • Ðịnh Nguyên: Saigon sẽ chẳng bao giờ trở màu lá đỏ - 61
  • Ngu yên: Nói chuyện thơ tha hương - 63
  • Nguyễn Hưng Quốc: Cái ngôn trong thơ - 63
  • Nguyễn Ngọc Bích: Vài ghi nhận tình hình văn học trong nước - 68
  • Nguyễn Mạnh Trinh: Phỏng vấn Cao Xuân Huy - 79
  • Thơ Trịnh Y Thư - 84
  • Phạm Công Thiện: Trăm năm cô đơn - 85
  • Thơ Nguyễn Hoàng Nam - 86
  • Vừa xảy ra đang nói tới - 87
  • Phạm Văn Hải: Chữ viết của người Việt - 90
  • Thơ Ngô Huy - 90
  • Sách báo trong tháng - 92
  • Tranh của Gúc và Kúm


SỐ RA MẮT, Tháng 5, 1989


Digital   I   ebook
TRÂN TRỌNG

Một hướng nhắm.
Và một cuộc lên đường.
Bắt đầu bằng lời mời gọi.
Và chuẩn bị từ cuộc lưu vong.

Đó là những nét tóm của một quá trình đang biến thành một thông điệp gởi đến các văn hữu, thân hữu, và bạn đọc tạp chí Thế Kỷ 21.

Hướng nhắm đi tìm đã lâu, đầy day dứt băn khoăn, nhưng cũng ngập tràn cảm khái, ước mong, gửi gấm. Không có một chút gì hận thù hay nuối tiếc trong diễn tiến nhìn ngắm chọn lọc này. Cần có một cái gì chất chứa hy vọng thúc đẩy mạnh bằng niềm tin, về con người cùng giòng giống, cùng thời đại, cùng khổ đau để đạt tới kết quả chọn lọc hướng nhắm, - kết quả của một cuộc phác họa viễn kiến -, và bạo dạn giơ tay cất lời mời gọi nhập cuộc. Mời gọi lên đường.

Thế kỷ trước mắt đang được mệnh danh “Thế kỷ Thái Bình Dương.” Đất nước quê hương gấm vóc “hình chữ S” truyền lại từ bao đời cha ông, vẫn được mệnh danh là “Bao lơn Thái Bình Dương.” Không gian ấy, thời gian này, không thể nào còn đắm đuối mãi trong vòng đói nghèo, bạo lực, suy đồi, tự diệt mãi. Góp lòng góp ý đưa vào cuộc chuyển đổi sinh tử cho hơn 60 triệu con người Việt ngẩng đầu lên, cùng thế giới đi vào thiên niên kỷ thứ ba đầy triển vọng xứng đáng cho con em, là mục tiêu, là bầu khí, là hy vọng và là cuộc dấn thân – cuộc lên đường mà tạp chí Thế Kỷ 21  trân trọng đề nghị với quý vị.

Thế Kỷ 21 là một ấn phẩm mới của công ty Người Việt, bên cạnh những sản phẩm đã có và sẽ có khác, như nhật báo Người Việt, các báo định kỳ Người Việt San Diego, Người Việt Tây Bắc, Người Việt Bắc Cali, chương trình Truyền hình Việt Nam, nhà xuất bản Người Việt với 17 tựa sách trong sáu năm qua, bộ Niên Giám Người Việt 1990, bộ Tiểu sử Nhân vật (Who’s Who),…

Do nhóm Người Việt chủ trương và thực hiện, nhưng Thế Kỷ 21 sẽ là, và phải là một diễn đàn chung của tất cả những người lựa chọn nếp sống tự do dân chủ trong ấm no, hạnh phúc.

Tự do, dân chủ và ấm no, hạnh phúc vốn là ước vọng của toàn dân ta, nhưng, dường như đã từ thế kỷ 18, chưa bao giờ trở thành hiện thực – một cách trọn vẹn cả hai vế.

Làm một tờ báo – tạp chí Thế Kỷ 21 – không có nghĩa là chúng ta đã tìm ra, đã thực hiện được cả hai vế ước vọng đó. Tờ báo là một phương tiện giúp chúng ta ngồi lại với nhau, cùng tìm kiếm, cùng chọn lựa, trong sự tôn trọng lẫn nhau, để đưa ra những giải pháp cho những vấn đề.

Chúng ta không cần giương cao một khẩu hiệu, một chiêu bài để gọi là biểu trưng cho một mẫu số chung – vì khẩu hiệu, chiêu bài nào cũng có những giới hạn, những khẳng định gây đối kháng và ngộ nhận.

Chúng ta đồng ý với nhau trao đổi ý kiến trên căn bản tự do dân chủ, thể hiện ngay từ bản thân mỗi người trong chúng ta, ngay trên trang báo này. Nếu cần một rào cản để ngăn ngừa “dị phóng nan thu” (thả ra thì dễ, thu về thì khó), chúng tôi đề nghị mỗi người suy tưởng và hành động trong phạm vi đạo đức của đời sống con người. Là đủ.

Tuy nhiên, có lẽ cũng phải thành thật nói với nhau rằng chúng ta cần thêm một chút “can đảm” để thể hiện suy tưởng và hành động tự do. “Can đảm” để không bị khuất phục trước bạo lực đến từ nhiều phía – cần phòng bị nhất vẫn là từ phía những người cộng sản. “Can đảm” để nhận khuyết điểm, nếu có, và không đổ lỗi cho người khác, thời khác. “Can đảm” để khen cái hay, chê cái dở - dù cái hay nằm ở “bên kia,” và cái dở nằm ở “bên này.”

Chúng ta cũng cần thêm một chút “tưởng tượng” để sống trước – ít nhất một con giáp, như tên tờ báo gợi ra: thế kỷ 21!

“Tưởng tượng” không có nghĩa là mơ mộng, vọng tưởng, mà phải hiểu là dự kiến, là tiên tri, dựa trên những định luật về tâm lý, chính trị, xã hội, lịch sử… “Tưởng tượng” để đưa ra những dự phóng. Và chuẩn bị những bước thực hiện dự phóng đó.

Nước Việt Nam hậu bán thế kỷ 20 có hơn 50 triệu dân, sống trên dải đất hình chữ S miền Đông Nam Châu Á. Nước Việt Nam đầu thế kỷ 21 có 100 triệu dân, sống phần lớn ở “quê cha,” phần nhỏ ở rải rác trên 50 quốc gia khắp mặt địa cầu.

Nước Việt Nam từ 1975 được cai trị bởi một nhóm người chủ trương chuyên chính vô sản, gây nghèo đói cho toàn dân tộc. Nước Việt Nam của thế kỷ 21…? Mời bạn viết tiếp đoạn này! Đó là lý do ra đời của tạp chí Thế Kỷ 21. - Trân trọng. - THẾ KỶ 21

Trong Số Này
  • Hoàng Linh : George Bush Phải Đương Đầu Với Bốn Mối Họa... – 17
  • Phỏng Vấn: Đứng Trước Năm Lưu Vong Thứ 15, Người Việt Hải Ngoại Nghĩ Gì Về Quê Hương – 12
  • Phạm Duy: Hồi Ký Kháng Chiến – 31
  • Hải Vân: Đàn Bà – 45
  • Võ Phiến: Cuống Rún Chưa Lìa – 29
  • Phạm Công Thiện: Một Trăm Năm Cô Đơn Đụng Vào Một Nháy Mắt Hiện Tại – 70
  • Nguyễn Mộng Giác: Khả Năng Và Triển Vọng Văn Học Hải Ngoại – 39
  • Đặng Phùng Quân: Về Lưu Đày Của Văn Chương – 68
  • Vũ Huy Quang: Chuyện Kể Của Cái Bàn – 65
  • Ruth Talovich: Phiếu Ghi Gửi Clio – 24
  • Mai Thảo: Đọc Thơ Nguyên Sa – 37
  • Trần Thanh Hiệp: Chúng Ta Đang Ở Đâu Trên Đường Về Nước? – 21
  • Đào Trung Đạo: Salman Rushdie Sự Thực Của Tiểu Thuyết – 76
  • Nguyễn Ý Thuần: Đứa Em Hạnh Phúc – 58
  • Vương Tiểu Muội: Ngay Trên Quê Hương Mình – 81
  • Vừa Xảy Ra, Đang Nói Tới – 84
  • Qua Các Hàng Sách – 89

Ðang cập nhật

1 nhận xét:

  1. Bài Giả thuyết về thế trận mới của MạcTưKhoa viết 1989 bị sai cả chục nắm 1990-2010, nhưng nay thì lại có vẻ đúng, Putin muốn trở lại thời hoàng kim cũ theo cách mới với KGB cũ !

    Trả lờiXóa