Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Mai Loan - Những Hệ Luỵ Sau Cuộc Chiến Giữa Do Thái Và Hamas


Cuộc chiến nào rồi cũng phải đến lúc kết thúc để người ta phán xét kẻ thắng người thua hoặc có khi là một cuộc chiến bất phân thắng bại. Và quan trọng hơn hết, có lẽ là để tìm hiểu xem những kẻ trong cuộc có đạt được những mục đích mong muốn của mình đã ôm ấp từ trước khi lâm chiến, hay là đành phải nuốt nhục thảm bại đắng cay để chờ một cơ hội khác để phục thù. Và cũng là dịp để rút ra những bài học đắt giá khi phải đối mặt với những hậu quả tức thời, cũng như những hệ luỵ lâu dài sau khi đôi bên đã không ngần ngại sử dụng hết toàn lực để mong khống chế đối phương.

Trên lý thuyết, hai phe Do Thái và Hamas vẫn chưa chính thức tuyên bố đình chiến, sau khi cuộc ngưng bắn kéo dài 72 giờ đồng hồ đã kết thúc vào thứ Ba tuần trước, nhưng cuộc họp thương thảo qua trung gian của Ai Cập để mưu cầu một thoả thuận ngưng chiến dài hạn đã bất thành. Liền sau khi thời gian ngưng bắn chấm dứt, những du kích quân của Hamas vẫn tiếp tục bắn những hoả tiễn, khiến cho phía Do Thái lại tiếp tục trả đũa bằng những màn pháo kích tấn công dữ dội hơn. Tuy nhiên lần này những đợt tấn công và trả đũa có phần bớt khốc liệt hơn so với những đợt pháo kích trước.

Ai Cập là quốc gia đứng ra chủ trì một cuộc thương thảo và hai phe cũng đã đưa những những vị đại diện đến thủ đô Cairo để thương thuyết, dù rằng viễn tượng đạt được một kết quả thành công xem chừng như rất mong manh. Điều này cũng dễ hiểu khi mà những đòi hỏi của đôi bên gần như đối chọi kịch liệt, khó tìm ra giải pháp dung hoà.

Phía Hamas yêu cầu Do thái phải chấm dứt tình trạng bao vây và cấm vận dải Gaza từ bấy lâu nay bởi chính quyền của hai nước Do Thái và Ai Cập, nếu không thì họ sẽ phải tiếp tục cuộc chiến đấu này. Phía Do Thái thì cho rằng chính sách cấm vận vùng Gaza là điều cần thiết để ngăn chặn con đường tiếp tế vũ khí cho quân Palestine, và cũng mạnh miệng lên tiếng rằng họ sẽ không chịu thương thuyết dưới bất cứ áp lực hay đe doạ nào. Do Thái nói thêm rằng họ sẵn sàng chấm dứt việc cấm vận dải Gaza, với điều kiện là phe Hamas phải hoàn toàn giải giới, chẳng khác nào đòi hỏi Hamas phải đầu hàng vô điều kiện!

Tuy vậy đôi bên cũng chấp nhận gia hạn thời gian ngưng bắn thêm 72 giờ nữa, dù rằng vẫn còn có những vụ tấn công lẻ tẻ xảy ra. Cho đến sáng thứ Hai đầu tuần, tình hình tại Gaza xem chừng như khá yên ổn so với những ngày ly loạn trước đó. Bản tin của phóng viên AP cho biết là các em học sinh đã tràn ra đường phố để mong đến trường nhận lấy chứng chỉ tốt nghiệp sau khi Bộ Giáo Dục loan báo là họ đã sẵn sàng để trao lại. Người dân đứng sắp hàng để mua nhiên liệu cho các máy phát điện nhỏ, và các toán chuyên viên các công ty nhà đèn và điện thoại đang cố gắng sửa chữa các đường dây cáp đã bị hư hại sau những đợt pháo kích tàn phá dữ dội. Dân chúng cũng đứng sắp hàng đầy nghẹt tại các trạm ATM để chờ rút tiền mặt để có thể mua bán những nhu cầu cần thiết.

Không ai biết chắc là cuộc ngưng bắn tạm thời này có thể dẫn đến một kết quả ngưng chiến dài lâu hay không để giúp cho khối dân gần 2 triệu người Palestine bớt được cảnh lầm than cơ cực trong những ngày tháng tới. Nhưng một số những phản ứng của người dân Hoa Kỳ cũng như của phần lớn cộng đồng quốc tế đã có phần bất lợi đối với Do Thái.

Cuộc chiến tại Gaza thật ra có thể được coi như là 3 cuộc chiến đã nổ ra tại vùng đất nhỏ bé này trong 6 năm vừa qua. Cũng giống như Hoa Kỳ, phía Do Thái đã đặt tên cho 3 chiến dịch hành quân này. Trận chiến đầu tiên, xảy ra vào cuối năm 2008 và kéo dài 3 tuần lễ, được đặt tên là Operation Cast Lead (Chiến dịch Khuôn Chì). Trận chiến kế tiếp, xảy ra vào cuối năm 2012 và kéo dài 8 ngày, được mang tên là Operation Pillar of Defense (Chiến dịch Cột Trụ Phòng Thủ) coi như mở màn cho chiến lược phòng thủ Iron Dome (Vòm Sắt) có khả năng dùng phi đạn của Do Thái để tiêu diệt trên không những hoả tiễn của Hamas bắn về phía Do Thái. Còn trận chiến hiện nay, nổ ra từ đầu tháng 7 vừa qua, và cho đến nay đã bước sang tuần lễ thứ 5, được mang tên là Operation Protective Edge (Chiến dịch Góc Cạnh Bảo Vệ).

Trận chiến mới nhất cũng mang lại hậu quả khốc liệt nhất về con số nạn nhân cũng như mức độ tàn phá. Cho đến nay, có khoảng hơn 1,900 người Palestine đã chết, phần lớn là thường dân và trong đó có khá nhiều trẻ em, gần 10,000 người bị thương cùng với cả trăm ngàn người phải lâm vào cảnh màn trời chiếu đất trên đường lánh nạn giữa đống hoang tàn đổ nát gần như bao trùm khắp cả thành phố. Phía Do Thái cũng có số người thiệt mạng cao nhất trong những cuộc chiến sau này, với tổng cộng 66 quân nhân và 3 thường dân bị thiệt mạng.

Nhưng hậu quả tai hại hơn cho Do Thái trên trường quốc tế khi nhiều quốc gia đã không ngần ngại cắt đứt quan hệ ngoại giao; một số nước khác thì hăm he hoặc đang sửa soạn áp đặt những đợt cấm vận về vũ khí với Do Thái. Điều đáng nói là trong trận chiến trước đó vào cuối năm 2008, áp lực trên Do Thái có phần không đáng kể bởi vì cả hai bên vào lúc ấy đang can dự vào một cuộc hoà đàm. Nhưng lần này, chính quyền Do Thái đã cắt đứt những cuộc thương thuyết từ lâu, khó lòng biện minh rằng mình có thiện chí, và càng khiến cho nhiều người tin rằng Do Thái không có thực tâm mưu cầu hoà bình.

Cho đến nay đã có 5 quốc gia tại Châu Mỹ La-tinh đã quyết định triệu hồi các đại sứ của họ rời khỏi thủ đô Tel Aviv, đó là các nước Ecuador, Peru, El Salvador, Chí Lợi (Chile) và Ba Tây (Brazil). Một số nước khác thì quyết định tạm ngưng các cuộc thương thuyết về tự do mậu dịch. Trong cuộc chiến lần trước chấm dứt vào đầu năm 2009, chỉ có 2 nước Venezuela và Bolivia là đã triệu hồi các vị đại sứ của họ.

Sự chống đối cũng lan sang nhiều nước khác tại Âu Châu. Trong ngày thứ Hai, chính quyền Tây Ban Nha loan báo quyết định cấm bán vũ khí cho Do Thái. Còn chính quyền Anh Quốc nói rằng họ đang duyệt xét lại tất cả các giao kèo quân sự lớn hàng tỷ đô-la với Do Thái. Tổng thống Francois Hollande của Pháp cũng mạnh miệng lên án Do Thái khi cho rằng tình hình tại Gaza quả là một vụ “thảm sát”. Ngay cả đồng minh đắc lực nhất là Hoa Kỳ cũng không tránh né việc chỉ trích khi Bộ Ngoại Giao Mỹ đã lên án việc Do Thái pháo kích vào một trường học là một hành động “kinh khủng”.

Trên đường phố tại nhiều thành phố lớn ở Âu Châu cũng như ở Hoa Kỳ, nhiều cuộc xuống đường rầm rộ cũng đã được tổ chức, một mặt lên án chính sách tấn công mạnh tay quá đáng của Do Thái, và mặt khác kêu gọi dân chúng hãy tẩy chay quốc gia này. Cho đến nay, tuy các chính quyền và cơ sở thương mại lớn không đáp ứng những lời kêu gọi tẩy chay này, nhưng theo một bài báo đăng trên tạp chí The Economist cho biết, hồi tháng 4 vừa qua nhiều quốc gia ở Âu Châu đã đưa ra lời cảnh báo đối với các công ty về chuyện tiếp tục làm ăn với các công ty của Do Thái đặt bản doanh tại những vùng đất của Palestine đang bị chiếm giữ bởi Do Thái.

Cũng giống như bất cứ một cuộc xung đột nào nổ ra giữa hai phe, câu hỏi luôn được đặt ra là chính nghĩa nằm về phía nào nhiều hơn, nghĩa là phe nào có lý do chính đáng hơn, và đáng nhận được sự ủng hộ của đa số hơn. Dĩ nhiên, sẽ có người bình luận một cách mỉa mai rằng chỉ có chính nghĩa của kẻ chiến thắng, tức là thứ chính nghĩa của kẻ nắm đầu súng, đang nắm giữ thực quyền, bất chấp công luận. Hay đúng hơn, đó là thứ chính nghĩa nằm về phía nào mà chúng ta quyết định lựa chọn thế đứng chung, một quyết định đầy tính chủ quan theo đúng tinh thần của câu thành ngữ “Sư nói Sư Phải, Vãi nói Vãi Hay”?

Trong trường hợp của phe Do Thái, những lời biện minh cho lập trường của họ đã được hầu hết các chính trị gia có máu mặt ở Hoa Kỳ, cũng như của chính quyền Mỹ, lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ trong những ngày qua cũng như trong suốt nhiều thập niên trước đó. Tất cả đều cho rằng Do Thái có quyền tự vệ, một thứ quyền thiêng liêng để bảo vệ sự sinh tồn của họ khi đứng giữa nhiều kẻ thù khác nhau (ám chỉ khối các nước Ả Rập đang bao quanh) lúc nào cũng đòi tiêu diệt Do Thái.

Khi chiến cuộc mới bắt đầu khai mào, Thủ tướng Benjamin Netanyahu của Do Thái đã phát biểu: “Không có một quốc gia nào trên thế giới có thể đồng ý chịu đựng những đợt tấn công không ngưng nghỉ bằng phi đạn, cũng như những toan tính đột nhập vào nội địa nước mình.” Lời nói này sau đó đã được lập đi lập lại nhiều lần, thường là trong những nỗ lực để biện minh hay ủng hộ cho chiến dịch quân sự của Do Thái tại vùng Gaza.

Điều này cũng dễ hiểu và đúng lý khi chúng ta thảo luận và phân tích: Không có một quốc gia nào có thể tiếp tục ngồi im để chịu đựng những điều kiện khắc nghiệt như vậy. Bất cứ một quốc gia nào, và bất cứ một người dân nào của những quốc gia đó, cũng không thể nào chấp nhận bởi vì tất cả đều có cái quyền tự vệ được mọi người công nhận một cách phổ quát.
Thế nhưng, theo lời của nhà báo Emily Hauser, thì dường như không ai chịu đặt ra, hay lắng nghe một câu hỏi khác cũng đúng lý một cách khá nhức nhối: Đó là liệu những người dân vô tổ quốc có được cái quyền tự vệ chính đáng đó hay không?

Trước khi người ta sớm kết án bà Hauser là một tay nhà báo thiên vị có khuynh hướng bài Do Thái, tưởng cũng nên biết thêm rằng bà ta là một người Mỹ gốc Do Thái, một nhà báo tự do chuyên viết về các đề tài liên quan đến tình hình Trung Đông từ thập niên 90, và thường xuyên góp bài trên tờ Haaretz, tờ nhật báo lâu đời và uy tín nhất tại Do Thái. Trong một bài đăng trên tạp chí The Week đề ngày 6 tháng 8 vừa qua, bà Hauser nói rằng người dân Palestine là những người đã thường xuyên phải chịu đựng những tình cảnh mà ông Netanyahu đã gọi là đau khổ không thể chịu đựng nổi. Họ đã phải chịu đựng gần như một cách thường xuyên những đợt tấn công không ngưng nghỉ cũng như những chiến dịch hành quân xâm nhập vào nội địa của họ (do Do Thái khởi xướng), nhưng họ lại không thể làm gì khác để đối phó hay để tự vệ.

Dĩ nhiên, không phải chỉ có Do Thái là người gây ra những khổ đau cho người dân Palestine, mà trách nhiệm cũng thuộc vào những người nắm quyền của Palestine (trước đây là tổ chức PLO và sau này là Hamas). Phe này đã dùng chiến thuật khủng bố cũng như bắn loạn xạ các phi đạn vào các vùng dân cư của Do Thái, vốn là những hành động đáng chỉ trích và đáng bị kết án là tội phạm chiến tranh.

Hơn nữa, những hành động của Hamas thường chính là nguyên nhân dẫn đến những đợt tấn công trả đũa bằng không lực của Do Thái cũng như những cuộc đổ bộ để càn quét những toán dân quân này, khiến cho nhiều người thường dân vô tội phải chết oan chỉ vì phải nằm giữa hai lằn đạn. Không ai chối cãi rằng chính Hamas đã cố tình trà trộn trong những khu đông đúc dân cư để khi Do Thái phải quyết định tấn công để tiêu diệt, đương nhiên không thể tránh khỏi việc gây thiệt mạng lây đến những thường dân sống quanh đó. Dĩ nhiên, khi bom đạn của Do Thái nã xuống tàn phá nhiều dinh thự, toà nhà, trường học và nhà thương khiến cho gần 2000 người bị thiệt mạng, trong đó phần lớn là thường dân và trẻ em, thì quân đội Do Thái đương nhiên không thể nào chối cãi được sự thật này, và do đó cũng dễ phải nhận lấy những lời chỉ trích hay lên án rất chính đáng.

Thế nhưng, hãy tạm gác sang bên chuyện mổ xẻ việc làm của phe Hamas mà chỉ chú trọng vào hoàn cảnh thực tế hiện nay của những người Palestine đang sống tại dải Gaza, phần lớn là những thường dân vô tội, không nhất thiết đều là những chiến binh trong các đội dân quân. Có khoảng gần 2 triệu người tại vùng đất nhỏ bé này với diện tích chỉ có 360 cây số vuông (tương đương ¼ diện tích của thành phố Houston), từ hơn một tháng nay, đã phải sống trong cảnh lầm than và bất an, với hàng trăm ngàn người đã phải rời bỏ nhà cửa để lánh nạn. Họ đã phải cố gắng sống còn, hoặc đi tìm những thân nhân đã bị thất lạc trong những điều kiện hết sức điêu đứng. Họ đã bị bom đạn giết chết hoặc gây thương tích bởi một đạo quân nước ngoài đang thả bom lên đầu họ, cũng như ngang nhiên xâm lấn đất đai bờ cõi của họ.

Thế nhưng có mấy ai chịu gióng lên câu hỏi rằng liệu những người dân Palestine tại dải Gaza có được cái quyền tự vệ hay không?

Hãy thử tưởng tượng một trường hợp (để giúp cho việc tranh luận được dễ hiểu hơn một cách cụ thể) rằng có những nhà đại tỷ phú gốc Palestine sống tại nhiều nơi trên thế giới, quy tụ được nhiều tiền bạc, nhân lực và phương tiện dồi dào để huấn luyện một đạo quân tinh nhuệ với sứ mạng tự vệ để đối phó mỗi khi có một cuộc tấn công bởi ngoại xâm (như Do Thái). Trong trường hợp đó, mỗi khi có quân Do Thái tấn công thì đạo quân tinh nhuệ này của Palestine (hay Gaza) có thể trả đũa bằng một loạt các đợt pháo kích vào nhiều thành phố và trung tâm thương mại, cũng như có nhiều hoả tiễn địa-đối-không để chống trả với không lực của Do Thái. Liệu tình huống này có được coi là điều tự vệ bình thường hay không, tương tự như nhiều người biện minh cho thái độ tự vệ hiện nay của Do Thái là chuyện bình thường, không có gì phải ngạc nhiên hay đáng lên án? Liệu Do Thái và đồng minh Hoa Kỳ có chịu chấp nhận nguyên tắc và lý luận rất chính đáng này hay không?

Nhà báo Thomas Friedman, một bình luận gia uy tín cộng tác với tờ New York Times, trong một bài viết đề ngày 6 tháng 8 vừa qua, đã nói rằng cuộc chiến giữa Do Thái và Palestine hiện nay đang có nguy cơ trở thành một cuộc xung đột về tôn giáo, dễ có nguy cơ trở thành quá khích khi mà những suy nghĩ và lý luận thường bị lu mờ bởi lòng tin cuồng tín muốn bảo vệ tôn giáo của mình.

Ông thuật lại chuyện tờ báo The Times of Israel, khi cuộc chiến mới bắt đầu, đã tường thuật lời phát biểu của một vị trung đoàn trưởng của Do Thái, đó là Đại tá Ofer Winter. Trong một công lệnh gửi cho các sĩ quan chỉ huy các tiểu đoàn và đại đội dưới quyền, ông Winter đã nói: “Lịch sử đã lựa chọn chúng ta để làm mũi nhọn cho cuộc chiến chống lại kẻ thù khủng bố tại Gaza vì chúng đã lạm dụng, chà đạp và phỉ báng quân lực của Thượng đế của Do Thái.”

Đúng là một lời nói khiến chúng ta phải cảm thấy sợ hãi, tương tự như cảnh đã xảy ra tại Hoa Kỳ cách nay hơn 10 năm, giữa lúc cao trào đòi tấn công Iraq để trả thù vụ khủng bố 9/11 đang dâng cao khi mà đa số các vị dân biểu và nghị sĩ tại quốc hội, cũng như đa số người dân Mỹ đều đồng lòng ủng hộ chính sách của TT Bush Con muốn xua quân để tấn công Iraq. Vào lúc ấy, người ta nhắc đến chi tiết một vị tướng của Hoa Kỳ đã không ngần ngại vỗ ngực để khoe rằng ông ta sẵn sàng lao mình vào cuộc chiến để chứng tỏ rằng “Thượng đế của chúng tao mạnh hơn Thượng đế của chúng mày”, ý nói Thiên Chúa của Ky-tô-giáo mạnh hơn đấng Allah của khối dân Hồi-giáo.

Nhà báo Friedman kết luận rằng những nhà lãnh đạo hoặc chính trị gia ôn hoà thuộc cả hai phe Do Thái và Palestine cần phải lên tiếng và hợp tác mạnh mẽ hơn nữa để đừng cho những phần tử quá khích của cả hai bên có cơ hội giành quyền chủ động trong cuộc xung đột hiện nay.

Không ai chối cãi rằng những phần tử của Hamas là những kẻ quá khích, sẵn sàng áp dụng bất cứ những thủ đoạn tàn nhẫn hay khủng bố để đạt được mục đích của mình. Nhưng cũng không ai có thể tiếp tục biện minh cho những hành động trả đũa hay gây hấn (qua việc cứ tiếp tục cho xây cất những khu định cư mới cho dân Do Thái ngay trên phần đất West Bank của Palestine) mà chính quyền của ông Benjamin Netanyahu, tiêu biểu cho lập trường của đảng cực hữu Likud, đã ngang nhiên đẩy mạnh trong thời gian qua. 

Nói tóm lại, nếu như hành động quá khích cực tả là điều đáng lên án, như trường hợp phe Palestine và Hamas với các chiến dịch tấn công theo kiểu cảm tử hay khủng bố, thì những hành động quá khích cực hữu của Do Thái, điển hình là lập trường của đảng Likud và chính quyền của ông Benjamin Netanyahu, cũng không phải là điều có thể tha thứ hay bỏ qua được, nói gì đến việc cứ mù quáng ủng hộ như trường hợp của Hoa Kỳ cứ phải nai lưng để ủng hộ cho đồng minh rất kiêu ngạo này.

MAI LOAN



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét