Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Nguyễn Tường Thiết - Gió cuốn về đâu (Where the wind leads)




Đây là một câu chuyện quá lớn để cho một người thuật lại.

Câu chuyện trải dài mười thập niên, qua hai lục địa, vượt mười một ngàn dặm. Đó là chuyện về một gia sản bị tước đoạt và một kho báu được tìm thấy, chuyện của hai người đàn ông bị mất hướng và ba người đàn bà phi thường đã làm thay đổi đời họ.

Tên tôi là Vinh Chung. Tôi sinh ra trên một đất nước nay đã mất tên và lớn lên trên một xứ sở tôi không hề biết là hiện hữu.


Tôi sinh ra ở miền Nam Việt Nam chỉ tám tháng sau khi miền Nam lọt vào tay cộng sản vào tháng Tư năm 1975. Nhưng đây không phải là câu chuyện về chiến tranh Việt Nam, đây là chuyện thuật lại những gì đã xẩy ra sau đó cho hơn một triệu người, trong đó có gia đình tôi. Đối với hầu hết những người Hoa Kỳ thì hình ảnh sau cùng của cuộc chiến Việt Nam là bức ảnh trắng đen chụp một chiếc trực thăng chở quá tải rời khỏi sân thượng của toà lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn. Khi chiếc trực thăng ấy cất cánh thì câu chuyện của tôi bắt đầu.

Gia đình tôi bị buộc phải rời khỏi Việt Nam khi tôi mới ba tuổi rưỡi để đến một vùng đất mà chúng tôi chưa hề nghe nói tới, nằm đâu đó ở trung tâm nước Mỹ có tên là Arkansas.

Tôi là một người tỵ nạn.
Gia đình tôi đi ngủ ở một thế giới và tỉnh dậy ở một thế giới khác. Hơn bất kỳ một người nào  trong gia đình, tôi bị giằng co giữa hai thế giới ấy. Sinh ra ở Việt Nam nhưng tôi không phải là người Việt, lớn lên ở Hoa Kỳ nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi có nét đặc thù của người Á châu nhưng được nuôi dưỡng trong văn hoá Mỹ, là công dân Mỹ nhưng luôn luôn vẫn là một người tỵ nạn. Trong quá khứ tôi không có được một bài học nào để hướng dẫn tôi, trong hiện tại tôi không biết xử sự làm sao cho phải và trong tương lai tôi không nhìn thấy con đường nào để hướng tới..

Rời Việt Nam khi còn quá nhỏ tôi không có cơ hội hiểu biết về phong tục Việt Nam cũng như trau dồi Việt ngữ. Lớn lên ở nước Mỹ nơi tôi phải học một phong tục mới, một sinh ngữ mới không một ai hướng dẫn tôi cả, bởi vì trong gia đình tôi không có ai đến Mỹ trước tôi. Ở nước Mỹ tất cả chúng tôi đều mất hướng, đều phải tự tìm cho mình một lối đi riêng và mỗi người đều có một khó khăn riêng của mình.

 Chúng tôi gốc người Tàu, sinh đẻ ở Việt Nam, lớn lên trong khu rừng của nước Mỹ. Chúng tôi đến xứ sở này với hai bàn tay trắng với độc bộ quần áo mặc trên người và không biết tới một chữ tiếng Anh; bây giờ gia đình tôi đoạt được sáu mảnh bằng tiến sĩ và năm bằng cao học của các trường đại học Harvard, Yale, Georgetown, George Mason, Penn, NYU, Michigan và Arkansas.

Tuy nhiên vào tháng 7 năm 1979, cả gia đình tôi nằm chết khát trên một chiếc thuyền đánh cá với chín mươi ba người tỵ nạn lênh đênh lạc trong lòng đại dương của biển Nam Hải.

Từ thời điểm đó cho đến bây giờ là cả một thiên truyện dài

*

  Tôi ngồi sau vườn nhà, dưới tàn của một cây phong đại thụ, một cốc bia lạnh đặt trên một chiếc bàn thấp và một cuốn truyện trên tay. Bây giờ là buổi trưa của một ngày đầu tháng Năm và tôi đang ở thành phố Charlotte, NC, tại nhà của cháu Thi, con gái tôi. Tuy chưa đến mùa hè nhưng ở đây trời đã oi bức. Vợ chồng tôi thường thì cứ hai lần một năm rời Seattle bay đến thành phố này ở hai tuần lễ với cô con gái và hai đứa cháu ngoại. Nhà tôi và cháu Thi rủ nhau đi chợ mua sắm; Tyler, rể của chúng tôi đi làm, tôi ở nhà có nhiệm vụ trông hai đứa bé Rylan 4 tuổi và Paxton 2 tuổi. Trước khi rời khỏi nhà cháu Thi dặn tôi: “Bố khỏi lo gì cả, tụi nó bây giờ đã lớn có thể tự chơi với nhau được, bố cứ vứt tụi nó ra sau vườn trong đó có sẵn đồ chơi, còn bố cứ thoải mái, bia thì đã có sẵn trong tủ lạnh, trên gác có một tủ sách, bố tha hồ mà lựa”. Tôi lên lầu. Trên giá sách có hai cuốn sách mới, cuốn thứ nhất “And the Mountains Echoed” của Khaled Hosseini tôi đã đọc rồi, còn cuốn thứ hai “Where the Wind Leads” tôi chú ý ngay vì cái tên tác giả người Việt: Vinh Chung.

Tôi với cuốn thứ hai. Đó là một quyển sách hồi ký dầy hơn 300 trang mới được xuất bản vào tháng Tư năm 2014. Bìa màu xanh lá mạ. Nhan truyện “Where the Wind Leads” in trên nền biển đông với hình một chiếc thuyền nhỏ. Mặt sau quyển sách có ghi tiểu sử tác giả: Vinh Chung tốt nghiệp cử nhân về sinh vật học với hạng tối ưu tại đại học đường Harvard, theo học trường Y Khoa Harvard và tốt nghiệp bác sĩ. Với học bổng Fulbright ông cũng theo học tại đại học Sydney đoạt bằng cao học dược khoa. Hiện thời ông làm việc trong hội đồng quản trị của tổ chức thiện nguyện World Vision. Bác sĩ Chung và vợ Leisle có ba người con, hiện đang điều hành thành công một phòng mạch tư ở Colorado Springs.

Mặc dù có ít nhiều ấn tượng về tác giả, tôi nghi ngờ nội dung cuốn sách cầm trên tay. Tuổi tôi bây giờ đã lớn tôi rất ngại đọc những cuốn sách dầy in chữ nhỏ. Sách hay thì rất nhiều, nhưng sách hạp với tôi thì lại rất hiếm. Cho nên tôi có một định kiến: đối với sách của một tác giả lạ tôi chỉ đọc một hai trang đầu. Thường thường đọc xong một trang là tôi  bỏ cuộc. Nhưng lần này thì khác. Đọc xong hai trang đầu tôi ngạc nhiên: tác giả đã thật sự lôi cuốn tôi. Giống như nhan đề “Gió Cuốn Về Đâu” cuốn sách đã cuốn tôi đi bằng lối hành văn nhiều hình ảnh và bằng những ý tưởng lạ:
Khi chiếc trực thăng ấy cất cánh thì câu chuyện của tôi bắt đầu.
Từ thời điểm đó cho đến bây giờ là cả một thiên truyện dài.

Tôi biết ngay là thiên truyện dài này sẽ không dài nữa đối với tôi và tôi đã có trong tay một cuốn sách hay để tiêu đi những ngày còn lại ở Charlotte.

*

Nhà xuất bản W. Publishing Group giới thiệu cuốn sách như sau:
Ba mươi lăm năm trước, Vinh Chung là một trong số 93 người tỵ nạn nằm chờ chết trên một con tàu đánh cá giữa lòng biển Nam Hải. Sau khi vượt thoát khỏi Việt Nam đến bờ biển Mã Lai Á, họ bị khước từ cập bến, để rồi hai lần họ bị hải tặc tấn công và bỏ chết trên biển cả.

Gió Cuốn về Đâu, một câu truyện thần kỳ về Tình yêu, về sự Giải thoát và Cứu Rỗi của một gia đình người tị nạn, khởi đầu bằng thời kỳ rất thịnh đạt của một gia đình họ Chung và sự phá sản của gia đình này khi cộng sản tiến chiếm miến Nam Việt Nam. Nhà cửa, nhà máy xay lúa của gia đình họ Chung bị chính quyền mới tước đoạt. Họ phải lánh nạn trong một nông trại, nơi đó họ phải cố xoay sở để sống còn.

Sau những năm khốn cùng ở Việt Nam sống dưới chế độ khắc nghiệt của cộng sản  họ Chung cùng với hơn 200 người khác bán tất cả mọi thứ để mua một con tàu cũ nát ra khơi tìm đến bất cứ đâu có cuốc sống khá hơn. Họ hy vọng cặp bờ Mã Lai và được dân chúng tiếp đón. Nhưng không. Tác gỉa Vinh Chung thuật lại: “Bất cứ lúc nào khi chúng tôi mở miệng van xin thực phẩm, những người lính Mã Lai chỉ vào đám con nít chúng tôi nói: ăn thịt chúng đi!”. Với lời hứa hẹn là sẽ được chở tới một trung tâm tiếp cư cho người tỵ nạn, họ Chung được chất lên một con thuyền hỏng, kéo ra giữa biển khơi, và bỏ mặc cho chết.

Thuyền trôi trên biển, ngày qua ngày, họ trở nên tuyệt vọng. Giữa lúc ấy, tác gỉa thuật lại: “Rồi bất ngờ một điều xẩy đến cho cha tôi, một điều mà chúng tôi không ai có thể nhìn thấy được. Đó là một tia sáng loé trong đầu ông tựa như que diêm bật trong đêm tối. Cũng có thể đó chỉ là một ảo giác trong đầu ông, nhưng cha tôi không tin thế; sau này ông thuật lại là giây phút ấy rất sáng tỏ: có tiếng nói từ trên cao vọng vào hồn ông và tức khắc ông biết ông phải làm gì. Từ vị thế ngồi xếp bằng trên sàn ông đứng dậy, và trước những cặp mắt ngạc nhiên của mọi người, ông quỳ xuống gần ngay giữa sàn thuyền và bắt đầu cất to tiếng cầu nguyện ơn trên”.

Sáu ngày sau, Seasweep, một con tàu hướng dẫn bởi một tổ chức Ky-Tô Giáo trong hội thiện nguyện World Vision, khám phá ra một chiếc thuyền nhỏ chở đầy thuyền nhân và đến tiếp cứu họ (Video của đài BBC quay cảnh tiếp cứu này). Họ được chở tới một trại tỵ nạn do Liên Hiệp Quốc thành lập ở Singapore để chờ ngày được bảo lãnh. Sau một năm ở trại chứng kiến những gia đình khác lần lượt rời trại với đời sống mới, gia đình họ Chung sau cùng được một nhà thờ ở Fort Smith, Arkansas, bảo lãnh. Họ đến định cư ở một nơi trên đất Hoa Kỳ, nơi mà tương lai họ tuy được hứa hẹn là tốt đẹp nhưng cũng đầy bấp bênh và chông gai.

‘Thích ứng với cuộc sống mới ở Fort Smith đối với chúng tôi chẳng khác gì thích ứng để sống trên một hành tinh xa lắc xa lơ trong giải ngân hà” Tác giả Chung viết. “Vâng, nước Mỹ với chúng tôi như thể một hành tinh khác. Từ đất đai, khí hậu, cây cối, động vật, con người, cũng như ngôn ngữ khó hiểu của họ, hết thẩy đều kỳ lạ và mới mẻ, và chúng tôi buộc phải học hỏi mọi thứ bằng mọi cách khác nhau”.

Trong khi gia đình họ Chung tìm thấy an toàn trên đất Hoa Kỳ, họ phải khó khăn lắm  để thích ứng với cuộc sống mới ở Ford Smith. Họ phải đương đầu với nghèo khó, với nạn kỳ thị và hàng rào cản về ngôn ngữ tưởng không tài nào vượt qua được. Tuy nhiên qua mục sư người Việt tại nhà thờ Grand Avenue Baptist Church, gia đình họ Chung đã tìm thấy một cộng đồng mà những khó khăn và nhu cầu chung đã ràng buộc họ lại với nhau và giúp đỡ lẫn nhau.

Với sự kiên trì, lòng hy sinh và đức tin, dần dà Vinh đã vượt thắng để thành công trên đất Mỹ, ông gặp và yêu Leisle sau này là vợ ông và tốt nghiệp trường Đại Học Y khoa Harvard. Ông và các anh chị em của ông chia nhau 11 bằng cử nhân, năm bằng cao học và sáu bằng tiến sĩ tại các đại học Harvard, Yale, Stanford, Georgetown và UPenn, do công của cha mẹ ông đã quyết tâm hy sinh tất cả cho tương lai của con cái.

“Niềm tin Chúa luôn luôn đóng một vai trò lớn trong đời tôi, niềm tin đó cho tôi trả lời hai câu hỏi: Ai đã gửi con tàu cứu chúng tôi? Trả lời: Chính Chúa đã gửi con tàu. Vậy bây giờ Chúa mong gì ở tôi? Trả lời: Bây giờ tôi đã an toàn ở trên bờ, Chúa mong tôi trả lại con tàu để cứu những người khác”. Tác giả Vinh Chung viết. “Tôi luôn luôn là người tỵ nạn. Bây giờ cũng như mai hậu. Tuy nhiên, nói cách khác, chúng ta tất cả ai chẳng là người tỵ nạn? Chúng ta thẩy đều bị đẩy ra đời vào một thời gian và ở một nơi chốn mà chúng ta không định đoạt được, chúng ta sinh ra đời không tiếng nói, không tài sản, không tiền bạc, tất cả đều hoàn toàn tuỳ thuộc người khác để sống còn. Chúng ta đều là những người xa lạ trên một mảnh đất xa lạ, phải tự tìm lấy con đường sống, và trên con đường đó chúng ta giúp những người khác để họ tìm đường sống cho chính họ. Tất cả chúng ta, không chừa một ai, đều nhận được ân sủng và đều có bổn phận đền đáp”.

*

Ba ngày sau...

Tôi gấp cuốn sách lại. Trầm ngâm.

Cuối cùng cả người viết lẫn người đọc cùng chia sẻ một khung cảnh thanh bình.

 Tác giả Vinh Chung mô tả nơi ông ngồi viết tác phẩm của mình ở Colorado Springs trong chương cuối của quyển sách: “Khi tôi nhìn ra ngoài cửa sổ về hướng Tây của phòng viết tôi có thể thấy công viên Pikes Peak, trường Cao Đẳng Không Quân Hoa Kỳ và khung cảnh đẹp đến độ nín thở của toàn rặng núi Rocky Mountains”.

Còn tôi, người đọc, tuy khung cảnh không tráng lệ như thế nhưng cũng không kém phần êm ả. Nơi vườn sau nhà cháu Thi ở Charlotte một đàn chim hót chuyền nhau trên cành những cây phong rậm lá, một con sóc thoăn thoắt đổ dọc xuống từ một thân cây cao, và ở một góc vườn kia hai đưa cháu ngoại của tôi đang yên lặng chơi trò xúc cát bằng những chiếc xẻng tí hon.

Đó là hiện tại.

Còn trong quá khứ chúng tôi cũng có chung một kinh nghiệm sống. Đó là kinh nghiệm về một chuyến vượt biên bằng thuyền trên đường tìm tự do.

Đúng 39 năm trước, cũng đầu tháng 5 này, tôi lênh đênh trên biển Đông trên đường vượt thoát.

Nhưng do thời điểm ra đi khác nhau mà hoàn cảnh mỗi người mỗi khác.

Trong khi chuyến đi của tôi suông sẻ, an bình (tháng 5 năm 1975) thì chuyến đi của tác giả (tháng 6 năm 1979) cực kỳ khó khăn và nguy hiểm ngoài sức tưởng tượng.

Tôi nhìn bìa cuốn sách. Hàng chữ Where The Wind Leads rủ từ trên nền trời mây xuống biển cả với hình ảnh con thuyền nhỏ xíu chơi vơi. Tại sao nhan sách có tên Gió Cuốn Về Đâu?

Tôi liên tưởng những chương sách gây nhiều ấn tượng nhất với tôi. Đó là những chương nói về sáu ngày con thuyền lênh đênh trên biển cả. Một con thuyền chết máy mang theo 93 mạng người chờ chết. Tất cả trông chờ một phép màu. Phép màu đó chính là ngọn gió. Gió thổi về đâu, thuyền trôi hướng ấy. Gió là định mệnh của 93 mạng người.

Nhiệm vụ của con tàu Seasweeb là lùng kiếm và tiếp cứu thuyền nhân. Những giữa lòng biển bao la, công việc này cũng khó khăn như mò kim đáy biển. Tất cả trông chờ vào sự may rủi, vào phép lạ, đó là ngọn gió nào sẽ đưa chiếc thuyền tỵ nạn trôi về hướng con tàu tiếp cứu.

Phải chăng vì lời cầu nguyện của ông Thành Chung, cha của tác gỉa, mà ngọn gió màu nhiệm đã đưa con thuyền theo hướng con tàu Seasweeb?

Ông Thành tin như vậy, cả gia đình họ Chung tin như vậy. Họ là những người được mặc khải, được ơn sủng của Chúa.

Còn tôi, tôi không tin. Tôi cho tất cả chỉ là môt sự tình cờ. Hay bất quá tôi tin vào số mạng, vào định mệnh. Nhưng cũng rất có thể tôi không tin vì chuyến vượt biên của tôi an bình quá, tôi không phải đương đầu với những giây phút thập tử nhất sinh như họ. Và biết đâu, phải, biết đâu, nếu tôi ở trong hoàn cảnh của gia đình tác gỉa, tôi cũng sẽ có một niềm tin tôn giáo  như họ? Biết đâu?

Tôi đứng dậy. Một tờ giấy trắng gấp trong cuốn sách rơi ra. Đó là bản câu hỏi mà độc giả có thể trực tiếp hỏi tác gỉa cuốn sách. Các cuộc phỏng vấn này do nhà xuất bản “W Publishing Group, an imprint of Thomas Nelson publisher” thực hiên vào tháng Tư năm 2014 tại các nhà sách khắp nơi, với khách mời đặc biệt là tác giả Vinh Chung.

Trong bản phỏng vấn này nhà xuất bản cũng cho biết là theo lời yêu cầu của tác gỉa, tất cả tác quyền của cuốn sách này sẽ được trao tặng hết cho tổ chức thiện nguyện World Vision.

Nguyễn Tường Thiết

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét