Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Lê Mạnh Hùng - Chiến tranh thuộc địa và sự tự tử của Châu Âu


Thứ ba tuần này đánh dấu đúng một trăm năm ngày Ðại Chiến Thứ Nhất bùng nổ. Ðó là ngày mà pháo binh và tầu chiến của đế quốc Áo Hung trên sông Danube bắt đầu pháo kích vào thủ đô Belgrade của Serbia mở đầu một cuộc chiến kéo dài bốn năm rưỡi mà hậu quả làm thay đổi toàn bộ lịch sử thế giới trong thế kỷ thứ 20.

Cuộc chiến làm tan rã một số những ảo tưởng giải thích tại sao các bên tham chiến lại hung hăng muốn nhảy vào chiến tranh như vậy.

Ảo tưởng thứ nhất là chiến thắng có thể đạt được một cách mau chóng và dễ dàng. Ðức hoàng Wilhelm Ðệ Nhị tuyên bố với binh sĩ trước khi xuất chinh “Các bạn sẽ trở về nhà trước mùa lá rụng.” Kế hoạch của Ðức là đánh bại Pháp trong vòng 42 ngày. Phía Pháp và Anh thì khiêm tốn hơn, chỉ hứa hẹn binh sĩ rằng họ sẽ trở về nhà kịp để ăn Giáng Sinh.

Ảo tưởng thứ hai của những người tiến một cách tự hào vào cuộc chiến là họ nghĩ rằng chỉ có họ bắn địch chứ bên địch không có khả năng bắn lại, hay ít nhất là không bắn lại được một cách hữu hiệu. Nếu không nghĩ như vậy thì ta không thể nào giải thích tại sao cả hai bên đều không đội nón sắt. Cũng như không thể giải thích tại sao hàng triệu lính Pháp và lính Áo ra trận mặc những bộ quân phục xanh đỏ lộng lẫy chói mắt. Vào lúc khởi đầu cuộc chiến, quân đội cả hai bên đều sắp hàng tiến đều bước về phía địch quân như đi diễn hành coi như là bên địch không có súng nào để bắn vào mình.

Không phải là các tướng lãnh thời đó không biết đến sức mạnh của vũ khí mới cũng như tác dụng các các công sự phòng thủ. Chỉ cần quan sát một cách đôi chút cặn kẽ cuộc chiến Nga Nhật và chiến dịch Nhật đánh chiếm Lữ Thuận (Port Arthur - nay là Ðại Liên) của Nga là đủ thấy tầm mức tác hại của khẩu súng máy và các công sự phòng thủ. Nhưng những người chỉ huy quân đội các nước trong Thế Chiến Thứ Nhất lại quên những chuyện đó và chỉ nhìn vào những trận đánh trong đó chiến thắng thì dễ dàng và mau lẹ vì đối thủ không có bao nhiêu hỏa lực để phản kích. Năm 1914, Châu Âu hầu như không có một cuộc chiến lớn nào trong suốt bốn mươi năm và ngoại trừ Nga, tất cả các tướng lãnh các nước đều chỉ có kinh nghiệm các cuộc chiến thực dân tại Châu Phi hoặc Châu Á trong đó các đối thủ chỉ có giáo mác và súng thô sơ chống lại các đội quân Châu Âu trang bị vũ khí hiện đại.

Erich von Falkenhayn, tổng tham mưu trưởng quân đội Ðức trong hai năm đầu, vốn là tư lệnh đạo quân quốc tế đánh vào Bắc Kinh năm 1900 để dẹp cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Ðoàn. Robert Nivelle, tướng tư lệnh mặt trận miền Tây của quân đội Pháp và người cầm đầu một chiến dịch tấn công của quân đội Pháp năm 1917 dẫn đến 120,000 lính Pháp chết và bị thương chỉ trong vòng vài ngày và kích động một cuộc binh biến trong đó binh sĩ từ chối không tuân lệnh ra trận tham dự các cuộc chiến chinh phục của Pháp tại Việt Nam và Algeria. Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, J.C Joffre tham chiến tại Việt Nam và Madagascar cũng như chỉ huy một chiến dịch đi qua sa mạc Sahara để chinh phục Timbuktu. Hầu hết các tướng lãnh Anh đều đã phục vụ tại các thuộc địa. Khi chiến tranh nổ ra, Anh có nhiều quân trú đóng tại Ấn hơn là tại chính quốc.

Các cuộc chiến tranh thuộc địa không bao giờ kéo dài bởi vì các quân đội Anh, Pháp, Ðức được trang bị các loại vũ khí hiện đại, súng bán tự động, súng máy và pháo binh bắn nhanh cũng như là các phương tiện chuyên chở hiện đại như tầu chạy hơi nước, tàu hỏa và xe hơi có thể chuyên chở quân đội đến nơi một cách mau chóng và tiếp tế cho họ đầy đủ. Ðối thủ của họ, các nước Châu Phi và Châu Á hầu như không có gì để chống lại.

Một thí dụ điển hình là trận đánh Omdurman năm 1898 tại Sudan. Trong trận này, 50,000 binh sĩ Sudan chỉ trang bị giáo mác và cung tên đụng với một đội quân Anh chỉ có vài ngàn người. Nhưng chỉ trong vài tiếng đồng hồ 11,000 người Sudan nằm chết tại trận tiền và 16,000 người khác bị trọng thương. Trận đánh này quyết định kết quả cuộc xâm lược Sudan của Anh chỉ trong vòng chưa đầy một ngày.

“Khẩu súng thần kỳ mới này là một vụ khí đặc biệt thích hợp để làm khiếp sợ những đối thủ bán khai hay còn dã ma.” Ðó là lời viết của tạp chí quân đội Anh, Army and Navy Journal sau trận đánh. Nhưng tuy rằng các sĩ quan Châu Âu mê say sức mạnh mà khẩu súng máy cho họ lên trên dân thuộc địa, họ không bao giờ suy nghĩ đến hậu quả mà họ gặp phải khi phải đối phó với khẩu súng này trong tay địch.

Một trong những ảo tưởng nữa của cả hai bên năm 1914 là vai trò của kỵ binh. Dù sao chăng nữa, kỵ binh vẫn là lực lượng công phá chính trong chiến tranh từ gần 2000 năm kể từ khi những kỵ sĩ Hung nô đánh tan bộ binh La Mã trong thế kỷ thứ ba. Cuộc tấn công của Ðức vào Pháp và Bỉ bao gồm tám sư đoàn kỵ binh với 40,000 con ngựa, một số lượng kỵ binh lớn nhất tham chiến tại Tây Âu trong lịch sử. Nhưng một phát minh đơn giản và khiêm tốn, dây kẽm gai, đầu tiên được các trại chủ Mỹ sử dụng để ngăn chặn bò sổng chuồng đã là công cụ chính để chấm dứt sự ngự trị của kỵ binh trong chiến tranh. Tuy nhiên hầu hết các sĩ quan các nước vẫn còn bị lưu luyến bởi tính lãng mạn của một cuộc xung phong bằng ngựa. Douglas Haig, tướng tư lệnh quân đội Anh tại Pháp trong cuộc chiến, tám năm sau khi xe tăng được phát minh vẫn còn vận động chính phủ Anh giữ lại kỵ binh nói rằng “máy bay và xe tăng chỉ là phụ thuộc cho người và ngựa.”

Tất cả những ảo tưởng đó sau này bị thực tế chiến tranh quét sạch nhưng chỉ sau khi đã hy sinh hàng triệu nhân mạng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét