Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Võ Phiến - Hoạt cảnh II (Tiếp theo và hết)


Buổi chiều ở một miền cao nguyên này thật là nhiều màu sắc.

Thành phố Pleiku mà đoàn xe vừa rời bỏ la liệt những cây thông; sau trận mưa đêm trước, lá thông xanh sáng óng ánh. Mặt đường đất đỏ đậm màu.

Về chiều, bắt đầu lạnh. Một cái lạnh ráo khô. Mặt trời đỏ gấc giữa đám mây mù xông lên ngui ngút ở chân trời. Ðoàn xe chạy qua những đồi chè xanh ngắt. Chè xanh bên dưới, vượt cao lên trên là loại cây giống như cây muồng, hoa vàng tươi tràn lan. Chàng hỏi người tài xế, rất trẻ, ở bên cạnh:
– Anh biết tên giống cây này không?

– Không. Trời! Hoa nó rụng đầy đường, rải lên khắp đồi chè, “khéo” quá. Nghe nói trồng nó xen vào che mát cây chè và để chè không bị sâu phá. Anh Tám, có lẽ anh ấy biết cây gì.

– Tám nào?

– Anh Tám lái xe Hiệp Hưng số 12 đó.

– A! Xe đi đầu hồi sáng.

– Ðó. Anh “Tám Ông Ơi” đó. Nói chuyện với ảnh, mỗi lúc ảnh mỗi “ông ơi”.

– Tôi không để ý. Tôi vừa ngồi xe của ảnh sáng nay.

– Tụi tôi chế nhạo, bây giờ bớt rồi. Ảnh đi đường này nhiều... Thứ cỏ này ảnh cũng có nói tên, tôi quên. Chỗ xa xôi như vầy mà Tây nó lên nó khai khẩn lập nghiệp...

– Nó bắt phu người mình khai khẩn chứ nó làm gì?

– Ủa, thì nó cũng đi tìm tòi lặn lội tới đây, rồi ở đây năm bảy đứa trông coi công việc chớ. Thầy tính từ bên xứ nó qua xứ mình đã xa xôi, rồi lại từ chỗ đô thị như Sài Gòn Hà Nội lặn lội lên xứ này làm ăn. Mà lên từ năm sáu mươi năm trước, lúc đó chỗ này còn hoang địa. Ði thui thủi một nhóm mấy thằng chứ có đâu đông đảo như đồng bào mình bây giờ. Không ngán sao thầy.

Một hành khách ở băng sau lên tiếng:
– Bây giờ mình đi vầy mà còn thấy buồn.

Cuộc đàm thoại ngừng lại, không ai tiếp tục. Buồn thực. Nguyên hạ tầm mắt nhìn xuống hai hàng cỏ dọc bên đường, thứ có bông li ti màu hồng. Mặt trời chiều chiếu xuống màu đỏ hồng, sáng ánh lên.

Màu sắc càng rực rỡ, tự nhiên càng thấy buồn. Giữa cảnh cao nguyên rộng lớn mênh mông, chiều mịt mù và lành lạnh, giữa hoa cỏ đẹp đẽ, tự dưng một cảm giác lo lắng nhóm lên, và khó đuổi tan.

Ngót năm mươi con người trong xe, phía sau Nguyên, cũng ngừng nói. Những câu cãi cọ cuối cùng là của gia đình người chủ con chó lộn xộn nọ. Có lẽ đó là gia đình nhiều rắc rối nhất dọc đường: rắc rối với hành khách xung quanh và rắc rối ngay trong gia đình. Họ chỉ có một đứa con trai lên bảy. Khi thì mẹ rầy con, khi thì bố rầy mẹ, khi thì bố đánh con la khóc om sòm, không lúc nào ngớt.

Ðến đây, đột nhiên mọi gây gổ mè nheo chấm dứt, tất cả dừng lại trong một sự chờ đợi hồi hộp.

 Hết trà rồi. Hai bên đường lại cây, rồi hết cây lại đất mênh mông hoang vắng. Càng đi càng nhiều. Sương bắt đầu xuống. Một buổi chiều lạnh bất ngờ, khác những buổi chiều ở quê nhà đã là cái gì làm xao động tâm trí lắm rồi. Ðến Thanh Bình. Vượt quá Thanh Bình, đi thêm ít lâu nữa.

Trong giờ phút căng thẳng của mọi người, Nguyên liếc mắt về phía người tài xế. Anh ta đăm đăm nhìn tới trước, bất động. Chàng ngừng lại trên nét mặt anh ta một lúc, thông cảm. Trên xe lúc này chỉ có chàng và người tài xế trẻ, hai bên thông cảm sự khó chịu của nhau. Hai người tự dưng có lờ mờ một cảm giác tội lỗi rất vô lý, làm cho mọi cử chỉ lời nói của mình đột nhiên trở nên khó khăn.

Xe quẹo vào đường rẽ. Con đường hẹp lần, hai bên cây cao làm tối hẳn lại. Ðoàn xe đi chậm, sít đuôi nhau. Tiếng máy vang trong rừng sâu nghe khác lạ...

Một người đàn bà òa lên khóc. Những người khác châu lại nhìn, nét mặt kỳ dị, không biết cái gì sẽ xảy đến cho mình.

Xe đi đầu dừng lại, bỡ ngỡ. Một người mặc bộ đồ trây-di, tay áo xắn lên trên cùi chỏ gầy, ở sẵn đấy từ hồi nào, quơ tay ta dấu hướng dẫn. Các xe tiến lên, ì ì, khó nhọc. Người đó là địa điểm trưởng, một địa điểm trưởng tháo vát, sốt sắng, vui vẻ.

Ðàn bà xuống xe, khóc ran lên như ve kêu. Trời chạng vạng tối, giữa núi âm u, một vùng cây cối vừa đốn ngã ngổn ngang. Ba chiếc Caterpillar màu vàng nằm rải rác, lẫn lộn giữa đám cây hoang vu mà cuộc triệt phá còn lở dở.

Một người nào đó văng ra cộc lốc:
– Tổ cha lão thôn trưởng. Nó gạt mình đi vô trong hang hoi tìm cái mả cha nó trong này.

Người địa điểm trưởng ngó qua, khái quát, ước định tình hình nhanh chóng; tiến thẳng về phía Nguyên, túm lấy cánh tay chàng, kéo đi. Hai người đi về phía trại, một nhà trại lớn, tranh lợp trên mái và cây mầm cây trỉ hãy còn xanh tươi.

– Ðêm nay cậu ở lại với tôi.

Nguyên vội vã:
– Xe nó quay về Pleiku liền bây giờ.

– Mai tôi có xe khác đưa cậu về. Cậu phải ở lại với tôi đêm nay. Không có không xong. Cậu là người địa phương, có cậu họ còn yên lòng. Cậu bỏ về ngay lúc này, không được. Sang năm tới, nghe nói có chủ trương lấy người cùng địa phương với di dân làm địa điểm trưởng. Nghĩa là phải chuẩn bị trước vài tháng, chọn người đưa đi huấn luyện v.v... Ðêm vừa rồi tôi hạ ba con nai...

– Thiệt hả?... Anh đưa cả gia đình lên rồi đấy à?

– Ðâu có. Nói bậy, cậu ơi. Cô y tá đó. Tôi có vợ đâu. Cậu vô đây; tôi nhờ cổ tiếp chuyện...

– Ðịa điểm mới khai phá chừng này...

– Khá rồi đó. Từ đây đến mùa mưa, tiếp tục thêm, kịp chán. Doanh trại một cái thế này, là vừa. Ðể cho đồng bào mai kia họ chia toán ra đi cắt tranh đốn cây, tự dựng nhà lấy. Cho có công việc họ làm lai rai, chờ mưa. Ngồi không, họ buồn sinh loạn ra, khó quản trị... Cô Biện ơi, cô tiếp ông khách này, ổng đem thân chủ tới cho cô...

Người địa điểm trưởng vội vàng quay ra với đám di dân.

Nửa phút sau, một người đàn ông vụt lao vào, đứng trước mặt chàng:
– Cha tôi đẻ tôi một lần, ông đẻ tôi lần nữa. Ông cho tôi trở về.

Nguyên ngẩng đầu lên và ngạc nhiên hết sức. Ðây là một người còn trẻ, tên Thạch, chàng quen biết từ lâu, sao anh ta có thể bỗng chốc biến ra người khác, nói năng với chàng như ai đâu xa lạ. Chàng kêu trời:
– Anh Thạch! Anh là cán bộ, phải gương mẫu. Anh nói gì lạ vậy. Anh về, đồng bào họ về hết, tôi ở tù liền.

Thạch buông mình xuống chiếc ghế gần đấy, mặt tái xanh.

Nguyên chợt e dè không dám nhìn thẳng vào anh ta. Chàng không biết cái gì đã xúc động anh ta đến bậc ấy, không biết trước khi lên đường anh ta tưởng tượng khung cảnh ở đây ra sao mà bây giờ thất vọng đến thế.
Cô y tá đặt chiếc đèn dầu hôi lên bàn, rồi đứng lui ra, khép nép tránh mọi can thiệp.

Nguyên đưa bao thuốc về phía Thạch:
– Hút đi một điếu!

Thạch như không nghe. Một lát sau, Nguyên nói nhỏ:
– Anh rán ở lại năm mười ngày. Thấy không chịu nổi, rồi sẽ liệu xoay xở lấy.

Cô Biện nhìn lên đầu chàng một lúc lâu. Xúi như vậy là hèn quá, chàng bứt rứt. Thạch vẫn cứ ngồi trân ra. Chiếc xe đầu tiên nổ máy, bật đèn sáng, chiếu lóa vào sương mù dày đặc. Ðèn xe từ từ quét một vòng tròn, khó khăn. Một vòng ánh sáng, hai vòng ánh sáng... Các xe nối nhau quay đi. Thạch ngồi trân ra. 

Nước lạnh thực, quá lạnh đối với ai chưa quen khí hậu ở đây. Người đàn bà xối nước đến đâu con chó run bắn lên đến đấy. Mấy lần quá mức chịu đựng nó toan chạy, nhưng người đàn bà kêu “Suỵt! Vàng! Im”, nó lại vâng lời, nằm sát bụng xuống, rên ư ử. Nó liếc quanh van nài. Mắt nó trắng xác, chỉ còn chút xíu tròng đen lẩn ở trong khóe. Nó khiếp sợ quá rồi.

Người đàn bà hiểu cái khổ sở của nó, nên làm vội vã: xối nước, cào rửa, xoa xa-phòng, xối nước... Nhưng không có cách nào xong công việc nhanh chóng được: mình mẩy nó bê bết, tệ quá. Lần đầu tiên nó đi xe hơi, nó bị nhốt cả ngày trên xe, nó bài tiết bậy bạ.

Công việc cũng bị trở ngại, trì hoãn vì người đàn ông. Ông ta đứng lom khom, hai chân chụm lại lùi xa tránh những giọt nước văng đến, khom người xuống, một tay gác sau lưng, một tay chỉ chỏ, ông ta điều khiển vợ: “Bà cho một gáo nữa tạt phía bên này. Bà coi: đã sạch đâu. Nữa đi, chưa ăn thua gì. Trời ơi, lẹ tay một chút, bà coi: nó run kìa... Uầy! Còn chỗ khác nữa chứ, xoa gì xoa mãi một chỗ. Hừm! Vàng! Im!”

Ngón tay của ông ta chỉ chỏ từng ly từng tí, nhưng bao giờ cũng giữ một khoảng cách không dám động tới lông ướt của con chó. Mỗi khi nước tạt đến gần, ông ta rụt tay nhanh như cắt. Tiếng nói của ông hạ thấp, vừa đủ bao vây lấy người vợ mà cố ý để cho khỏi đụng chạm đến ai khác. Người vợ suốt ngày gần như lúc nào cũng ở trong màn lưới bao vây ràng rịt đó. Luôn luôn, bất cứ làm công việc gì, nàng cũng nghe bên tai những lời hướng dẫn, chỉ vẽ, điều khiển tỉ mỉ, thao thao bất tuyệt, canh chừng, đề phòng, gìn giữ cho mỗi cử chỉ, mỗi động tác của nàng không vượt cái mức thích đáng. Những tiếng nói hướng dẫn ấy tự nó cũng giữ đúng một mức thích đáng, không thấp quá như tỉ tê thì thầm mà cũng không cao quá, nó vừa đủ gói hai người trong một màn lưới chung.

Dĩ nhiên là trong cái lưới chật hẹp thường xuyên có sự va chạm. Làm sao được? họ sống gần nhau đến thế. Mỗi lúc giữa hai vợ chồng lại có một sự bất hòa, rồi thỏa thuận, lại xung đột, rồi giàn hòa... Cứ thế mãi. Và mọi sự lục đục đều được cố gắng gói ghém trong màn lưới, không cho động chạm đến người ngoài.

Con chó được tắm rửa xong chạy lại đứng bên bếp lửa. Giữa trại có một cây đèn măng-sông kêu khò khò, nhưng số đông vẫn vây quanh bếp lửa để sưởi ấm.

Bất ngờ, con chó rùng mình rẩy mạnh một cái, nước văng tứ tung. Tiếng bất bình nổi lên. Con chó khiếp sợ, hạ đít xuống thấp sát đất, cúp đuôi quặp vào giữa hai chân sau, chờ đợi sự trừng phạt.

Nạn nhân bị ướt nhiều nhất là người trẻ tuổi cụt tay. Nhiều giọt nước văng cả lên mặt, văng đúng vào miệng anh ta. Sự tức giận lóe lên dữ dội trong mắt anh ta, rồi tắt đi nhanh chóng. Không phải là tắt mất, nhưng bị vùi giấu. Anh ta lặng lẽ lấy một mép áo chùi nước bẩn trên mép. Người đàn ông trông lên, bắt gặp vẻ mặt ấy, vội vã ngoảnh đầu tránh sang phía khác.

Một ông già râu cằm hoe vàng, có một búi tóc nhỏ sau đầu, nước da rám nắng, đen đủi, rắn chắc, tiếp tục câu chuyện về dinh điền của ông ta: “...Ở đó ngoài ruộng lúa, thích nhất là còn làm được cá, quanh năm. Cá nước ngọt, cá đầm. Thoạt tiên đầm lầy đầy cả tranh, cao ngập, tràn lan mênh mông. Người thượng du địa phương khoét đây đó những lỗ hổng nhỏ giữa tranh, câu một ít cá. Như thế thấm gì. Vả lại, cá sống dưới chân tranh thịt dở lắm, da nó đen và dày như da heo. Sau này di dân tới ở, nuôi trâu, cho nó xuống ven đầm đạp tranh ngã rạp, lội nước ăn tranh, cho bùn đen quấy lên. Cá từ đó mập và ngon thịt. Tranh ngã rồi, chừng đó mới hạ sõng hạ xuồng xuống nước được mà làm cá, kéo lưới. Xuồng nan kéo trên cỏ tranh chóng hư. Nhưng ở đây thiếu gì cây to! Hạ cây xuống làm thuyền độc mộc, tha hồ kéo lết, không sợ hư hao gì. Cá tràu bốn năm ký cũng có, to khiếp lắm. Cua đinh, tức con ba ba đó, có những con sáu người bắt, lật ngửa không kịp, nó lôi cả sáu người nó chạy. Cá sấu, a! cá sấu vẫn câu được luôn, lột bán lấy da, mỗi con hơn bạc ngàn. Mỗi ngày làm cá được một buổi sáng cũng trên mười ký, mỗi ký cho đi bốn đồng rưỡi, ban đêm cũng chừng ấy nữa, tính đi coi: hàng tháng mình kiếm được bao nhiêu. Chưa kể hoa mầu nông sản...”

– Chỗ đó ở đâu?

– Thẩm Trạch.

– Thẩm Trạch? Ðâu vậy? Gần đây không?

Không ai biết rõ. Kẻ hỏi qua người nói lại. Rốt cuộc chỉ có những chi tiết mơ hồ. Nơi đó có vùng lầy, có hồ, có con sông nghe nói chảy qua tận bên xứ Cao-mên, tận bên Biển Hồ. Nghe đâu Thẩm Trạch thuộc quận Lạc Thiện.

Một người thông thạo lên tiếng.

– Lạc Thiện ở Ban-mê-thuột. Dính líu gì tới đây!

Ông già vẫn tiếp tục: “Qua tháng chạp, nước rút, phát tranh cho ngã xuống, đốt tranh đi. Rồi tìm theo hang cá. Cá lóc nó rút vào lỗ hang tìm nước. Bắt từng khiêng cá...”

– Ðây đi Lạc Thiện, lên con đường 14, đi vào xa lắm, bốn năm trăm cây số. Dính líu gì tới đây?

Ông già ngừng lại, đờ đẫn một lúc lâu. Sau, lại tiếp tục: “Cá sấu mắc câu, ban đêm cứ để mặc nó, đừng vội ra bàu mà nguy. Nó kêu gào, kệ nó. Nó gào như bò rống... đêm khuya...”

Câu chuyện của ông ta không can dự gì tới vùng rừng này, nhưng đó là câu chuyện dinh điền của ông ta. Ông ta chỉ có một câu chuyện đó về dinh điền. Một đứa cháu kêu ông bằng cậu, xung phong di cư kỳ đầu tiên, làm ăn khá giả, tết năm rồi trở về, kể lại cho người nhà nghe việc làm ăn của anh ta. Ông cậu cũng giỏi làm cá, nghe chuyện thích ý, kỳ này ông ta ghi tên di cư. Trong trí ông ta dinh điền chỉ có một chữ, một nghĩa, gợi lên một khung cảnh. Ông ta không có một ý niệm gì về hình thể nước nhà. Ông ta không tưởng tượng được rằng chỗ ông ta đến đây với chỗ đứa cháu cách xa như vậy, khác biệt nhau. Mỗi năm di dân chở lên Cao Nguyên rải rác đôi ba mươi địa điểm, càng ngày càng xa nhau. Ba năm rồi, ông ta làm sao đến chỗ đứa cháu cho được.

Tuy nhiên, đêm nay ông ta vẫn còn nói về trâu, cá, vùng lầy Thẩm Trạch, và tranh.

Cả chó cả chủ bị đuổi ra xa bếp lửa, nhưng người chủ tìm được mấy kẻ thích nghe chuyện chó. Họ nghe, cười vui vẻ, không nghiêm khắc ghét bỏ đối với con chó nữa: “Mấy ông để ý coi, con chó nó biểu lộ tình cảm bằng cái đuôi. Khi mừng nó đánh đuôi rộng vòng, nó quơ đuôi có vẻ huênh hoang. Khi sợ hãi lo lắng nó quơ đuôi nhanh, rối rít, mà hẹp vòng, coi bộ tíu tít. À, này: mừng rỡ thì nó quơ đuôi cao, lo lắng nó quơ đuôi thấp xuống; khi nào sợ hãi quá nó quơ sát đít, giữ riệt lấy đít, che lấy đít. Mình để ý cái đuôi nó, ít lâu quen đi, mình thấy nó diễn tả rõ ràng lắm, cũng như trông qua vẻ mặt con người. Người ta biểu lộ bằng con mắt, nét mặt; chó, bằng cái đuôi. Chỉ có cái đuôi chó mà thôi, không phải con vật nào có đuôi cũng vậy đâu. Con bò, con ngựa, con mèo... đuôi chúng nó ngờ nghệch, khờ khạo, câm điếc, có biểu lộ gì đâu... Con heo, vâng, bà nói con heo, tôi đồng ý phần nào. Con heo khi ăn ngon, cái đuôi nó có tỏ ra sung sướng. Nhưng còn các tình cảnh khác? Nghèo lắm...”

– Ðuôi chó là nhất.

– Không sao? Cái đít của nó cũng hay nữa...

– A!

– Khi mừng rỡ, nó cao đít. Khi lo sợ, nó hạ mông xuống. Sợ quá thì nó hạ thấp, lết đít sát đất, nó không đi, nó bò tới, trườn tới.

– Từ nãy giờ chỉ nghe ông nói có mừng với sợ. Chó như vậy...cũng “nghèo” lắm.

– Nó thông minh chứ. Ông để ý coi: khi nào nó vừa làm cái gì bậy, mình gọi nó, nó nằm xuống sát đất, vừa lết tới vừa rên ư ử, như van nài, năn nỉ. Nếu xem chừng được tha thứ, không bị đánh, nó rúc đầu vào lòng mình, nó nịnh nọt. Nghe tiếng gọi của mình nó biết phân biệt chuyện lành chuyện dữ, lúc giận lúc vui. Ngay đến con người ta, cũng phải là người tinh ý mới nhận được...

– Ông nói một hồi, chó với người lẫn lộn hết.

Ông già Năm, có vợ nhỏ, đã mon men đến bên cạnh ông già có cháu ở Ban-mê-thuột. Xung quanh hai người, kẻ khác tản dần ra.

Khi mở sợi dây buộc, lấy ra tấm vạt giường, rút chiếc chiếu, cái chăn, trải ra đất để đặt một đứa bé nằm xuống ngủ, các người đàn bà lại sụt sịt khóc. Những cái ấy động tới là nhớ nhà nhức nhối không chịu được. Như động tới nước là lạnh.

Bên ngoài trại, sương muối xuống trắng xóa. 

Sau bữa ăn, người con trai đi lảng một mình ra ngoài trại. Thơ thẩn một lúc gần đó, rồi đi lần ra xa. Anh ta ngồi xuống một gốc cây. Lúc sau buồn buồn, anh ta rờ rẫm vỏ cây, lượm mấy miếng dăm đưa lên mũi ngửi, cúi xuống nhìn kỹ khúc gỗ, và đoán chắc mình đang ngồi trên một gốc cây cầy.

Tại sao chưa thấy người con gái đến tìm? Dễ có tới hai mươi phút, anh ta ngồi một mình, ngoài sương. “Còn làm cái quái gì trong đó? Chén rửa rồi, đĩa bát cất rồi... nó còn ở làm gì trong đó?” Mỗi lúc cơn giận mỗi lớn lên.
Anh ta không hẹn, lánh đi không báo trước, nhưng yên trí là người con gái sẽ phải tìm đến với anh. Họ vẫn lặng lẽ tìm nhau tách khỏi mọi người như thế, không cần ai nói với ai, rủ rê ai. Sự chậm trễ của người con gái làm anh ta hờn giận. Anh ta muốn đứng dậy bỏ đi xa tận cuối khoảnh đất trống, đến trèo lên chiếc xe ủi đất đàng kia mà ngồi ẩn trong đó. Như thế cho bõ ghét. Người con gái sẽ lạc trong sương mù, lo sợ, khắc khoải, mà không dám gọi kêu.

... Một năm rưỡi trước đây, một hôm người con trai tát nước ngoài đồng, miếng cỏ lát trên cái bờ con mới đắp dưới chân sụt thình lình, anh ta ngã chúi xuống sòng nước. Cây nọc tre xóc vào dạ dưới, làm rách bàng quang. Y tá băng bó, rồi kêu là bị “hư đường tiểu’, phải đưa gấp đi bệnh viện tỉnh. Gia đình anh ta đâu có còn ai; đứa em gái con ông chú theo anh để săn sóc.

Bệnh viện tỉnh gồm mấy dãy nhà lợp tôn, xây cất trên những nền xi-măng cũ đã lở lói. Trên nền ấy, trước chiến tranh, là những tòa nhà kiên cố gồm thành một khu bệnh viện đầy đủ tiện nghi. Hai anh em vào đến đấy lúc một giờ chiều ngày chủ nhật, ngơ ngác trước quang cảnh vắng vẻ. Một người con gái thình lình từ trong một căn phòng mở cửa bước ra, trông thấy, tiến đến nhìn nạn nhân nhắm nghiềm mắt được khiêng trên một chiếc võng. Người con gái vội vã xô cửa vào phòng. Lát sau, một ông cụ già mặc pi-gia-ma mang dép Nhật bước ra. Ðó là bác sĩ giám đốc bệnh viện.

Ở phòng giải phẫu ra, bệnh nhân được đưa về một gian phòng có ba mươi lăm giường bệnh. Theo sau chiếc băng-ca đưa anh vào đó, thoạt tiên cô em gái trông thấy ngay một bệnh nhân đã già, gầy còm, da đùn lại nhiều chỗ và sạm đen, đứng trần truồng, quay mặt vào vách, để yên cho một người đàn bà có lẽ là vợ ông ta dùng khăn lông ướt lau cẩn thận khắp người. Cảnh ấy diễn ra trước sự thản nhiên của mọi người.

Khi các y công chuyển bệnh nhân từ băng-ca sang giường thì cô em gái nhận thấy rằng dưới tấm chăn anh mình cũng lõa lồ. Một ống cao su-nhỏ hơn ngón tay út chuyền nước tiểu từ bàng quang xuống một chiếc hũ nhỏ treo lủng lẳng bên giường. Trong cả phòng bệnh chuyên về khoa tiết niệu này, hầu hết mỗi bệnh nhân đều có một chiếc hũ như thế bên giường. Và sau cuộc giải phẫu ai nấy đều lõa lồ phần dưới. Bệnh nhân thiêm thiếp mất vài ngày, rồi trong tuần lễ sau đó vẫn cần người đỡ trong những nhu cầu bẩn thỉu.

Anh con trai nằm ở bệnh viện hơn ba tháng, chịu hai lần giải phẫu. Từ nhà ra đi cô em gái không tưởng tượng được rằng việc săn sóc bắt buộc một sự tiếp xúc tối cận với thân thể của bệnh nhân như vậy. Ba tháng trời gồm những ôm đỡ bồng bế, những lau rửa khắp các chỗ kín, những nưng niu đêm ngày...

– Cô em nhớ tới cặp mắt của người con gái nọ đã nhìn nàng khi nàng vừa đưa anh vào đến nhà thương. Người con gái mà sau này nàng biết không phải là một y tá trực. Ðó là cô con gái bác sĩ giám đốc. Cô gái nề nếp ấy nhìn nàng ngạc nhiên, thương hại. Nghĩ đến cô gái ấy, nàng khó chịu gờn gợn, có cảm tưởng mình lầm lỗi. Nàng cố ý lánh mặt, để không bao giờ gặp lại cô ta.

 Còn những người khác trong phòng – bệnh nhân và người nuôi bệnh – khi đã biết mối liên hệ giữa hai anh em, đều ái ngại. Nhưng tất cả ở đây đều là dân nghèo, dân làm ăn như nhau, ai nấy thông cảm những cảnh ngộ ngặt nghèo. Và thực ra lắm khi đạo lý cũng không được tôn kính đúng mức. Nhiều lần, có những người đàn bà nói xa nói gần, trêu đùa nàng. Như thế, nàng cảm thấy như được tha thứ, khuyến khích.

Nhưng người con trai thì không. Anh ta không đầu hàng cảnh ngộ dễ dàng. Anh ta cự nự, phản kháng. Anh ta muốn phân trần, muốn cải chính, muốn đánh bạt mọi ý nghĩ xấu trong đầu óc mọi người xung quanh. Anh sai bảo dõng dạc, xưng hô mày tao với đứa em. Cô em gái thấy rõ người anh nghiêm khắc, rắn rỏi hơn bao giờ hết. Tuy nhiên cô ta cũng thấy mỗi lần đụng chạm nhau anh ta mềm nhũn và run lên trong tay mình. Cô ta biết chắc hơn ai hết những gì sẽ đến cho cả hai người.    
  
Sau ba tháng rưỡi, người con trai lành bệnh, họ trở về làng, nhưng họ không thể tiếp tục sống trong làng nữa. Và bây giờ, mặc dù đã ra đi xa làng cũ ba trăm cây số rồi, anh con trai vẫn cứ e thẹn, mập mờ. Anh ta vẫn tiếp tục cự nự, chống lại cảnh ngộ...

... Cơn giận ùn ùn bốc lên. Anh tưởng tượng mình đứng lên rời bỏ gốc cây, tiến xa về phía chân rừng. Như thế nguy hiểm, anh biết. Ở đây, thú dữ có thể quanh quẩn sát trại. Nhưng thú dữ, cọp beo hãy cứ vồ anh, xơi thịt anh. Anh không cần. Ðể cho người con gái tha hồ ân hận về sự hờ hững vô tình của cô ta lúc này. Cô ta phải khổ sở, thật khổ sở mới đáng. Phải thất tha thất thểu tìm kiếm, lo sợ, hãi hùng...

Những ý nghĩ tàn bạo làm cho anh thỏa mãn một cách đau đớn. Và sự tàn bạo như lửa thêm dầu vào cơn tức giận.

Có tiếng chân khua động sau lưng. Anh quay đầu. Người con gái dừng lại. Anh tiến đến gần. Người con gái để một tay lên ngực, thì thào:
– Anh đó hả? Trời, em hết hồn.

Anh con trai không nói. Người em hiểu ý liền:
– Em tìm từ hồi nào đến giờ. Trời ơi, xứ gì mà sương xuống dày đặc, cách ba thước không trông thấy gì hết. Em tưởng chuyến này lạc vô rừng, cọp tha rồi...

Anh con trai làu nhàu gì trong mồm. Họ trở lại cùng ngồi xuống một gốc cây cầy.   
       
Từ phía trái có tiếng vọng ra:
        “Hồ nô đã biết đường xa thẳm,
        Lâu la tua nối gót lần dò (nghe).
        (Ấy ấy) chớ ngại ngùng núi rậm hang sâu
        Miễn thoát đặng dây oan lưới họa...
        (Hà à) Thoát đặng dây oan lưới họa
        Bước gập ghềnh dìu đỡ theo nhau”

Người con gái:
– Lại hát. Ðêm nào ổng cũng hát... Còn chỗ cho anh ngồi không? Cái gốc cây búa chặt lăm nhăm quá.

Nhiều sợi tóc cứng của cô ta quẹt lên cằm và mép anh con trai. Hông cô con gái ấn vào hông anh. Anh nói:
– Tuồng Tiết Cương chống búa hoài. Hôm nào cũng Tiết Cương chống búa. Hm...

Một ý nghĩ lồng lộn dữ dội trong đầu óc anh: “Nó chắc nịch! Nóng nổi và chắc nịch!”

        “Một đoàn tớ trước thầy sau
        Chim kêu vượn hú thêm đau đớn lòng.”

– Tiết Cương chống búa hả anh?

– Hừm! (“Nó nóng hổi”, người con trai vẫn ngồi cứng ngắc, khốn khổ).

        “Lao xao sóng vỗ cội tùng
        Gian nan là nợ anh hùng phải vay.”

– Anh không có thuốc để hút? Chưa lấy gói thuốc trong va-li ra sao?

Người con gái cho tay vào túi bên nầy của anh, rồi ngã người lên mình anh, chồm sang tìm kiếm trong túi áo bên kia. Lưng nó áp vào ngực anh, nóng hổi.       

Vào khoảng hơn một giờ sáng, Nguyên chợt thức giấc. Chàng khát nước; trong bữa cơm tối, người địa điểm trưởng ép chàng tới hai chén rượu thuốc. Thịt nai được chia khắp mọi người, cả di dân. Ăn xong, Nguyên ngủ vùi. Lúc chàng chợt tỉnh, đèn măng-sông đã tắt từ hồi nào. Hai ngọn đèn dầu lửa nhỏ chong ở đầu và cuối trại. Trại sáng lờ mờ.

Nguyên lắng tai nghe như có tiếng nước xối đều đều ở xa. Một ngọn suối đâu đây? Có tiếng gì như tiếng trống đánh bập bùng, xa lắm. Một vật gì rơi chạm vào một thùng phuy rỗng. Có tiếng gì như hai thanh gỗ đập vào nhau, lại có tiếng gì như ai mở một chai rượu vang, xa xa... Những tiếng động bất thường mỗi lúc mỗi có, không ngừng.

Nguyên nhận thấy ngay cạnh nơi chàng nằm có cái bàn con, trên để bình nước và chén. Chàng xách thử chiếc bình. May quá, còn nước. Chàng rót ra, uống vài hớp. Lạnh ngắt và chát: trà chế đậm quá. Chàng chịu, không thể tiếp tục uống hết.

Nằm yên trở lại một lúc, chợt Nguyên để ý, nhận ra rằng tiếng kêu vừa rồi không phải là nước suối, đó chỉ là tiếng ngáy của một người, có lẽ của nhiều nguời hợp lại. Người nằm ngổn ngang la liệt, cách chàng một vách ngăn chỉ có cây mầm cây trỉ mà chưa kịp trét đất cho kín. Ngay dưới ngọn đèn chong, một đứa bé vừa thức giấc húc đầu vào ngực mẹ, ngọ nguậy. Người mẹ gối đầu lên chiếc tráp gỗ. Gối như thế vừa quá cao vừa đau đầu, nhưng có lẽ bà đề phòng kẻ cắp. Ở góc kia có cái gì lồm cồm? A! con chó... Bấy nhiêu con người la liệt. Ngày mai thức dậy, họ lại mở mắt hoang mang. Hơn 128 nghìn di dân; đến cuối năm ngoái đã có 128.374 người như thế, 25 nghìn gia đình. Thành tích đó đã được trình bày bằng thông điệp trước quốc hội. Thành tích chỉ kể 48 nghìn mẫu đất được khai phá. Vị lãnh tụ không nói đến những gì khác, phiền toái hơn. 128.374 người này, kẻ được đưa tới những địa điểm chọn lựa để trồng trọt, mở mang kinh tế; họ sẽ thành công, no ấm, giàu có. Nhưng còn những kẻ khác, tới những địa điểm chọn lựa vì lý do quân sự? Sự có mặt của họ sẽ hữu ích: họ bành trướng khai khẩn lần hồi các vùng rừng núi hẻo lánh, biến thành những nơi đông đảo tấp nập, xua đuổi các sào huyệt cộng sản; họ sẽ canh giữ cương giới nước nhà, không để cho các nước láng giềng kiếm chuyện cãi vã mãi về lằn ranh bất phân ở cõi hoang địa không người... Chính phủ có lý do để rải họ đây đó trên đất này. Nhưng những địa điểm cần thiết ấy lại nghèo nàn. Mai sau số phận họ sẽ ra sao? Không thông điệp nào đề cập tới. Không hội nghị nào bàn cãi tới. Không ai nêu chuyện đó ra. Họ, những kẻ ra đi, không nghe nói tới bao giờ. Mà chính họ nữa, họ cũng rắc rối hết sức: kẻ ra đi vì một mối tình, người ra đi vì một mối thù... Rồi từng người, từng địa điểm sẽ ra sao? Nguyên tự thấy kẹt giữa cái ý định không tiện giải bầy phân trần của người lãnh tụ và những phức tạp phiền toái của quần chúng di dân. Cái ý định đặt người chủ trương vào một hoàn cảnh khó khăn phải che giấu. Chàng lẻ loi giữa cái như là tội lỗi của bên này và những lầm lỗi của bên kia. Chọn lựa người để đi thế này không tệ quá sao?

84 địa điểm kết thúc thành tích năm ngoái. Ðến giờ phút này, số người có lẽ đã trên trăm rưởi nghìn, số địa điểm có lẽ ngót một trăm. Nơi chàng đưa người đến hôm nay đây là thế nào? Ðược chọn vì lý do kinh tế hay vì lý do quốc phòng? Tương lai có chỗ âm u, bối rối.

... Ở chỗ góc trại, tối lờ mờ, con chó chồm tới chồm lui như giỡn với cái bóng. “Mọi người đều mê, một mình ta tỉnh”, con chó cô độc, Nguyên thầm nghĩ. Nhưng chàng chợt thấy nó bị một bàn chân đá vào mõm. Con chó ngừng lại, ngồi yên, nhìn chăm chú. Hai người chủ của nó trùm kín mền, ôm siết nhau, quằn quại trong sự thân thiết tận cùng. Ðêm đầu tiên lạc loài đến chỗ xa lạ lạnh lẽo này... chỉ có bằng cách ấy, họ mới tránh nổi sự xót xa cồn cào vì nhớ nhà cửa xóm làng, sự lo hãi hoang mang về ngày mai mờ mịt. Người chồng cúi đầu húc xuống cổ vợ. Con chó nhìn theo đống chăn mền lúc nhúc cử động. Nó ngạc nhiên, lại đưa chân khèo thử, ban đầu rụt rè...

Nguyên sực nhớ đến đôi anh em khốn khổ. Chàng đảo mắt tìm. Không thể nào phân biệt được họ trong đám người ngổn ngang lộn xộn.

Hồi lâu, Nguyên buồn ngủ. Chàng toan khép mắt thì một lằn sáng vụt di động làm chàng chú ý. Một người ngồi yên không biết từ lúc nào ở một góc trại khác vừa mới vứt mẩu thuốc hút còn thừa. Trong cử chỉ anh ta sửa soạn để ngả mình nằm xuống, chàng nhận ra người ấy tàn tật, cụt tay. 

1965


1 Về đề tài “Dinh điền”, tác giả có hai thiên truyện ngắn, cùng mang tên ‘Hoạt cảnh’. Đây là truyện thứ hai.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét