Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

Nguyễn Hữu Phước - TỪ VIỆT GỐC PHÁP


Dẫn nhập
Bài nầy nhắm vào việc giới thiệu với giới trẻ một khía cạnh của tiếng Việt, đó là những từ Việt gốc Pháp.  Do đó nhiều chỗ có những giải nghĩa dài dòng, có thể hơi thừa đối với những người lớn tuổi (45-50 trở lên), xin quí vị lớn tuổi chấp nhận cho.   Một số những từ trong bài nầy có trong quyển Việt Nam Tự Điển (VNTD)  của các ông Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, hoặc trong quyển Gốc Và Nghĩa Từ Việt Thông Dụng (GvN) của ông Vũ Xuân Thái, một số những từ Việt hóa mà tôi kể ra ở phần sau không có trong hai quyển nầy.

Một số từ Việt hóa  ghi trong VNTD chỉ ghi phần giải thích mà không có ghi nguyên ngữ Pháp. Dưới đây, một số nguyên ngữ Pháp do chúng tôi ghi trong các dấu ngoặc đơn là theo trí nhớ của chúng tôi với sự giúp đỡ của bạn tôi là anh Nguyễn Ánh Dương.  Mong rằng chúng tôi nhớ đúng, mặc dầu đã trên 30 năm không viết hay đọc tiếng Pháp. Nếu thấy chỗ nào sai xin quý vị chỉ dạy hoặc bổ túc dùm,  chúng  tôi cảm ơn nhiều.

* 
Trong tiếng Việt có thể nói trên năm mươi phần trăm các từ có nguồn gốc Hán Việt (HV).  Nhiều từ loại nầy chúng ta đã dùng lâu đời và đã trở thành thông dụng đến nỗi chúng ta không để ý chúng là những từ Hán Việt nữa.  Ảnh hưởng của Trung Hoa (TH) trong tiếng Việt là kết quả tự nhiên của hàng ngàn năm Bắc Thuộc và ngay trong thời kỳ tự chủ gần mười thế kỷ cũng dùng Hán tự như  ngôn ngữ viết chính thức của quốc gia.
Nhưng còn khoảng 100 năm dưới ảnh hưởng của Pháp thì sao?  Chúng tôi thử ghi nhận ra đây những từ (chữ) mà thế hệ chúng tôi, những người mà hiện giờ đang trong lứa tuổi 45-70 trở lên, đã có dịp đọc qua, hoặc nghe nói nhiều lần, hay chính mình trực tiếp dùng những từ đó, dùng một cách tự nhiên, hay dùng để nhớ lại một dĩ vãng nào đó.  Trong những từ nầy, một số đã có một thời thông dụng mà bây giờ thì ít ai nhắc đến nữa.   Một số từ khác vẫn còn thông dụng ở một vài địa phương trong nước, hoặc hải ngoại. 

Giọng Hán Việt và các địa danh
Vấn đề người VN đọc các địa danh hay nhân danh ngoại quốc bằng cách nào là một vấn đề cho đến nay vẫn còn trong vòng tranh luận.  Tuy nhiên trong một thời gian dài chúng ta đã chấp nhận việc đọc các địa danh ngoại quốc bằng cách mượn những từ Trung Hoa đã dùng sẵn và đọc theo giọng Hán Việt.

Ảnh hưởng của TH nhiều đến đỗi ngay cả từ “Pháp” để chỉ địa danh Pháp hay dân Pháp, cũng có nguồn gốc Hán Việt.  Pháp đã đô hộ VN gần 100 năm.   Pháp chính thức chiếm một phần lãnh thổ của VN vào năm 1862 và năm 1867.  Năm 1884, mặc dầu Pháp chia VN ra là ba phần với ba thể chế chính trị khác nhau, Pháp đã đặt nền đô hộ trên toàn  cõi VN.

Mãi đến năm 1954, sau hiệp định Genève Pháp rút quân khỏi phần đất phía bắc của vĩ tuyến 17 và năm 1955 Pháp rút quân khỏi miền nam vĩ tuyến nầy và hoàn toàn rời khỏi VN.    Nhưng tại sao từ “Pháp” có nguồn gốc Hán Việt (HV)? 
         
Pháp Lang Sa, Lang Sa, Pháp
Người Trung Hoa âm từ  France tức nước Pháp ra ba phần:   F, ran, ce.   Nhưng trong ngôn ngữ TH không có âm “R”, và họ dùng âm “L”thay thế. Do đó TH  viết ba phần trên thành ba từ và  đọc là Phà lãn xi (giọng quan thoại), hoặc “Phap làn xấy” (giọng Quảng Đông).   Khi người TH phát âm giọng quan thoại,  chúng ta nghe gần giống âm của nguyên ngữ   “F ran ce” hơn, nhưng bị đổi thành  “F lan ce”.  Họ đã đọc từ “ran” thành “lãn”.  TH mượn âm “xi” để đọc từ “ce”.  Xi hay xấy  là “tây” tức hướng tây.   Các nhà nho của ta đọc lại địa danh ấy là” Pháp lang tây ” hay Pháp lang sa.  Từ đó chúng ta có từ “Pháp” hay từ “ Lang sa” để chỉ nước “Tây” hay nước Pháp. 

 Cũng một cách đọc đó, mẫu tự R đã thành L trong hai từ Franc và Paris và tất cả những từ nào có “R”.  Franc, đơn vị tiền tệ của Pháp, được TH đọc là  “Phà lạng” (giọng quan thoại) hay   “phap lòn” (giọng Quảng Đông); và chúng ta gọi là  đồng  Phật lăng  (giọng HV).  Paris, thủ đô của Pháp, có giọng TH   “Pa li”  hay giọng HV là “Ba lê”.  

Mỹ, Hoa Kỳ, Hợp Chúng Quốc, Cờ Hoa
Một ví dụ khác nữa trong việc mượn tiếng TH đọc âm HV là từ “Mỹ” để chỉ Hoa Kỳ (HK).  Từ nầy do nguyên ngữ America.  TH viết và đọc đại khái là “A mi li ca” (chữ r thành l trong từ li) và các cụ chúng ta đọc Á mỹ lệ ca. Tàu họ gọi tắt bốn từ đó là Mỹ và chúng ta dùng y chang như vậy.   Địa danh America được chúng ta chiếu cố qua bốn tên. Ba tên đầu là tiếng HV: Mỹ, Hoa Kỳ, và Hợp Chúng Quốc (vì là một liên bang gồm nhiều bang từ chữ United States).  Tên thứ tư  “xứ Cờ Hoa”  là một trường hợp có chút đặc biệt, vì từ nầy phát sinh do từ “Hoa Kỳ”.  Theo lẽ khi “dịch” ra tiếng Việt thuần túy phải là  “Cờ Bông”.  Còn trong từ “Cờ Hoa”, cờ là tiếng Việt, còn Hoa lại là HV. 

Những chuyện “Tàu làm sao Việt làm vậy” còn dài lắm. Không  chỉ ở trong phạm vi chữ nghĩa mà thôi. Riêng trong chữ nghĩa, Việt ta còn hay hơn một chút là đôi khi vì lý do nầy hay khác, đổi luôn âm khác vào để dùng theo ý riêng.  Thí dụ địa danh Hungary, TH viết ba từ và đọc theo âm của họ  đại khái là  “Hung chia lị” (chữ r đọc thành l như đã nói). Theo quyển “Tên Họ Người VN” của giáo sư  Nguyễn Ngọc Huy,  dân ta theo TH trong việc cử tên.  “Lị” là tên của vua Lê Thái Tổ.  Do đó vì sợ phạm  húy nên các cụ đọc “lị” thành “lợi”.  Vì vậy mà ta có Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi và Ý Đại Lợi v.v. thay vì Bảo Gia Lị, Hung Gia Lị và Ý Đại Lị .

Nhập (và lạc) đề đã khá xa, giờ xin trở lại các từ Việt gốc Pháp.  Nói chung đa số những địa danh của một số quốc gia lâu đời trên thế giới đã được đọc bằng tiếng VN qua giọng HV, và đã được dùng một cách sâu rộng trong sách vở và trong tiếng nói. Thí dụ như :  Á căn đình, Anh, Bảo gia lợi,  Gia nã đại, Lỗ ma ni, Mỹ, Nga, Pháp, Phần lan, Úc (hay Úc đại lợi), Ý v.v... Do đó chúng tôi xin miễn ghi lại những từ liên quan đến địa danh hay nhân danh trong phần tiếp theo, trừ vài từ nào khá đặc biệt.

Từ Pháp lang sa (hay Phú lang sa), và Lang sa đã có một thời rất thông dụng.  Nó đã đi vào ca dao VN.  Từ  “Tây” thì tới ngày nay chúng ta vẫn dùng để chỉ người Pháp hay nước Pháp.  Ông Nguyễn Trúc Phương, trong quyển “Việt Nam Văn Học Bình Dân” (5), chương về ca dao có ghi:
           Văn minh gặp buổi Lang sa
           Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều.
         Hoặc:
           Giặc Tây đánh tới Cần giờ
           Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công...
           Đắng khổ qua chua là chanh giấy
           Dầu ngọt cho thế mấy cũng tiếng cam sành
           Giặc Lang sa đánh đến bên thành
           Dầu ai có ngăn qua đón lại
           Dạ cũng không đành bỏ em.
         Hoặc:
           Lấy Tây, lấy Chiệc làm gì
           So bề nhân ngãi sao bì An Nam

Từ Việt gốc Pháp trong vấn đề ăn uống

Ăn phở uống cà phê
Ăn uống là nhu cầu căn bản đầu tiên của tất cả các dân tộc.  Do đó khi giao tiếp với người Pháp, những từ liên quan đến thực phẩm được dùng đến nhiều.  Trước hết có từ cà phê.  Già trẻ, từ nam tới bắc, từ đông sang tây (quốc nội hay hải ngoại) đều biết từ nầy.  Nó do từ  café của Pháp.  Cây cà phê đã góp một phần quan trọng vào đời sống của dân Việt từ thời Pháp thuộc cho đến ngày nay. Cách đây ba, bốn năm, VN đã đứng đầu thế giới trong việc sản xuất và xuất cảng cà phê loại “robusta”. 

Liên quan tới cà phê, có cà phê phin (filtre: lọc).  Cà phê phin có một độ còn có biệt danh “cái nồi ngồi trên cái cốc.”  Đó là sự “tả chân”  về cái phin cà phê của các bộ đội ngoài Bắc vào Nam.  Phải công nhận một điều là khi trời lạnh, vào quán gọi một ly cà phê sữa nóng, ngồi nhìn cái nồi thảnh thơi ngồi trên cái cốc, nhỏ từng giọt cà phê xuống cái ly (cái cốc), là một sự chờ đợi lý thú.  Khi nhắp chút cà phê sữa từng hớp nhỏ, hưởng cái vị đắng-ngọt “đã” cái lưỡi không thể tả được.  Nhưng chưa hết.  Hãy gọi một bát phở tái, chín, nạm, gân, sách nữa. 

Có người nói với tôi từ phở có nguồn gốc Lang sa đấy.  Một cựu thuyền trưởng thương thuyền, đã có thời làm việc cho Pháp và sau nầy cho VNCH, đã kể cho tôi nghe rằng thời trước 1954, ông ta chở tiếp liệu cho quân đội Pháp.  Thuyền Phó và nhiều thủy thủ ở tàu của ông là dân Pháp chính cống.  Khi tàu cập bến ở Hải Phòng, vào mùa lạnh, họ thường nấu một món súp (soupe) thịt bò và sau đó họ để thêm một loại mì sợi (loại giống như spaghetti) đã luộc chín vào súp trước khi ăn. Muốn giữ cho món súp được nóng suốt bữa ăn, họ để súp luôn trên lò lửa.   Họ gọi món đó là “boeuf au feu”:  (từ feu đọc là “phơ”) tức là “bò nấu trên lửa.” 

Các thủy thủ người Việt không để spaghetti vào mà lại để hủ tiếu vào  và gọi món đó là boeuf au feu VN.  Từ nầy dài quá nên được gọi tắc là món “au feu” và sau đó chỉ còn có từ “feu”. Rồi từ  “phơ” là lửa ấy trở thành từ phở (có dấu hỏi) lúc nào, ông ta không biết. Món “soupe au feu” nầy trở thành thông dụng cho dân chúng miền Hải Phòng trước, và sau đó cho cả miền Bắc.  Sau 1954, khi có nhiều đồng bào di cư vào Nam sau cuộc chia đôi đất nước năm 1954, món “phở” mới thành món ăn phổ biến trong Nam.  Trước đó dân miền Nam dùng hủ tiếu thịt heo nấu theo kiểu... Tàu. 

Một ông bạn già khác, chẳng quen biết gì ông thuyền trưởng trên, lại nói với tôi rằng người Pháp có nhiều loại súp khác nhau, họ thường ăn súp nóng khi trời lạnh.  Họ giữ cho súp luôn nóng bằng cách đựng súp trong cái “pot” tức cái nồi  và để ninh trên lửa.  Họ gọi nó là “pot au feu” và từ phở do từ feu mà ra.   Tóm lại,  “boeuf au feu” hay “pot au feu”, cả hai ông đều cho một kết luận giống nhau về nguồn gốc của từ phở.  Quí vị có biết thêm giả thuyết nào nữa không?

Điểm tâm: Dăm bông, ba tê, ốp la
Điểm tâm, có  bánh mì, trứng gà,  dăm bông (jambon): thịt heo hun khói và ba tê (pâtée) tức thịt hay gan xay,  đã làm chín và ướp mùi vị đặc biệt.  Có nhiều cách ăn hột gà. Bình thường là luộc chín.   Có thể ăn hột gà la cót (oeufs à la coque): chỉ thả vào trong nước sôi độ vai phút, bên trong chưa chín hẳn.   Ngoài ra còn có thể chiên hột gà bằng cách khuấy trộn chung lòng trắng và đỏ, ta có hột gà ô mơ lết (omelette);  hoặc chiên nguyên tròng trắng và tròng đỏ để có hột gà  ốp la (oeufs sur plat).     

Cơm trưa và tối với súp, xà lách, phi lê, cỏ nhác
Bữa cơm trưa hay tối có nhiều thứ canh hay súp. Súp bò, gà, hay súp rau cải .  Súp rau cải còn có tên gốc Pháp là súp lê gim (légume).  Tiếng bình dân của ta gọi nước súp là “nước lèo.”  Súp hành để lạnh nổi tiếng của người Pháp mà các nhà hàng tây nào cũng có bán là “consommé froid”: thức uống lạnh.  Sau bữa ăn chánh, thực khách thường dùng cà phê đen trong một cái tách (tasse) thật nhỏ.   Từ “tách”  thông dụng cho đến ngày nay.  Đã dọn ăn thì phải có muỗng và đũa.  Muỗng nhỏ gọi là muỗng cà phê và muỗng lớn gọi là muỗng súp.  Có nơi ngày xưa còn gọi muỗng là cái  “cùi dìa” (cuillère). 

 Trong bữa ăn, ngoài súp ra, còn có “xà lách”  (salade) tức rau cải. Xà lách còn là tên của một loại cải.  Món salade “hằm bà lằng” nhiều loại rau cải đôi khi có cả đậu hủ, thịt gà, hay thịt heo hun khói hay dăm bông.  Cây cải xà lách Đàlạt nổi tiếng ngon và được ưa dùng ở Sài Gòn (dân Mỹ gọi nó là butter lettuce). Một loại xà lách khác rất được ưa thích để trộn với dầu dấm là cải “xà lách xon” (cresson).  Để thịt bò xào tái lên đĩa xà lách son dầu dấm là có một món nhậu vừa ngon vừa bổ.  Thịt bò phải lựa loại “phi lê mi nhông” (filet mignon) mới đúng điệu vì nó rất mềm. 

Cho đúng tiêu chuẩn ngon, phải uống “cỏ nhác be ri ê”, hay “mạc ten be ri ê” (rượu hiệu cognac hay martel và nước suối perrier) trong một cái ly lớn.  Dân nhậu gọi ly rượu ấy là “công xôm ma xông” (consommation).  Nếu không có be ri ê, thì dùng một loại nước suối có bọt hay nước soda cũng được.  Một số người chỉ dùng nước lạnh pha với cỏ nhác hay mạt ten và nước đá.  Họ cho rằng pha với các loại nước có bọt làm mất nguyên vị của rượu đi. Có người uống rượu mạnh không pha gì cả, thường gọi là “uống xếch” (Boire sec).

Phó mách, bơ, và rượu vang
 Sau bữa cơm tối và các câu chuyện hàn huyên, người ta còn ăn “phó mách” (fromage) và uống rượu “vang” (vin), còn gọi nôm na là rượu chát.  Trong thức ăn kiểu tây có nhiều món nấu rượu vang như gà, vịt,  lưỡi heo, thỏ. 

Phó mách và “” (beurre) là sản phẩm từ sữa.  Dân Pháp, Hoa Kỳ  đều khoái hai thứ nầy.  Có vô số loại phó mách khác nhau.  Trong số đó có vài loại có mùi nồng và nếu không biết ăn thì đành xin lỗi vì nó hôi không thể tả.  Nhưng dân sành ăn thì lại cho là nó ngon khỏi chê nhứt là dùng làm mồi để uống rượu vang.  Đa số người Việt chỉ thích loại phó mách hiệu “con bò cười” (“La vache qui rit”) hay có tên HK là “the laughing cow.”  Vào các siêu thị VN ở HK tìm mua phó mách, chỉ có thể tìm thấy loại nầy mà thôi. 

Sâm banh, la ve
 Dân Việt ta khi xưa, lúc Pháp mới cầm quyền ở VN ba bốn chục năm, có một số làm công chức cho Pháp hay những người giàu có mới ăn phó mách, uống sữa bò tươi và ăn bánh mì trét “bơ Bretel, tên một loại bơ mặn nổi tiếng của Pháp. Ngoài ra còn có một chỉ số khác để chỉ nhà giàu xưa  ở VN là việc dùng rượu “sâm banh” trong những tiệc vui.   Sâm banh (champagne) là một loại rượu vang có bọt làm ra từ những trái nho ngon của vùng đất tên là Champagne, ở miền đông bắc nước Pháp.  Ngày nay thì sâm banh sản xuất ở California, HK,  tràn ngập thị trường quốc tế và là một loại rượu coi là “bình dân” vì quá phổ biến trong mọi giới, mặc dù có vài loại rượu sâm banh giá khá cao.  Tú Xương có viết: “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” để chỉ những nhà giàu thời xưa như đã nói.

 Ngoài rượu vang và sâm banh ra, người bình dân thích dùng “ la ve” (la bière), một loại rượu có bọt với nồng độ rượu rất nhẹ (chỉ khoản 5%; trong lúc ấy rượu vang kể cả sâm banh có nồng độ trung bình từ 11% đến 13.5%, và rượu mạnh có 40% trở lên).  La ve còn được gọi là “bia”  và do đó, có từ “bia ôm” mà hầu hết chúng ta đều biết.

Bom, bôm, và bơm
Trong các loại tráng miệng sau bữa cơm, chúng ta có thể dùng trái “ bôm” (pomme) hay còn gọi là trái táo tây. Gần đây có một loại bôm nổi tiếng của Nhật tên Fuji.  California đã sản xuất tràn ngập loại bôm nầy.

Tiện đây xin cho nói luôn kẻo quên, trong tiếng Việt có đến ba từ  Việt gốc Pháp có âm đọc gần như nhau: “bôm,” “bơm,”   và “bom.”

Bơm (pomper) là động từ chỉ động tác đem không khí, hay một chất lỏng vào một chỗ nào đó như bơm bánh xe, bơm nước từ giếng lên thùng chứa nước, bơm mỡ bò vào bạt đạn xe. Vật dùng để bơm, gọi là cái bơm, ống bơm hoặc máy bơm (pompe).

Từ thứ ba là “bom” (bombe)  chỉ một loại vũ khí gây nổ có tác dụng phá hoại và giết chóc. Ném bom, dội bom (bombarder) là động từ chỉ việc dùng phi cơ thả bom xuống từ trên không.


(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét