Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

Võ Phiến - Hoạt Cảnh II - Số 1


Sáu giờ khởi hành. Từ bảy giờ đoàn xe rời đồng bằng. Tám chiếc xe nối nhau lên đèo. Cứ tiếp tục leo, cho đến bây giờ là hơn mười một giờ.

Trời nắng gắt. Trong các xe, hết người muốn nói chuyện. Ai nấy đăm đăm.

Chiếc xe đi đầu bỗng dừng lại. Cái gì vậy? Một người đàn ông còn trẻ mở cửa xe, vọt tông ra, lao vào bụi rậm, ngồi sụp xuống vội vàng. Các xe truyền nhau giải thích vắn tắt về lý do phải dừng lại. Vài câu chế giễu. Mọi người thừa cơ hội, xuống xe đi tiểu, bước vài bước cho đỡ cuồng chân.

Năm phút sau, mới biết đây là một trường hợp bất thường. Người đàn ông ôm bụng, vật mình, mãi vẫn không đi tiêu được. Mười phút, mười lăm phút ... Hành khách ngồi ở hai xe đầu lao nhao. Người vợ mang thuốc tiến đến gần. Y tá ở xe chót được gọi lên.

Hành khách, tất cả, đã lên xe, ngồi xếp nguyên vào chỗ cũ, chờ đợi. Bên lề đường không có bóng cây lớn để trú nắng: một bên là sườn núi, một bên là hố thăm thẳm. Nóng hừng hực, ai nấy tháo mồ hôi ra như tắm. Trẻ con khát nước khóc um lên.

Nửa giờ sau nạn nhân càng quằn quại. Hai người đàn ông tới gần, không giúp đỡ được gì. Người khác ngồi trong xe nhìn ra chán nản.

Phía sau lưng Nguyên lại có tiếng cãi nhau về chuyện hút thuốc. Một người đàn bà có con nhỏ không chịu được khói thuốc bị xếp ngồi bên cạnh một người đàn ông hút liên miên. Giữa đôi bên đã xảy ra ba lần to tiếng. Người đàn bà, khổ người nhỏ nhắn xương xương, môi mỏng tím thâm, mắt quắc sáng đanh ác, sẵn sàng tấn công dai dẳng và can đảm bất cứ loại địch thủ nào. Bà ta nói không vấp những câu dài, lời độc. Người đàn ông hút thuốc còn trẻ, thấp lè tè nhưng vạm vỡ, vẻ chải chuốt mà lại tàn tật: anh ta cụt nửa tay trái. Anh ta trả lời vắn tắt, khinh thị. Nguyên liếc mắt theo dõi vẻ mặt anh ta trên tấm kính chiếu hậu. Chàng có cảm tưởng nếu bị quấy rầy quá đáng anh nầy có thể bất thần quai tay đánh ngay, dù là vào một người đàn bà. Anh ta không phải hạng người có thể kiên nhẫn chịu đựng. May mắn là giữa đôi bên có người chồng của bà nọ. Khi vợ quá lời, người chồng lên tiếng: “Thôi. Thôi đi. Uầy! Bảo thôi...” Giọng nho nhỏ, đều đều, không có chút liên hệ gì với những tiếng sai khiến quở mắng kia cả. Người vợ chắc chắn không chịu mệnh lệnh trực tiếp của những câu đó, tuy nhiên những câu đó xoa dịu tự ái của đối thủ, và báo hiệu cho người đàn bà biết là đã đến mức độ căng thẳng nguy hiểm để dừng lại.

Nguyên mở cửa xe, bước xuống. Chàng xem qua tình hình chung. Người ta kêu chàng, nài nỉ: “Ông đoàn trưởng. Ông cho các xe này đi trước lên Pleiku dừng lại, chờ. Tội trẻ con quá. Ai lại bắt mấy trăm con người chờ một người?” Chàng trả lời bên này một câu, bên kia một câu. Một ông già ở xe thứ ba bước xuống, chàng đến gần, xin đốt chung một điếu thuốc. Ông cụ nói: “Anh ấy đau bụng bão. Y tá không biết có làm gì được không.” Chàng đáp: “Ðể coi. Chắc rồi cũng bớt”. Ông cụ dò dẫm: “Không đi trước được sao thầy?” Chàng phân trần: “Không được đâu. Mình đi dài đường, nếu xe nào bất trắc đều bỏ rơi lại thì từ giờ đến chiều đoàn xe bị tản mác, chiếc bị pan ngưng chỗ này, chiếc bị kẹt nằm chỗ kia, làm sao liên lạc nhau được, ai biết đâu, ai chịu trách nhiệm lo cơm lo nước cho di dân từng nhóm như thế...” Ông cụ tuyệt vọng.

Ở xe thứ tư có chuyện rắc rối. Một con chó vừa phóng uế lên bộ chân đèn, bình phong và tam sơn. Chó của người này, đồ thờ của người khác. Người đàn ông chủ chó khom xuống, lơ quơ hai tay, nhưng không mó vào đâu:
– Những món này nên đưa lên trên... Ðáng lẽ phải đưa lên trên trần xe...

– Ðồ cẩn xa cừ, đưa lên trần phơi nắng để nó long, nó nứt ra hết hả? Chỉ có chó của ông là quí!

– Ấy là tôi muốn nói đồ thờ phượng mình phải cẩn thận, tôn kính, đưa lên cao.

– Còn cả sàn xe mát mẻ này thì để đấy cho chó của ông bà. Chó gì mà mới từ sáng đến giờ đã ỉa đái bậy bạ ba bốn lần. Rồi còn trây trét ra. Bộ vạt giường đó, các người phải giặt rửa sao cho kịp, tới nơi có chỗ cho con tôi nó nằm.

Một bà hành khách xen vô:
– Thôi chớ. Lên Pleiku nghỉ ăn trưa, phải đi kiếm nước rửa cho sạch, chứ bắt chúng tôi ngồi suốt cả ngày bên c... chó để ngửi à. Trời nắng, mùi nó xông lên thế này, vài giờ không nhức óc rồi hả.

Một ông hành khách:
– Khổ quá. Dân nghèo đi làm ăn, có phải giàu có gì mà đem chó theo giữ của. Trước khi đi, thết bà con trong xóm một bữa thịt có phải hay hơn không.

– Xe còn ngừng. Bà nầy thử bước xuống gần đây tìm coi có khe nước không.

– Thôi thôi. Ði tản mác, lúc xe chạy được lại còn phải chờ đợi...Khổ lắm.

Người đàn ông chủ chó lơ quơ một bàn tay trên bó vạt giường:
– Cái này đáng lẽ đưa họ chất lên mui xe. Ai nấy đều đưa giường lên mui hết.

– Phải. Thứ gì cũng đưa lên mui hết. Trừ chó.

Cười rộ trong xe. Người đàn ông dai dẳng:
– Không phải sao?

– Ông phải, nhưng chó ông nó không phải. Vạt giường thì giặt rửa được, nhưng bộ đồ thờ ông bà phải bồi thường cho chúng tôi bộ khác...

– Ðến nơi, chúng tôi sẽ đem rửa sạch.

– Trời ơi. Rửa sạch c... rồi bảo chúng tôi đem đặt lên bàn thờ hả. Các người làm được, chúng tôi không thể làm được...

– Bà không được hỗn.

Một ông hành khách tuổi chừng bốn mươi lăm, lớn vóc, rắn chắc, từ nãy giờ chưa nói gì, bấy giờ lên tiếng:
– Thôi, để thu xếp với nhau.

Miệng vẫn phảng phất một lối mỉm cười do dự, khiêm tốn, người ấy nói tiếp:
– Ðợi chờ như vầy làm gì. Anh ấy đau bụng có “đi” được đâu. Biết đợi tới chừng nào. Sao không đưa ngay anh ấy lên Pleiku, có nhà thương.

Ý kiến ấy gây sôi nổi. Một người hành khách ngồi băng trước, ló đầu ra ngoài cửa:
– Ông đoàn trưởng! Ðây! Ðây! Vâng, tôi đây xin thưa...

Nguyên đảo mắt tìm, trông thấy người thanh niên xòe bàn tay có những ngón thật ngắn, quơ lia lịa để gợi chú ý:
– Vâng, tôi đây, có ý kiến. Ông ấy đau bụng, có phải phát tả, muốn đại tiện đâu mà bắt đồng bào chờ. Lỡ đau bụng uất kết, ba ngày đi không ra cũng bắt tụi tôi chờ mãi đây sao hả. Cứ mời ông ấy lên xe mà lăn lộn, đi gấp tới bệnh viện chữa. Vả lại nếu là đau ruột dư, càng dằng dai càng nguy hiểm, được gì đâu.

Vài người sốt sắng, tông cửa xe nhảy xuống, tới bên Nguyên giải thích thêm. Họ nói có lý. Nhưng người bệnh thấy mình sắp “đi” được, và cần “đi” ngay mới thoát đau. Người vợ nài nỉ xin nán thêm chút nữa.

Một người đàn bà ở chiếc xe nào mãi tận cuối đoàn, chạy lên kêu gọi:
– Bà con ai có nước sôi đem theo, cho tôi xin chút xíu. Pha sữa cho con... Dạ... pha sữa ạ.

– Sao lại nước sôi?

– Nước nong nóng cũng được. Bà con cho tôi xin. Thằng nhỏ khát, khóc ngất.

Không ai nói gì. Nguyên đến từng xe can thiệp:
– Ai có nước? Ai có mang nước theo?

Có người gọi lớn:
– Ông đoàn trưởng ơi! Xong rồi. Chịu đi rồi kìa. Xin bà con lên xe...
Người tài xế uống thêm một ngụm cà-phê nữa, rồi đậy bi-đông, vặn nắp kỹ, nổ máy.

– Qua khỏi đèo Mang Yang ai muốn đau gì tha hồ đau.

Nguyên bật cười:
– Nói vậy chứ có người đau đẻ như chuyến trước cũng khó chứ.

– Á, cái đó chuyến này chưa chắc khỏi, ông ơi. Sáng nay tôi thấy có mấy cái bụng cũng bự lắm. Ði đường này, xe xóc cho một ngày, con nó đòi ra sớm cả tháng...

– Trông cho bọn Mỹ nó làm chóng xong...

– Còn lâu, ông ơi. Nay nó còn xay đá, đúc cống, chưa nói gì tới đường. Á, mà tôi để ý thấy nó bỏ cầu làm cống hết. Nhiều ống cống bự hết sức...

– Nó có lối riêng của nó, khác với Pháp hồi kia... Ðoạn đường này coi heo hút quá. Không biết bên kia dãy núi có người ở không.

– Ông nói bên phía tay mặt đây hả? Có chứ. Dưới kia, đi khỏi An Khê một lúc tới Krong Kotu. Tôi không nói ở ngay bên đường đâu; cách xa, bên phía tay mặt đó. Rồi lên cao nữa là De Kret Krot.

– Làng thượng hết hả ông?

– Thượng ở hết. Mọi trên đây, coi khéo lắm ông ơi. Mọi Vân Canh Vĩnh Thạnh còm cõi xấu xí, chứ ở trên này coi đứa nào đứa nấy nở nang, tốt con lắm.

– Ðất tốt người cũng tốt ra. Có vậy mới đưa đồng bào ở dưới kia lên đây.

– Hai năm nay tôi thấy ông đi luôn. Chuyến nào cũng ông hả? Trở lại chuyện đàn bà đẻ. Ông còn nhớ hôm có người đẻ ngay tại văn phòng ông quận Hòa Quí đó không?

– Năm ngoái hả.

– Phải rồi, năm ngoái.

– Có nghe nói, nhưng tôi không đi tới quận. Quận cử người đưa đồng bào về tỉnh. Tôi đưa từ tỉnh đi.

– Hôm đó, tôi gặp xui đủ thứ, ông ơi. Xe tới quận từ hồi năm giờ sáng. Ðồ đạc vừa chất lên, bà nọ phát đau bụng. Ðau bụng đẻ rõ ràng mà ông quận cứ kêu không phải, bảo chờ bà nọ dứt cơn để lên xe đi. Chờ hoài chờ mãi. Càng chờ càng đau. Sau cùng, đến khi bà ta vỡ đầu ối ra, quận mới chịu cho xe chạy và đi kêu cô mụ...

– Quận muốn đưa bà nọ ra cho khỏi...

– Tôi biết lắm mà. Gia đình ấy bán cái nhà được trăm rưởi bạc. Cái nhà trăm rưởi, vậy mới thảm chớ. Hai vợ chồng, hai đứa con nhỏ rồi, lại đẻ thêm đứa nữa, mà trong tay chỉ có tất cả trăm rưởi bạc. Khổ cho ông quận lắm đa! Ổng muốn đưa cái gánh nặng đó về tỉnh...

– Nhưng trước khi tới...

– Phước nhà bà đó còn khá. Chuyến đó mà bà ta bước lên xe thì nguy đa. Ông biết không? Xe vừa ra khỏi quận bốn cây số thì sụp mẹ nó ở cầu Ðình. Cái cầu sạp tre ọp ẹp quá, đã cho hành khách xuống xe hết mà cầu chịu cũng không nổi. Gãy bộ nhíp, bể đít xe...Từ chỗ sụp xe ra tới quốc lộ non mười cây số... Tôi muốn khóc bữa đó...

– Bác có biết cái bà đẻ có phước đó rồi ra sao không?

– Không.

– Ðẻ ra, con chết. Mẹ sản hậu, rồi cũng chết luôn.

– Tại quận hả?

– Chớ còn tại đâu. Chuyến đi đó là chuyến chót năm ngoái. Hụt chuyến đó là hết rồi. Nhà bán mất, cha con ông đó biết về đâu. Thành thử ông quận Hòa Quí nuôi họ gần một năm. Họ mới đi chuyến đầu năm nay.

– Cũng ngặt chứ, ông.

– Ngặt chứ. Nhất là ông quận phải chạy tiền đủ cách. Làm gì có ngân khoản đài thọ cho gia đình di dân ăn nằm cả năm tại quận!

– Hì.ì.ì. Chỗ quẹo này đây. Không biết hôm xe trụt tháng trước ông ngồi xe nào?

– Ðúng trên cái xe ấy đấy.

– Thằng Tư Quang, thằng đó tay lái nó vững lắm a!

– Nhưng anh ấy không bình tĩnh đâu nhé. Hôm đó tôi ngồi sát cửa ca-bin, cũng như hôm nay. Ðang đi số hai, xe mất trớn, ì ạch tiến không nổi, dốc đứng quá, anh ta bỏ xuống số một. Ăm-bai-da không ăn. Tuột gai nghe rẹt rẹt. Xe bắt đầu trụt. Tôi trông thấy anh Tư anh ấy quýnh lên, mặt cắt không còn hột máu, tay chân luống cuống. Hành khách ai nấy đều thấy rõ. Họ la um lên: “Chết! Chết!” Nghe kêu đánh ầm một tiếng tôi tưởng chết thiệt rồi, không ngờ may quá. Theo tôi hôm đó là hoàn toàn nhờ may. Ðít xe tông vào tảng đá đó là cái may vậy thôi, không phải do anh Tư cố ý lái đâu. Tôi biết anh Tư thất thần rồi.

– Vậy mà hè hụi cũng ngót tiếng rưỡi đồng hồ mới đi được...

– Hôm đó rớt xuống hố thì là bốn mươi sáu mạng.

– Buồn cười là xe cứ nổ máy rồi tắt. Xúm nhau tháo mở trước máy, coi bơm xăng, lọc xăng v.v... Không thấy có gì hỏng cả. Tức muốn chết. Rốt cuộc coi lại thì là chỉ do cái ống khói xe bị bẹp trít lại, không có lối cho khói thoát ra... Dạ vâng. Thành thử xe bệnh sau khu mà cứ chữa trước đầu...

– Hôm đó, lên tới nơi rồi các bác quay về liền...

– Về liền. Ði đêm. Ủa! chuyến về không có ông sao?

– Ðâu có. Ðêm đó tôi khổ tới chết...

– Lượt về bọn tôi gặp may. Xổ đèo gần hết rồi, xuống tới Vĩnh Thạnh lại cán được một đàn heo rừng...

– Vậy hả?

– Ba con: một mẹ, hai con. Còn bao nhiêu nó kêu eng éc chạy lung tung, mình không làm gì được.

– Vậy hả? Còn tôi, đêm đó tôi cũng bị kẹt, một mẹ hai con! Lên gần tới Plei-Piom I thì một bà chửa ôm bụng kêu đau. Hỏi mấy tháng, bảo mới có bảy tháng rưỡi. Tôi ngờ bị tai nạn xe vừa rồi động thai, không khéo có thể nguy. Nhờ mấy người đàn bà trong xe coi giùm cho, ai cũng nói chưa đẻ được. Vậy mà tới Pleiku xe vừa ngừng là đứa con tuột ra. Không kịp tới nhà thương. Chao! từ bé tới lớn tôi chưa biết lo việc đàn bà đẻ bao giờ. Mà sau này vợ mình sinh nở cũng chưa chắc mình cực như vậy...

– Bà đó có chồng chớ?

– Trời. Từ cha sanh mẹ đẻ ông ấy mới ra khỏi làng lần đầu tiên. Lên đây ông ấy biết đâu xoay xở. Tới chừng bà vợ được đưa vô nằm nhà thương rồi, ông ấy theo níu tay tôi, nói: “Tôi với một vợ và hai đứa con phải ở lại đây ít ra là mười lăm ngày. Hiện trong túi chỉ có tám chục đồng”. Tôi chạy được cho ông ta một bao gạo...

– Mình quanh đi quẩn lại, toàn gặp chuyện đàn bà đẻ!

– Hì.ì... Nè, gần tới Plei-Piom I rồi.

– Chỗ này hồi trước người ta kêu Trà-dôm. Tôi chạy xe đường này cũng nhiều.

– Trà-dôm?

– Trà-dôm thôi. Không có một, hai, gì hết. Ðặt ra Plei-Piom I, Plei-Piom II là do mấy ông Dinh điền. Pleiku, thiệt ra người mình gọi là Trà-cu.

Không có tiếng Nguyên đáp lại. Một người di dân già ngồi gần bên xen vào:
– Ông nói phải. Plei là Tây nó nói. Còn người mình vẫn kêu là Trà: Trà-cu, Trà-dôm.

Nguyên bảo:
– Không phải Tây đâu. Tiếng thượng du hình như Plei có nghĩa là làng đó.

– Làng Cu, Làng Dôm? Dôm là chữ Piom đọc trạnh ra. Mỗi ngày mỗi sai lạc hết. Sau này đố ai biết...

Người tài xế:
– Ở Quảng Ngãi có chỗ Trà Bồng, cũng thượng du. Trước, có ai kêu Plei Bồng không?

– Ừ. Không biết. Có lẽ mỗi nơi một khác...

Một lúc sau, người di dân già lên tiếng:
– Ra đi cả gia đình chỉ có tám chục đồng. Tệ thiệt. Xã tôi kỳ này đi một trăm bốn mươi ba người cả thảy. Các tài hào góp được hăm ba ngàn một trăm sáu mươi lăm đồng, tặng di dân. Tính chia đều mỗi đầu người cũng trên trăm sáu bạc. Thưa ông đoàn trưởng, có lẽ xã tôi khá hơn hết đấy...

– Vâng.

Người tài xế:
– Ông đoàn trưởng muốn ngủ. Ðể ông ấy ngủ một chút.

Nguyên mở mắt, mỉm cười. Người tài xế:
– Ngủ được cứ ngủ chứ. Ði xe giấc trưa nắng này, đầu nặng chình chịch, thường ngủ tỉnh thế đấy.

Nguyên trở mình, rút cánh tay thò ra ngoài bị nắng đốt nóng vào. Nụ cười trên môi chàng biến hình nhanh chóng.

Tiếng ông cụ già:
– Nhà cửa đây rồi.

– Trà-dôm đó.

– Nhà cửa đàng hoàng quá chớ.

– Ðịa điểm này thành lập sớm.

– A! Cây “náp” đấy hả?

– Ðâu? Không phải kénaf đâu. Su đó mà. Ðể luộc ăn.

– À. Cây bắp sú!

Người di dân già quay về phía sau gọi:
– Bắp sú đấy kìa. Thấy không?

Mọi người lặp lại:
– Bắp sú... bắp sú...

Xe ngoặc mạnh ở một góc đường. Nguyên mở mắt, trông thấy người tài xế bẻ lái với một tay, dựa nghiêng về phía ngoài cửa, thoải mái. Hai hàng chân mày rậm bất động một lúc lâu.

Thiếu nữ chừng mười bảy tuổi.

Người con trai có lẽ trên hai mươi. Trên xe, họ ngồi cách nhau vài ghế. Không nghe thấy họ nói gì vớí nhau. Lâu lâu, không ai để ý, cô con gái vòng tay ra phía sau lưng ghế, đưa cho anh con trai một viên kẹo bạc hà. Lên tới Pleiku, xe ngừng, họ ăn cơm chung với nhau. Gói cơm cô gái vắt thật chặt, bóp nhuyễn, cắt ra ngon lành như bánh đúc. Họ ăn cơm vắt với thịt gà quay. Bữa ăn không chút gì nghèo nàn. Có sẵn một gói tiêu hột và ớt trái; người con trai ăn thật cay, cắn nguyên một trái ớt mỗi lần.



Ăn xong, thiếu nữ rửa chén dĩa, rồi nhặt nhạnh thu dọn những cái lặt vặt: gói cất những hạt tiêu còn lại, dẹp vứt lá chuối và giấy gói cơm v.v... Anh con trai bảo:
– Ðể đó tao. Mày sửa soạn rồi đi quanh một vòng cho biết thành phố.

Cô con gái có nghe, nét mặt hớn hở lên, nhưng tiếp tục thu dọn cho đến xong. Người con trai đứng dựa lưng vào cây thông bên lề đường, vừa xỉa răng vừa nhìn xuống mái tóc, rồi nhìn xuống cổ tay người con gái.

Anh con trai tóc đen và cứng, khuôn mặt đẹp một vẻ rắn rỏi, da ngăm ngăm đen, thật nhiều mụn. Anh ta cao vụt lên nhanh quá, nên áo quần ngắn cũn cỡn, để ló ra những cổ tay cổ chân to, khỏe mạnh. Mép đỏ lên vì những trái ớt cay mới vừa ăn xong. Anh ta đứng yên lặng nhìn theo người con gái mà anh kêu “mầy”.

Cô gái mặc đồ cụt vải ba-tít, có hoa lấm tấm nhỏ xíu. Ðặc điểm của cô ta cũng là món tóc. Tóc thật dày, thật đen và cứng, bỏ xõa nửa lưng, lăn quăn dợn sóng tự nhiên. Dọn dẹp xong, cô ta đứng lên, quặt một tay ra sau, cẩn thận kéo vạt áo xuống. Cô ta nhìn lên người con trai, kín đáo, chợt sực nhớ:
– Hết thuốc hút rồi hả? Em cất gói thuốc của anh trong va-li.

Người con trai thong thả:
– Thôi. Khỏi.

Cũng như nhiều người khác, trong lúc xe nghỉ tại đây một giờ, họ đi thăm thành phố. Không cần xếp đặt, cô gái đi trước một khoảng đường rồi người con trai mới đi theo. Họ thẹn như những cô cậu học sinh. Nhưng không ai có thể lầm về cái nhìn của người con trai hướng về mái tóc dày và đẹp.

Họ khốn khổ. Vì là anh em con chú con bác.

Một người thanh niên mau miệng năm bảy lần đến mách với Nguyên về cặp ấy.

– Chúng nó khai chung một gia đình trong danh sách.

Chàng nói:
– Cái đó, thường. Di dân kể theo đơn vị gia đình. Nhiều người trong xóm với nhau, không bà con cũng có quyền ghép thành gia đình cho tiện. Không ai xét nét gì về liên hệ trong những gia đình di dân.

– Vâng... Hai đứa nó mồ côi hết. Nhưng ở dưới đó còn có bà con cô bác... Nè, ông đoàn trưởng để ý coi: mỗi lần tôi tới bên cạnh ông là lão già cứ len lét quanh quẩn đến gần, rình mò... Lão kìa...


Chàng để ý coi và quả thực vậy. Ðó là ông già nóng nảy đã đến đòi chàng cho các xe đi trước, bỏ lại người đau bụng ở lưng đèo.

Ông ta lén lút ném những cái nhìn đe dọa, hằn học, về phía người thanh niên bẻm mép. Ông ta nghi kỵ ra mặt. Tuy vậy gã vẫn tìm được cách gạt được ông già để thuật với chàng đủ câu chuyện.

Ông già không phải là di dân tình nguyện. Nguyên ông ta là người có đạo. Có của cải, gia tư trung bình. Mấy năm nay ông ta gian díu với một người đàn bà góa, ăn ở coi như vợ bé. Người vợ lớn đem việc đó ra kêu nài với cha sở. Cha sở sau nhiều lần khuyên răn không có kết quả bèn thương lượng với quận trưởng. Ban đầu người ta hứa hẹn với ông già rằng gia đình ông đi đợt trước, gia đình người vợ bé sẽ được đi đợt sau, lên đây đâu lại vào đó. Ông già ưng ngay. Chừng lên tới dinh điền, chờ mãi không thấy vợ bé, ông già lăn ra đòi về. “Ông già làm dữ lắm a. Hôm phái đoàn tổng ủy ra thăm, ông ta nhịn đói để tranh đấu. Thấy không ai đếm xỉa gì, ông ta trốn về làng. Thì ra là người vợ bé đã bị đưa đi địa điểm khác rồi. Nghe nói tận Ban-mê-thuột, nhưng không ai biết rõ. Lần này trở lên đây không chừng ổng trốn luôn lên Ban-mê-thuột a. Tìm nhau góc biển chân trời mà. Thưa ông, theo nguyên tắc, lần này ông già đâu có được đi xe di dân do chính phủ đài thọ. Chính phủ cho đi một lần thôi, ông ấy lộn về rồi phải chịu khó xuất tiền ra đi chứ... Trời, tôi làm gì mà ông lườm tôi dữ vậy? Ông tưởng tôi kể chuyện ông hả. Chuyện ông ai không biết? Ông đoàn trưởng đang nói về bà Ba đấy, ổng hỏi tôi, tôi trả lời. Ông lại đây hỏi thăm chuyện Ban-mê-thuột đi”.

Người thanh niên đã nói trộm được hết câu chuyện, không sợ bị ngăn cản nữa, bây giờ lại gọi ông già đến để ghẹo:
– Nè! Rồi ông đoàn trưởng đi Ban-mê-thuột đấy, ông nói kỹ nghe, rồi nhờ ông đoàn trưởng dò tung tích bà Ba cho. Bà ấy năm nay băm lăm băm sáu chớ mấy, phải không? Coi được mắt lắm. Ăn mặc thì toàn ny-lông. Tôi biết rõ, từ hồi phải lòng ông Năm đây bà ấy mới đi đạo chứ trước kia bà Ba vẫn đi chùa. Vô chùa, bà ấy ăn mặc ny-lông mỏng thấy da. Mỗi lần bà Ba bước vô chùa tượng Phật đang lim dim bỗng sụp mắt xuống, nhắm khít mắt, nhắm nghiền lại. Thưa, như vậy chí phải. Nếu ngài lỡ nom thấy cái gì loáng thoáng sau lần vải ấy thì có hại ghê gớm cho sự tham thiền nhập định. A, rồi bà Ba mà lướt qua trước điện một cái là tôi thấy Phật chun mũi lại ngay. Vạt áo bà ấy phất qua thơm lắm kia. Tôi dám chắc dân làm ăn ở dinh điền không có mấy cô được vậy đâu, ông đoàn trưởng mà có lòng tìm giúp thì thế nào cũng được ngay. Ha... ha... Ông Năm đây hả? Ông Năm chừng lục tuần chứ mấy. Trẻ chán mà. Vật trâu còn ngã chán mà. Mai sau Chúa có thương cho lên thiên đàng thì cho lên cả cặp, chứ chơi cái kiểu so le như đi dinh điền nầy thì Chúa có nắm tay níu lại ông ta cũng vùng ra tiến đi. Nhiều người tham lam lắm, nghe nói được lên thiên đàng cứ tưởng tượng có thêm hai cánh thiên thần. Tôi có hỏi ý kiến ông Năm rồi, ổng không cần gì tới cánh. Cứ xin cho ổng giữ nguyên trọn các bộ phận thân thể này mà lên trên đó, vậy cũng đủ rộn chuyện lắm rồi. Xin đừng bớt đi bộ phận nào. Cha sở dưới này đâm mệt với ổng, nhất định Chúa giải quyết tài tình hơn.

Ông Năm, lưng có hơi khom, nhưng chắc chắn không phải vì tuổi già. Ông ta mặc Âu phục. Bàn tay bàn chân sù sì thô kệch, rắn chắc. Cái suy yếu chỉ có cặp mắt bắt đầu lem hem. Hễ chú ý về đâu là ông ta nhíu mắt lại ti hí, và hai nét nhăn lớn nổi lên ở gốc sống mũi, chỗ hai hàng chân mày giao nhau. Nhưng cặp mắt hơi yếu kém ấy lại thường lườm nguýt; như thế điệu bộ ông Năm lắm lúc như là đàn bà, thật buồn cười.

Ông Năm nguýt, người thanh niên cười ha hả. Ông ta nguyền rủa:
– Ðồ trời đánh.

(Còn tiếp một kỳ)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét