Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Vũ Thị Phương Anh - Đọc bản nhận xét phản biện LV Nhã Thuyên của PGS Phan Trọng Thưởng (2-5)

GS Vũ Thị Phương Anh (tranh Hoàng Tường)

Phần 2:

Trong mục 1 của bài phản biện, ông PTT đã xem xét lý do chọn đề tài của NT rồi kết luận một cách quy chụp ác ý, dựa trên những trích dẫn được cắt ghép tùy tiện (như tôi đã phân tích trong bài 1) rằng NT chọn MM chỉ vì muốn ủng hộ sự nổi loạn, hay nói ngắn gọn là vì NT “phản động” (từ của ông PTT). Trong hai phần tiếp theo, ông PTT tiếp tục trích dẫn một số câu, đoạn trong LV của NT, để từ đó đưa ra kết luận gọn lỏn rằng “Như vậy có thể thấy đối tượng, tài liệu nghiên cứu đều không mang tính chính thống, thiếu độ tin cậy.” Kết luận này của ông PTT có thuyết phục không? Chúng ta hãy thử xem xét lập luận của ông PTT và so sánh nó với những gì NT trong LV của cô.

 2. Về lịch sử vấn đề

 Không giống với phong cách đã sử dụng ở mục 1 (trích dẫn –> bình luận –> kết luận), ở phần này ông PTT chủ yếu nêu lại những gì NT đã viết, nhưng với hàm ý rất rõ ràng rằng cách làm của NT là sai vì sử dụng tài liệu phi chính thống (bài viết công bố trên mạng Internet, blog cá nhân, hải ngoại …). Ngoài ra, tác giả vẫn tiếp tục lối trích dẫn cắt xén tùy tiện, xoáy vào những câu từ dễ gây nghi ngại và được hiểu là mang hàm ý phản động, lật đổ (chính quyền?) như “khả năng gây hấn”, “cùng hội cùng thuyền”, vv. Hàm ý này lộ rõ trong đoạn thứ hai của mục 2 (trích dẫn dưới đây, phần in đậm), những đoạn còn lại trong bài chỉ đơn thuần lập lại ý của tác giả LV.

 Trích:

Đáng lẽ, lịch sử vấn đề ở đây phải là lịch sử nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhưng do Mở miệng là một hiện tượng mới, lại là hiện tượng bên lề, hiện tượng thuộc về Dòng ngầm theo nhãn quan của tác giả nên phầnLịch sử vấn đề, ngoài hai tài liệu (luận văn, luận án) được thực hiện ở Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Hà Nội trong năm 2009 có liên quan ít nhiều đến đề tài, thì phần lớn các tài liệu được viện dẫn đều là những bài báo, bài giới thiệu công bố trên mạng Internet, trên các Blog cá nhân. Theo tác giả “cho đến thời điểm này (cuối 2010) các báo chí trong nước vẫn từ chối các bài viết về, hay thậm chí việc điểm danh đếnMở miệng cũng không được chấp nhận”. Các chỉ dẫn về tài liệu cho thấy phần lớn là các bài báo in ở Hải ngoại, của những người mà tác giả cho là “cùng hội cùng thuyền”, cùng vị trí bên lề so với vị trí quyền lực chính thống ở Việt Nam. Nhưng “dù mang tính chất tán tụng hay chính trị, hay nghiên cứu cũng đều cho thấy sự hiện diện và khả năng gây hấn mạnh mẽ của họ”.

 Vậy NT đã viết gì, và nhằm mục đích gì? Khi đọc vào LV, một lần nữa tôi lại thấy sự cặn kẽ và nghiêm túc của tác giả LV. Trong vòng gần 12 trang giấy trên tổng số hơn 100 trang, tức hơn 1/10 chiều dài của LV, NT đã điểm qua không chỉ là báo mạng hoặc những bài viết ở hải ngoại, mà đi dọc suốt thời gian từ sự ra đời của MM đến những phản ứng đầu tiên trên báo mạng ở hải ngoại, đến những phản ứng của báo chí chính thống và các tác giả trong nước, rồi đến các luận văn trong nước có đề cập đến MM gần đây. Sau khi điểm qua các bài viết phê bình liên quan đến MM, tác giả NT đã tách riêng ra thảo luận một số bài viết mà theo cô là quan trọng vì nó thể hiện quan điểm khách quan và độc lập (những từ in nghiêng là của NT). Và cuối cùng, cô chỉ ra những khoảng trống mà theo cô cần phải được lấp đầy, và cũng là điều mà tác giả mong muốn thực hiện trong LV này, đó là: (1) mô tả trung thực về thực tiễn văn học sử, từ đó, dựa trên sự thẩm thấu các lý thuyết mới để nhìn lại các vấn đề của Việt Nam; (2) dùng nghiên cứu và phê bình để tạo sự tương tác với không gian ngoại biên để làm đối trọng và gây chuyển động đối với các hiện tượng bên lề như MMvà (3) cố gắng giải mã đúng lúc, thừa nhận và thấu hiểu các thân phận ngoại biên, những tiếng nói ngầm, hòng tránh được tình trạng những tiếng nói tiên phong lại có thể biến thái thành sự thủ dâm tinh thần còn những cái già cỗi thì cố thủ thành trì ù lì và chật chội của nó (một lần nữa, những từ in nghiêng là của NT, ở trang 15-16; đôi khi câu chữ có được sắp xếp lại đôi chút cho hợp với cấu trúc ngữ pháp trong câu viết của tôi).

 Xin chú ý đến phần tôi nhấn mạnh (in nghiêng đậm, mục đánh số 2): một trong những mục đích của NT là dùng nghiên cứu và phê bình để “tạo sự tương tác với không gian ngoại biên làm đối trọng và gây chuyển động [đối với các hiện tượng bên lề như MM]. Theo tôi, đây là một quan điểm tích cực và rất cần thiết, thể hiện đúng vai trò tiên phong và hướng dẫn dư luận của một trường sư phạm, tất nhiên đó là một sự hướng dẫn của những người trí thức dựa trên sự hiểu biết cặn kẽ những quy luật phát triển và sự bao dung đối với những hiện tượng mới, chứ không phải hướng dẫn theo cách áp đặt chủ quan, thành kiến và giáo điều như quan điểm mà ông PTT là người đại diện.

 Nếu ông PTT quả đã đọc LV NT một cách nghiêm chỉnh thì tôi tin rằng ông chắc chắn cũng sẽ nhận ra những điều mà tôi đã nêu. Chính vì vậy, sự quy chụp trong bài viết của ông khiến tôi chỉ có 2 cách hiểu: một là ông không hề thực sự đọc mà chỉ lướt qua để nhặt ra những câu chữ có vẻ “phản động” nhằm minh họa cho cái kết luận mà ông (hoặc ai đó) đã có sẵn trong đầu – nói cách khác, là đọc với một thành kiến nặng nề nên không thể hiểu, như tôi đã cảm nhận sau khi đọc phần 1 của bài phản biện của ông; còn nếu không thì chỉ có thể là ông đã đọc, đã hiểu nhưng vì tư thù, muốn hại NT hoặc người hướng dẫn hoặc hội đồng chấm LV lần 1, nên cứ cố tình quy chụp để làm hại tác giả NT và những người liên quan.

 Ông PTT nói sao về những điều tôi vừa viết ở trên?

 Phần 3:

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Mục số 3 của bài phản biện của ông PTT (về đối tượng và phạm vi nghiên cứu) theo tôi là một mục viết không đạt, kể cả khi xét theo chính tiêu chuẩn của ông PTT như đã được xác lập qua mục 1 và mục 2. Có thể nói, khả năng phản biện/thuyết phục người đọc của ông PTT từ mục 1 đến mục 3 thể hiện một sự hụt hơi đáng kể.

 Ở mục 1, ông PTT trích dẫn NT, nêu những bình luận và diễn giải của ông, rồi đưa ra kết luận (dù không mấy thuyết phục vì đầy quy chụp ác ý). Ở mục 2, ông trích dẫn rất nhiều mà không bình luận diễn giải hoặc kết luận gì cả, mặc dù câu chữ của ông vẫn toát ra một hàm ý kết án nặng nề. Cả 2 mục trên đều có độ dài khoảng trên 20 dòng, bao gồm 3, 4 đoạn, mặc dù đa số chỉ là trích dẫn.

 Riêng mục 3 thì rất ngắn, chưa đến 10 dòng, gồm 2 đoạn trích dẫn và một câu kết luận như một lời phán từ trời cao vọng xuống. Xin trích nguyên văn (phần in đậm bên dưới):

 “Đối tượng của luận văn là thực hành thơ của nhóm Mở miệng với vị trí bên lề và những cách tân, cách mạng trong tư tưởng nghệ thuật của họ. Mở miệng cùng với các hiện tượng khác tạo thành Dòng ngầm, thành một quá trình ngoại vi hóa đang diễn ra như một hiện tượng có tính chất quốc tế”.
 “Các tác phẩm được khảo sát là những tập thơ của thành viên nhóm Mở miệng và những người cùng chí hướng. Ngoài một số bản đã bị công an văn hóa tịch thu, thiêu hủy, tư liệu nghiên cứu hầu hết là những tác phẩm thơ của Mở miệng mà Giấy vụn xuất bản được lưu giữ bằng File hoặc chuyển qua Email”.
 Như vậy có thể thấy đối tượng, tài liệu nghiên cứu đều không mang tính chính thống, thiếu độ tin cậy.

 Quả tình tôi rất ngỡ ngàng khi đọc lời kết luận của mục 3 – mà thực chất bao gồm cả hàm ý của mục 2 khi ông PTT nhấn mạnh – một cách thiếu chính xác – rằng NT chỉ sử dụng tài liệu phi chính thống (xin xem lại phần 2 bài viết của tôi). Theo ông, vì tài liệu (đã nêu ở mục 2) và đối tượng nghiên cứu là “không mang tính chính thống” nên (?) “thiếu độ tin cậy“. Nhưng tại sao lại như thế?

 Với kinh nghiệm và hiểu biết ít ỏi của tôi, tôi không thấy có lý do gì để phải chọn một đối tượng nghiên cứu “chính thống” (mà đối tượng nghiên cứu nào thì được xem là chính thống nhỉ?) thì mới có thể “tin cậy” cả. Ngược lại, tôi chỉ biết rằng những người nghiên cứu có bản lãnh thì thường không thích chọn những vấn đề/đối tượng truyền thống vốn đã được quá nhiều người đi trước tìm hiểu, vì nó sẽ không còn nhiều điều mới mẻ để khám phá. Trừ phi, tất nhiên, nhà nghiên cứu áp dụng  những lý thuyết mới vào việc nghiên cứu những đối tượng truyền thống (không phải chính thống) để từ đó đưa ra những phát hiện mới mà những người nghiên cứu trước đó không nhìn ra được.

 Tôi cũng không thấy tại sao việc sử dụng những tài liệu “không mang tính chính thống” (tức tài liệu công bố trên Internet, qua email, báo chí hải ngoại vv) lại làm cho nó “thiếu độ tin cậy“. Trước hết, cần phải khẳng định rằng đã từ lâu (ít ra là từ đầu thiên niên kỷ mới) các tài liệu đăng trên mạng đã được xem là “chính thống” chứ chẳng còn bị xem là phi chính thống nữa. Các quy định về hình thức trình bày các tài liệu tham khảo của MLA (Modern Language Association, là định dạng được sử dụng phổ biến cho các nghiên cứu thuộc khối ngành nhân văn) đều có mục dành riêng cho các tài liệu điện tử (gồm các trang web, cơ sở dữ liệu điện tử, và cả email …), cho thấy đây là một nguồn tài liệu được sử dụng thường xuyên và phổ biến. (Xem ở đây: https://owl.english.purdue.edu/owl/resource/747/08/).

 Việc NT sử dụng nhiều tư liệu điện tử khi nghiên cứu về MM chỉ đơn giản là vì các tài liệu về MM có nhiều hơn ở dạng điện tử, chứ không phải vì cô ấy cố tình bỏ qua những tài liệu ở dạng giấy mặc dù chúng có tồn tại. Lý do thì NT đã phân tích rõ từ Lý do chọn đề tài rồi: Cho đến nay MM vẫn bị xem là cấm kỵ nên không có nhiều nghiên cứu bàn luận về nó trên các diễn đàn chính thống ở VN. Chẳng lẽ ông PTT lại không hiểu điều này, hay ông có hiểu nhưng vẫn cố tình bỏ qua để có thể kết luận là tác giả đã sai vì dùng tài liệu “phi chính thống”?

 Và giả sử cứ cho rằng tài liệu điện tử quả thật bị coi là “phi chính thống” ở VN, thì điều ấy cũng không thể đương nhiên làm ảnh hưởng đến “độ tin cậy” của LV được. Thực ra, ở đây tôi không rõ ông PTT sử dụng từ “độ tin cậy” với nghĩa gì, vì từ này có thể dịch ra khá nhiều từ khác nhau trong tiếng Anh. Nếu là một nghiên cứu theo phương pháp định lượng (không phải là phương pháp mà NT đã chọn) thì độ tin cậy được hiểu là tương đương với reliability (=có khả năng lặp lại), hoặc tùy trường hợp cụ thể, có thể là internal validity (= sự nhất quán nội tại), nhưng vì LVNT là một nghiên cứu định tính, nên “độ tin cậy” hẳn là phải hiểu tương đương với dependability (= phù hợp với bối cảnh cụ thể) hoặc credibility (= phản ánh đúng nhãn quan của khách thể nghiên cứu). (Xem định nghĩa ở đây: http://www.socialresearchmethods.net/kb/qualval.php)

 Vậy, nếu xét theo những định nghĩa trên thì NT đã làm hoàn toàn đúng, khi xem xét MM trong bối cảnh xã hội của nó, với sự “nhập cuộc” của tác giả LV như một người bên trong để có thể hiểu đúng ý nghĩa những gì mà nhóm MM đã làm khi họ “thực hành thơ” theo một kiểu quái gở, nổi loạn, tục tĩu vv như vậy. Ý này sẽ còn được tôi nhắc đến nhiều hơn ở phần phân tích sau.

 Chốt lại, tôi thấy ở mục 2 và mục 3 trong bài phản biện, ông PTT lại thêm một lần bộc lộ rằng mình hoàn toàn hiểu sai tác giả LV (vô tình hoặc cố ý), đồng thời cũng đã lộ rõ ý đồ quy chụp bằng mọi giá bằng cách trích dẫn có dụng ý, cắt ghép tùy tiện, hoặc/và đưa ra những lời kết luận thiếu căn cứ và thiếu logic. Không những thế, có thể vì viết quá ngắn gọn (chủ yếu trích dẫn tác giả LV, sau đó phán ra những kết luận quy chụp) nên tôi không hiểu ông PTT có thực sự có những hiểu biết về các phương pháp và mô hình nghiên cứu, cũng như các thuật ngữ thường dùng để bàn về các phương pháp nghiên cứu hay không. Tất nhiên đó chỉ là những nghi ngờ và thắc mắc dựa trên một bài phản biện ngắn, và không đủ cho phép tôi kết luận về người viết phản biện. 

 Tôi mong chờ được nghe lời hồi đáp của ông PTT về những gì tôi đã viết ở trên.

Phần 4 

Mục số 4, cũng là mục quan trọng nhất và là mục cuối cùng trong bài phản biện của PTT, được viết rất dài vì nó liên quan đến phần chính của LV. Như tôi đã phân tích, các mục 1, 2, 3 trong bài phản biện của ông PTT chưa hoàn toàn thuyết phục, nhưng người đọc có lẽ vẫn mong đợi ông PTT sẽ đưa ra những lập luận vững chắc và thuyết phục để làm căn cứ cho quyết định tước bằng của NT trong phần chính (rất dài) này.

 Nhưng, thật thất vọng, phần cuối cùng của bài phản biện vẫn được viết theo cùng một cách đã thấy trong 3 mục trước, tức trích dẫn rất nhiều nhưng không đầu không đuôi, không có bất kỳ nhận định nào về sự phù hợp của hệ thống lý luận, tính logic của các lập luận và diễn giải, sự đầy đủ và thuyết phục của các chứng cứ của tác giả LV, mà  chỉ chú trọng những đoạn có câu chữ “nhạy cảm” để từ đó suy đoán về thái độ “phản động” của tác giả, rồi sau đó đưa ra những lời phán mang tính quy chụp mà nhiều khi chẳng ăn nhập gì đến những phần đã trích dẫn. Không những thế, bài phản biện của ông PTT còn cho thấy hình như ông không thực sự đọc cuốn LV, hoặc khả năng đọc hiểu của ông có vấn đề nghiêm trọng, vì những phần tóm tắt hoặc mô tả luận văn (rất ít ỏi) của ông đều có sai sót không nhỏ.

 Xin phân tích những điểm sai lầm trong bài viết của ông PTT dưới đây. Những phần in đậm là phần được trích từ trong bài viết của ông PTT, còn những phần in nghiêng là phần được trích từ LV của NT:
 1. Trích:

Chương I: Ngoại vi hóa như một chiến lược tồn tại của cái khác
 Có thể xem đây là chương tác giả luận văn viết về hoàn cảnh của sự ra đời nhóm Mở miệng.
 Bình luận: Thực ra, trong phần này tác giả LV không hề nhắc đến MM hoặc sự ra đời của nó, mà tập trung thảo luận khái niệm “lề”, là khái niệm căn bản cho các lập luận và diễn giải của tác giả đối với hiện tượng thơ MM. Có thể nói đây là phần cung cấp cơ sở lý luận cho toàn bộ luận văn. Không hiểu ông PTT đọc thế nào mà lại phán rằng đây là chương viết về hoàn cản ra đời của nhóm MM? Chỉ có thể nói: Ông PTT giả định như vậy, vì đó là cấu trúc truyền thống của nhiều LV mà ông đã đọc, đã hướng dẫn, đã phản biện vv – một cấu trúc “chính thống”, nói theo ngôn ngữ của ông?
 Tiếc thay, NT lại đã chọn một cách làm mới mẻ, “phi chính thống” (!), và đó rất có thể là lý do khiến nhiều người đọc (như ông PTT) mà không hiểu ý của cô. Và vì vậy, họ chỉ có thể xoáy vào những câu từ mà họ nghĩ là “phản động” – vì quả thật NT dùng nhiều từ liên quan đến “chính trị”, “nổi loạn”, “lật đổ”, “cách mạng” – nhưng xin thưa, đó chính là diễn ngôn quen thuộc của cái lý thuyết mà NT đang vận dụng trong luận văn của mình. 

 2. Trích: 

Từ cơ sở lý thuyết và sự tri nhận lý thuyết của tác giả, văn học Việt Nam đương đại được nhìn nhận như sau: “Dòng ngầm văn chương và nghệ thuật trong bối cảnh Việt Nam đương đại đã hiển hiện như một xu thế mạnh mẽ, đặc biệt từ điểm khởi đầu thiên niên kỷ mới. Sự xuất hiện của những cặp khái niệm ngoại vi-trung tâm; chính thống-phi chính thống; phụ lưu-chính lưu… cho thấy nỗ lực mô hình hóa những không gian văn chương xung đột (thấy được và ngầm ẩn) và phân chia quyền lực; những cuộc tấn công và chống giữ, những tranh đấu khó hòa giải… khi tính thống nhất của ý thức hệ bị phá hủy”.
 Đó là những luận điểm sai trái mang tính kích động chính trị rõ rệt.

 Bình luận: Đoạn trích nêu trên nằm ở trang 26, tức là phần cuối của chương 1. Trong chương này, tác giả LV chủ yếu nêu tổng thuật lý luận của tác giả nước ngoài về khái niệm ngoại vi-trung tâm, rồi sau đó đưa ra nhận định của cô về thực trạng văn học VN vào đầu thế kỷ 21 theo đúng lý thuyết mà cô đã chọn (và bằng đúng diễn ngôn của lý thuyết ấy – xin xem lại nhận định ở đoạn trên).

 Khi phán rằng đây là một “luận điểm sai trái“, phải chăng ông PTT muốn nói là lý thuyết về “ngoại vi-trung tâm” là sai trái, và tại sao? Phải chăng ông đang muốn nói rằng ở VN, không một ai, kể cả các nhà khoa học, có quyền tự đọc các lý thuyết mới và áp dụng nó để lý giải các hiện tượng mới mẻ đang diễn ra trong xã hội, như NT đang muốn làm trong LV của cô, mà phải chờ sự phê duyệt của ai đó ở cao hơn?

 Nếu thế, tôi e rằng chúng ta không còn trong địa hạt khoa học nữa, và ông PTT đang (vô tình) khẳng định điều người ta nghi ngờ lâu nay rằng NT bị tước bằng thực ra là vì lý do chính trị (do ông và những người giống như ông không thích cái lý thuyết mà NT đang vận dụng). Còn nếu muốn tranh luận khoa học, ông cần phải chỉ ra rằng tại sao theo ông thì lý thuyết mà NT đã chọn không phù hợp để giải thích những gì đang diễn ra tại VN, cụ thể là sự xuất hiện của nhóm MM và các hiện tượng tương tự. 

 3. Trích:

Sau những phân tích, phê phán thái độ phản kháng nửa vời của nhóm Nhân văn giai phẩm, tác giả luận văn CỔ SÚY cho những động cơ cách tân và cách mạng của nhóm Mở miệng như sau:
 “Nhu cầu cách tân như một lẽ sống còn của nghệ thuật mới là lý do tồn tại thực sự của Mở miệng – một nhóm văn chương; nhưng nhu cầu cách mạng lại trở thành điều kiện để họ thực hiện cái lẽ sống còn đó”… “Chính sự biến đổi từ nhu cầu cách tân sang cách mạng này tiết lộ một đặc tính của văn chương nghệ thuật trong mối quan hệ với bối cảnh: ý hướng cách tân văn chương không thể thực hiện được nếu không kết hợp với sự đấu tranh, với những tiếng nói đòi quyền lực, hay đòi xác lập một bản đồ văn chương mới. Đấy cũng là tiền đề cho một sự thay đổi nhận thức về tính tiên phong của văn chương giai đoạn này: mọi cách tân văn chương ở những giai đoạn khủng hoảng niềm tin và những trông đợi vào thể chế thường đến cùng với những tham vọng lật đổ ý thức hệ”.
 So sánh hai nhóm (NV và MM) tác giả nhận xét: “Tính chất chính trị trong tinh thần đấu tranh với quyền lực thống trị là đặc điểm chung của họ, nhưng sự khác biệt về vị trí kẻ ở bên lề và kẻ ở bên trong dẫn đến sự khác biệt và bản chất ý nghĩa của từ chính trị: NV – GP quan hệ với thể chế hữu hình; MM xác lập quan hệ với những thiết chế vô hình trong sự tan rã của ý thức hệ thống nhất của thế chế”… “Ở đây không gian văn hóa đã thành không gian đấu trường của những quyền lực văn hóa với khát vọng chính đáng của sự thay thế, chuyển động”.
 Kết thúc luận điểm này, tác giả luận văn HÔ HÀO: “Chính thời khắc khủng hoảng luôn là thời khắc có tính quyết định: hủy bỏ cái cũ, thiết lập cái mới, với nhu cầu của một thế hệ khác”.

 Bình luận:Đoạn trích vừa nêu của PTT rất tiêu biểu cho phong cách của ông, đó là lựa chọn những đoạn có ngôn từ hoặc vấn đề được xem là “nhạy cảm” (ví dụ: hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm; những từ ngữ như “cách mạng”, “đấu tranh”, “ý thức hệ”, “quyền lực” …) rồi tùy tiện đưa ra lời phán của mình về động cơ “phản động” của tác giả LV. Trong phần trích dẫn dài ở trên, ông PTT không có bất kỳ lập luận hoặc diễn giải nào, mà chỉ đưa ra hai từ quy chụp mà tôi đã viết in hoa trong đoạn trích nói trên để nhấn mạnh: “cổ súy” (trong đoạn trên cùng), và “hô hào” (trong đoạn trích cuối cùng). Trong khi đó, như nhiều người khác đã chỉ ra, NT không hề cổ súy hay hô hào gì cả, mà chỉ áp dụng lý thuyết mình đã chọn để lý giải hiện tượng MM và các hiện tượng tương tự (mà cô gọi là hiện tượng bên lề) mà thôi. Xin nhắc lại, ngôn ngữ mà cô sử dụng phản ánh rất rõ cái diễn ngôn quen thuộc của lý thuyết mà cô đang áp dụng.

 (Viết đến đây, tôi nhớ lại ngôn ngữ cũng rất kích động sự nổi dậy, đấu tranh, chống đối … của lý thuyết kinh tế chính trị của Karl Marx – một lý thuyết mà chắc chắn những người theo chủ nghĩa tư bản không thích, nhưng nó vẫn được giảng dạy và nghiên cứu đến nơi đến chốn ở phương tây. Xin phép không bình luận thêm gì ở đây.)

 4. Trích:

Tóm lại, đây là chương được xem như cơ sở lý thuyết, như là khung lý luận của luận văn. Về thực chất đây là một luận văn chính trị trá hình, văn chương chỉ là cái cớ.

 Bình luận: Đây là nhận xét kết thúc chương 1 của ông PTT. Nhận xét này vừa mâu thuẫn với nhận xét nêu trong đoạn trích đánh số 1 ở trên (đây là chương tác giả luận văn viết về hoàn cảnh của sự ra đời nhóm Mở miệng), vừa sai khi viết “văn chương chỉ là cái cớ” – vì NT không xem xét hiện tượng MM dưới góc độ văn học, mà xem xét nó dưới khía cạnh (chính trị học) văn hóa. Ông PTT cũng rất sai khi viết “đây là một luận văn chính trị trá hình” vì NT không hề trá hình gì cả (nếu trá hình thì đã không dại dột để sử dụng đầy rẫy những ngôn từ nhạy cảm, sờ đâu cũng nắm được như trong cuốn LV này). NT đã nêu rõ mục đích (không cần trá hình) của LV trước khi bước vào chương 
1. Xin xem đoạn trích dưới đây (phần viết in hoa là do tôi nhấn mạnh): 

 NT: Vấn đề chính được đưa ra ở đây là VỊ TRÍ BÊN LỀ của Mở Miệng: Vị trí này là gì? Họ đã nói được kinh nghiệm gì? Họ làm gì, như thế nào? Hình ảnh tương lai của nó? Có thể bình luận gì về tính cách tân và cách mạng của nó? (tr. 18)

Cũng xin giải thích thêm với ông PTT “văn hóa học” là một ngành học liên ngành, trong đó có áp dụng rất nhiều lý thuyết của chính trị học để giải quyết những vấn đề đang diễn ra hàng ngày trong cuộc sống của con người. Nói cách khác, văn hóa không loại trừ chính trị; chính trị cũng là văn hóa và văn hóa cũng là chính trị. Xin ông đọc tạm bài này trên wikipedia để hiểu thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Cultural_studies

5. Trích (những từ viết in hoa là do tôi nhấn mạnh):

II. Sự khác biệt trong ý thức phản kháng của Nhóm nhân văn giai phẩm  với nhóm Mở miệng còn được tác giả đặt trong bối cảnh rộng hơn là miền Nam và miền Bắc, Hà Nội và Sài Gòn để so sánh nhằm thấy rõ “sự khác biệt trong chủ trương đường lối và ý hướng thơ ca”.
 Theo Đỗ Thị Thoan, “Nhân văn giai phẩm là phản ứng Chống sự áp chế của bộ máy quản lý văn nghệ. Họ chủ yếu “đòi một thứ dân chủ gọi tên được, chống lại dàn đồng ca thơ cách mạng”. Còn nhóm Mở miệng cũng Chống nhưng hướng tới cái Khác biệt”.
 Sau những phân tích, phê phán thái độ phản kháng NỬA VỜI của nhóm Nhân văn giai phẩm, tác giả luận văn CỔ SÚY cho những ĐỘNG CƠ cách tân và cách mạng của nhóm Mở miệng như sau: [...].
 [...]
 So sánh hai nhóm (NV và MM) tác giả nhận xét: “Tính chất chính trị trong tinh thần đấu tranh với quyền lực thống trị là đặc điểm chung của họ, nhưng sự khác biệt về vị trí kẻ ở bên lề và kẻ ở bên trong dẫn đến sự khác biệt và bản chất ý nghĩa của từ chính trị: NV – GP quan hệ với thể chế hữu hình; MM xác lập quan hệ với những thiết chế vô hình trong sự tan rã của ý thức hệ thống nhất của thế chế”… “Ở đây không gian văn hóa đã thành không gian đấu trường của những quyền lực văn hóa với khát vọng chính đáng của sự thay thế, chuyển động”.
 Kết thúc luận điểm này, tác giả luận văn HÔ HÀO: “Chính thời khắc khủng hoảng luôn là thời khắc có tính quyết định: hủy bỏ cái cũ, thiết lập cái mới, với nhu cầu của một thế hệ khác”.

 Bình luận: Cũng giống như những phần trước (đã phân tích trong bài 4a), ở đây ông PTT lại tiếp tục trích dẫn có dụng ý, không đầu không đuôi và rất dài, không lập luận, và kết luận theo kiểu quy chụp dựa trên một vài câu từ có vẻ có vấn đề. Xin chú ý ngôn ngữ quy chụp của ông PTT: (phản kháng) nửa vời (của nhóm NVGP), cổ súy, động cơ (cách tân và cách mạng của nhóm MM), hô hào …. Tôi sẽ không bình luận thêm, ai quan tâm xin đọc ở mục trích số 3 trong bài 4a sẽ rõ. 

 Không chỉ quy chụp, ông PTT còn cho thấy hoặc ông không đọc kỹ LV mà vẫn phán, hoặc khả năng đọc hiểu của ông có vấn đề, khi cho rằng NT “phê phán thái độ phản kháng NỬA VỜI” của NVGP và “cổ súy cho những ĐỘNG CƠ cách tân và cách mạng” của MM. Khi đọc vào luận văn, phần so sánh NVGP và MM (trang 32-35), ta không thể tìm ra được một chỗ nào cho thấy tác giả LV phê phán nhóm này và cổ súy cho nhóm kia, lại càng không có chỗ nào nói rằng NVGP là nửa vời, mà chỉ đơn thuần phân tích sự khác biệt giữa hai nhóm: một bên là một phong trào đòi dân chủ, “chống sự áp chế của bộ máy quản lý văn nghệ“, bên kia chỉ là đòi hỏi làm mới, cách tân, đòi hỏi “dân chủ trong ngôn ngữ” (những phần in đậm trong ngoặc kép là trích từ bài viết của ông PTT, còn phần in nghiêng trong ngoặc kép là trích từ LVNT).

 Ngay cả khi xét theo mục đích của ông PTT là so sánh những gì NT đã viết về hai nhóm trên để quy chụp về chính trị thì ông vẫn rất sai, vì LV của NT cho thấy chính NVGP mới “triệt để” về chính trị chứ không phải là MM, vì NVGP đòi dân chủ, chống áp chế của quyền lực chính trị, còn MM thì không chống một người nào cụ thể hoặc đòi hỏi một cái gì có thể gọi tên, mà chỉ muốn tồn tại ở vị trí kẻ bên lề và làm những điều khác biệt như một chiến lược tồn tại. Ngoài ra, tôi cũng không hiểu là ông dùng từ “ĐỘNG CƠ (cách tân và cách mạng)” để nói về nhóm MM là có ý gì? Vì cả hai cụm từ (phản kháng) “NỬA VỜI” và “ĐỘNG CƠ” (cách tân và cách mạng) đều không được tác giả LV sử dụng để nói về hai nhóm nói trên. Phải chăng ông viết như vậy chỉ nhằm mục đích quy chụp về động cơ chính trị, phản động đối với NT?

 Xin trích một đoạn trong LV của NT để làm chứng cứ cho những gì tôi mới viết ở trên (là điều mà lẽ ra ông PTT cũng phải làm trong bài phản biện của mình):

 Nảy nở từ trong lòng đô thị Sài Gòn, Mở Miệng thừa hưởng những phẩm tính sáng tạo của di sản văn học miền Nam thời tạm chiếm. Mở Miệng ra đời trước hết là một nhóm văn chương, với những kẻ đeo đuổi văn chương, mang ý hướng cách tân nghệ thuật chứ không phải một nhóm chính trị có mục đích chống chính  sách,  vì chính sách không còn can hệ tới thế hệ của họ. Mở Miệng ra đời trước hết để PHẢN THƠ chứ không phải để PHẢN KHÁNG. Trong cùng khoảng thời gian những năm 1950, nếu ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Nhân Văn – Giai Phẩm là nỗ lực thất bại chống lại sự độc tài của lãnh đạo và đòi nghệ thuật được là nghệ thuật, thì nhóm Sáng Tạo ở Sài Gòn là cuộc nổi loạn mang tính khai phá về thi pháp. Mở Miệng, sinh ra trong bối cảnh „thống nhất đất nước‟ đã tiếp thu cả hai nguồn nổi loạn ấy, để bị/được gánh vác thêm vai trò của „những kẻ phản đảng‟ bên cạnh ý hướng văn chương. (tr. 34)

 Nhân tiện, cũng xin nhắc ông PTT phần chú giải của NT ở trang 36 về nghĩa của từ “chính trị” đang được sử dụng theo nghĩa của văn hóa học mà NT đã dùng trong LV của cô. Ông PTT có thể phê phán phần chú giải này nếu ông thấy nó không đúng với hệ thống lý luận mà chính NT đã chọn, chứ không thể bỏ qua không thèm đếm xỉa đến phần chú giải này, mà vẫn (cố tình?) hiểu “chính trị” (và toàn bộ diễn ngôn có liên quan) theo cách hiểu của ông, từ đó quy chụp cho NT mọi động cơ chính trị mà chẳng cần chứng cứ nào ngoài một vài câu từ mà ông không thích vì đã hiểu không đúng. 
 Trích từ LV NT (phần chữ in hoa là nhấn mạnh của tôi):

Xin được chú giải thêm, trong nghiên cứu văn hóa, thuật ngữ „chính trị‟ („politics‟ ) có một phạm vi ứng dụng rộng rãi: nó ám chỉ sự phân bố và hoạt động của quyền lực, không được /bị giới hạn với chính trị của Đảng, CŨNG KHÔNG PHẢI CHỈ ĐƯỢC XEM XÉT VỀ SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA QUYỀN LỰC BỞI CHÍNH QUYỀN. [...] Quan niệm phổ biến ở Việt Nam thường đồng nhất chính trị với tính chất đối kháng, thậm chí là sự đối kháng giữa các cá nhân (thường là yếu đuối, nổi loạn, kẻ mất) với cơ chế (không cụ thể, lớn mạnh, bề thế). Nhìn như thế, cuộc đối kháng này thường là vô vọng. Những cuộc liều thân của văn nghệ vào những thành trì chính trị – hiểu theo nghĩa quyền lực nhà nước và thể chế – không bao giờ cân sức. Tuy nhiên, một QUAN NIỆM RỘNG RÃI VỀ TÍNH CHÍNH TRỊ NHƯ LÀ SỰ XÁC LẬP VỊ THẾ CỦA CÁC CÁ NHÂN VỚI NHAU TRONG MỘT BỐI CẢNH CỤ THỂ, và cùng với nó là thức nhận về bản chất chính trị của văn hóa như phân tích ở trên sẽ đưa đến nhận thức khác về sức mạnh chính trị của văn học. (trang 36)

 Chính vì không hiểu diễn ngôn mà tác giả LV đang sử dụng, dẫn đến việc hiểu sai hoàn toàn những gì mà tác giả LV đã viết ,nên ông PTT đã có nhiều quy chụp rất “đao to búa lớn”, như có thể thấy trong đoạn trích (rất dài) dưới đây:

 6. Trích:

Ở trang 73, cuối chương II, tác giả đã TỰ ĐẶT CÂU HỎI, TỰ TRẢ LỜI VÀ TỰ BỘC LỘ ĐỘNG CƠ CHÍNH TRỊ của mình khi thực hiện luận văn này: “Câu hỏi đây là sự cách tân văn chương mang tính chính trị hay là hành vi chính trị đội lốt văn chương thấm đẫm nguyên lý ý thức hệ và sự lệ thuộc vào một từ chính trị được cắt nghĩa hẹp hòi: Tại sao các anh không cứ cách tân đi, bởi văn chương mới chính là lĩnh vực của anh? Tại sao phải lên tiếng về chính trị và bình luận xã hội? “Nay ở trong thơ nên có thép” có chính trị không? Không phải chúng ta đã bội thực thứ văn chương (phục vụ) chính trị rồi sao? Khi nhà thơ tự mang mình ra như tang chứng của đời sống, của sự áp chế, họ không sở hữu quyền lực thực sự. Có lẽ chính tính chất vô ích của loại hình nghề nghiệp này, những câu hỏi về vị trí, trách nhiệm của nhà văn với xã hội và bối cảnh vẫn cứ được đặt ra, nhiều nghịch lý hài hước mà khó trốn thoát. Vậy cái tình thế của một nghệ sĩ Việt Nam, hoặc là thoát khỏi bối cảnh, trở thành một công dân toàn cầu, hoặc vị nghệ thuật, vị cá nhân, hoặc gắn chặt với bối cảnh thì phải vừa chính trị, lại vừa văn nghệ và cách tân”.

 Đây là một luận điểm mang tính chất kích động rõ rệt.

 Đoạn trích nói trên cho thấy ông PTT thực sự không hiểu LV của NT đang nói gì, hẳn là do ông không hề theo dõi những cuộc tranh luận quanh đến các vấn đề chính trị của văn hóa/văn học hiểu theo nghĩa rộng mà NT đã nêu ở trên. Để phân tích ông PTT đã hiểu sai như thế nào, đã có bài viết của TS Nguyễn Thị Từ Huy đã đăng trên Tiền Vệ hôm nay (tạ iđịa chỉ: 
nên tôi sẽ không bình luận gì hơn.

 Chỉ xin nêu thêm một nhận xét ngoài lề, đó là: Ngay cả NVGP, những người thực sự đã đấu tranh chính trị (hiểu theo nghĩa hẹp là “quyền lực bởi chính quyền” như chú giải của NT) và đã bị hệ thống trừng phạt nặng nề, sau đó vẫn có thể được phục hồi danh dự và thậm chí còn được những giải thưởng cao quý, thì tại sao việc NT phân tích, diễn giải, thảo luận về cách thực hành thơ của một nhóm thơ mà quan điểm chính thống cho rằng hoàn toàn không có giá trị, đứng ngoài lề, nghịch ngợm phá phách tục tĩu như MM lại bị cho là phản động, là âm mưu chính trị đội lốt văn chương, đe dọa chế độ như ông PTT đã kết luận trong bài phản biện của mình nhỉ?
———
Phần 4 của ông PTT còn rất dài; ở trên tôi mới chỉ phân tích những gì ông đã viết liên quan đến chương 1, nhưng tôi cho rằng như thế cũng đã rất đủ để chứng minh rằng ông đã hiểu sai hoàn toàn cuốn LV của NT từ lý do chọn đề tài, đến cơ sở lý luận và các thuật ngữ cơ bản; vì vậy, ông không thể nào phân tích và đưa ra những phán đoán chính xác về cuốn LV được. Vả lại, có phân tích thêm thì cũng chỉ là thừa, vì bài phản biện của ông chỉ toàn là trích dẫn theo kiểu cắt ghép tùy tiện để phục vụ mục đích quy chụp của ông, chứ không có mấy nhận định dựa trên lập luận dựa trên chứng cứ rõ ràng. Ngoài ra, các nhận định của ông sau mỗi phần cũng chỉ lặp đi lặp lại vài ý: phản động, hô hào, cổ súy, cổ vũ, kích động. Xin liệt kê ở đây những “nhận định” (rất ít ỏi) của ông PTT trong những phần mà tôi chưa thảo luận:

 - Nguy hiểm hơn, tác giả luận văn còn cổ vũ cho việc đem tác phẩm Đường Kách mệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra để giễu nhại, sàm sỡ … (Xin hỏi, tác giả NT đã cổ vũ điều này bằng những lời lẽ nào, mong ông nêu rõ)

 - Với sự nhìn nhận 3 phương diện “cách mạng” này của Mở miệng, tác giả luận văn trở thành người cổ súy, bênh vực nhiệt thành cho những thứ văn chương bên lề, văn chương rác rưởi, dơ bẩn, văn chương nghĩa địa. Với loại văn chương này, tất cả những gì nghiêm chỉnh nhất, thiêng liêng nhất cũng được đưa ra để biếm nhại, công kích, đả phá và kêu gọi lật đổ. (Ông PTT có nhầm không nhỉ? Chính là MM đã viết như vậy, với mục đích gì thì xin nói sau, chứ đâu phải là NT đã thực sự biếm nhại công kích đả phá kêu gọi lật đổ gì đâu? Cô ấy chỉ mô tả cách “thực hành thơ” của nhóm MM thôi. Xin nói đùa một chút (cho đỡ căng thẳng vì bài viết đã quá dài): Nếu NT đã chỉ ra trong LV rằng nhóm MM đã viết một cách diễu nhại như vậy, thì thực ra là cô ấy “có công” đấy chứ, vì đã gián tiếp cảnh báo cho an ninh văn hóa biết (!) để mà cấm hoặc theo dõi (!) …)

 Điểm cuối cùng tôi muốn nêu ở đây là cách viết phản biện của ông PTT rất có vấn đề, như nhiều người khác đã chỉ ra, ví dụ bài của TS Từ Huy mà tôi đã nêu ở trên và trong nhiều bài viết khác (có thể tham khảo trên trang Văn Việt tại địa chỉ vanviet.info). Thay vì nêu tóm tắt những gì tác giả LV đã viết rồi sau đó phân tích đúng sai trên xem xét các mục đích và nhiệm vụ mà cuốn LV đã đặt ra, rồi cuối cùng mới đến việc trích dẫn từ LV để chứng minh rằng phần phân tích của mình là hợp lý, thì ông PTT đã chọn cách làm mà các sinh viên … dốt/ và hoặc lười thường hay làm, đó là chép nguyên văn từ cuốn LV (và chép rất dài), cắt ghép tùy tiện, không thèm đọc và hiểu hệ thống lý luận và thuật ngữ mà tác giả dùng, không xây dựng các lập luận để từ đó đưa ra các kết luận, mà (sau khi đã chép rất dài) chỉ đưa ra những lời phán chủ quan từ trên trời rơi xuống theo đúng định kiến sẵn có của mình. Một bản phản biện có quá nhiều lỗi như của ông PTT sao lại có thể được sử dụng để làm căn cứ thu hồi bằng thạc sĩ của NT, quả tình tôi không hiểu được.

 Ông PTT có lời giải thích gì cho những phần tôi đã viết ở trên hay không? Nếu không, tôi xin phép sẽ đi đến phần kết luận của ông, trong bài viết cuối cùng của tôi, bài số 5 mà tôi sẽ viết sau bài này.

Phần 5

Phần kết luận này thực ra tôi đã viết từ hôm qua và đã đăng lên thành một status, ngay sau khi đọc bài phản biện của ông PTT và đọc lại LV của NT để xem có thể đồng ý với ông PTT ở điểm nào không. Nhưng tôi vẫn chưa dám xem đó là kết luận, vì còn cần phải xem xét kỹ lưỡng và tranh luận với ông ở từng điểm mà ông đã viết. Xin nhắc lại để ông rõ, tôi đã viết tổng cộng là 5 notes, theo đúng cấu trúc bài phản biện của ông, để tranh luận với ông ở từng mục (riêng mục 4 của ông vì quá dài nên tôi phải ngắt thành 2 notes là 4a và 4b). Sau khi đã hoàn tất việc tranh luận, tôi thấy mình có thể đăng bài này lên thành kết luận (có biên tập và bổ sung đôi chút) rồi. Mong ông đọc, và có vài lời giải thích hoặc tranh luận lại. 
———
Sau khi đã điểm qua LV của NT ở 4 mục mà tôi đã trình bày và tranh luận trong các notes trước đây của tôi, ông PTT có đưa ra những lời kết luận và kiến nghị. Thực tình, khi đọc những kết luận và kiến nghị rất nghiêm trọng của ông, tôi đã rất băn khoăn và ngờ rằng có lẽ NT cũng đã có những sai lầm nào đó nghiêm trọng, và tôi cứ đọc đi đọc lại LV của NT (hơn 100 trang) để xem có chỗ nào có thể cho phép kết luận như ông PTT đã kết luận hay không. Nhưng quả thật là tôi không tìm thấy, và lại càng không thấy có thể rút ra những kết luận này nếu chỉ đọc những trích dẫn và lập luận trong bài phản biện của ông.

 Tôi thấy tác giả NT đã bị quy chụp quá nhiều tội, trong khi theo tôi thì cô ấy có hai cái “tội” thôi. Tội đầu tiên của cô ấy là đã cố gắng viết về MM với tư cách là “người trong cuộc” (tức không thành kiến, không lên án, ghê tởm, phẫn nộ như phản ứng của những người giống như ông PTT, mà cố gắng thấu hiểu, thậm chí thông cảm). Tuy nhiên, điều đó chẳng qua cũng do nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra cho cô ấy mà thôi. Vì, để hiểu đúng những kẻ bên lề thì trước hết phải cố gắng trở thành một người trong bọn họ – đại khái giống như trong nghiên cứu xã hội học, muốn hiểu những người sử dụng ma túy thì phải nhập vai một người nghiện ma túy, để có thể thực sự hiểu được họ đã nghĩ gì và tại sao lại làm như họ đã/đang làm.

 Đây là một phương pháp nghiên cứu của các ngành nhân văn rất phổ biến ở các nước phương Tây, và chính nhờ phương pháp này mà họ có thể thực sự hiểu những “vấn nạn” của xã hội và có phương cách để quản lý nó một cách hiệu quả và được những người “bị quản lý” chấp nhận mà không chống đối. Vì vậy, cái mà ông PTT cho là tội thì thực ra lại là một cái công, vì mặc dù phương pháp mà NT đã chọn chẳng có gì mới ở phương Tây, nhưng ít người hiểu và (dám) vận dụng đến nơi đến chốn ở VN. Vì, quả thật, chúng ta vẫn rất quen với tư duy áp đặt từ trên xuống, và vì thế cũng luôn có quan điểm áp đặt với người khác chứ không chịu cố gắng hiểu và thông cảm với họ.

 ”Tội” thứ hai, và đây là một điều mà tôi cho là NT và những người hướng dẫn có thể rút kinh nghiệm, là đã áp dụng một lý thuyết dù hoàn toàn không có gì mới nhưng vẫn còn quá xa lạ ở VN, với những ngôn ngữ nghe rất “nhạy cảm” ở một quốc gia chỉ có một đảng độc tôn về chính trị như ở VN, mà chưa có sự chuẩn bị dư luận kỹ lưỡng hơn, khiến dễ bị hiểu lầm và quy chụp nặng nề, là điều đã xảy ra. Ngay ở chỗ này, và cả với những gì mà NT đã phải trải qua cho đến giờ, thì cô ấy cũng đã có công vô cùng lớn, đó là (vô tình) làm cho rất nhiều người quan tâm đến hiện tượng mà NT đã chọn nghiên cứu và cả hệ thống lý luận mà cô ấy đã sử dụng để mô tả và giải thích hiện tượng này. Thực ra, trong phạm vi rất hẹp thì những điều mà NTđã viết trong LV chẳng có gì là ghê gớm; trong giới nghiên cứu văn học ở VN có đi học ở nước ngoài thì đều hiểu rõ những lý luận và diễn ngôn này. Chỉ có ở VN thì nó mới được xem là mới, là lạ, là “can đảm”, là “nhạy cảm”, hoặc là “phản động” mà thôi. Thế mới thấy, khoa học xã hội và nhân văn của VN lạc hậu so với thế giới đến là chừng nào.

 Đó là những nhận định mang tính kết luận của tôi về vụ NT, là một vụ việc mà tôi đã tốn vô cùng nhiều thời gian để theo dõi, vì thực sự không hiểu tại sao đến bây giờ mà người ta vẫn còn hành xử man rợ như vậy. Phần còn lại tôi xin được tiếp tục chất vấn (ngắn gọn) với những kết luận mà ông PTT đã đưa ra, để trung thành với cách tranh luận mà tôi đã chọn.

 Trích phần đầu của “Kết luận và kiến nghị của người nhận xét” (là PGS Phan Trọng Thưởng); tôi phải ngắt đoạn ra và gạch đầu hàng cho dễ đọc:
————
- Như tác giả luận văn đã tự xác nhận [ở chỗ nào nhỉ?], đây là một luận văn “chính trị đội lốt văn chương” với rất nhiều quan điểm chính trị và học thuật sai trái,
mang tính chất kích động, đả phá chế độ, xúc phạm chủ tịch Hồ Chí Minh; đánh giá sai lệch về sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước;
không có giá trị khoa học và thực tiễn; sai lầm trong việc chọn đối tượng nghiên cứu; tài liệu không chính thống, không có độ tin cậy;
cổ súy và biện hộ cho những hiện tượng văn chương tục tĩu, thấp kém; miệt thị văn học và văn hóa chính thống của dân tộc;
- tạo hậu thuẫn về mặt lý luận và tiếp tay cho những phần tử chống đối, nổi loạn ở trong và ngoài nước…
- Luận văn lại được viết bằng một văn phong trôi chảy, có sự mở rộng trên cả hai lĩnh vực văn chương và chính trị, vì vậy, đây là luận văn nguy hiểm, cần được chỉ ra các sai sót để hạn chế các tác động tiêu cực đến xã hội và văn học. 
————
Tất cả những điểm trên tôi đã trao đổi trong 5 bài trước đây của tôi rồi. Chỉ xin nhắc lại: Như nhiều người khác đã nêu, ở đây có sự nhầm lẫn giữa “tội” của nhóm MM và “tội” của tác giả LV. Các ông ấy có thể ghét MM, có thể cấm lưu hành thơ MM, có thể tức giận về sự giễu nhại của MM đối với những cái mà họ cho là thiêng liêng, nhưng những cái đó không phải là tội của NT. Cô ấy chỉ nhắc lại những gì họ làm và giải thích nó theo một hệ thống lý luận mà cô ấy cho là hợp lý để giải thích hiện tượng này mà thôi. Mà những lý luận ấy có mới mẻ gì đâu cho cam!

 Ở đây tôi cũng xin nêu một thắc mắc nhỏ: Nếu LV có tác dụng ghê gớm như vậy, tại sao không ai biết đến nó, cho đến khi nó được lôi ra từ trong một góc kẹt nào đó của TV trường ĐHSP Hà Nội để được “đấu tố” ầm ỹ trên báo chính thống từ năm ngoái, rồi sau đó lại thêm một lần ầm ỹ hơn sau vụ tước bằng âm thầm lén lút mới đây? Nếu nó thực sự đã gây tác hại, ông PTT có thể nêu một vài ví dụ được không?

 Nếu ông PTT không có lời nào để giải thích, thì tôi xin kết luận rằng tất cả những gì mà hệ thống đã làm cho đến nay chỉ là một nhầm lẫn rất buồn cười. Rất mong mọi người bình tĩnh xem xét và trả lại cho NT cùng người hướng dẫn và các thành viên HĐ 1 những cái quyền mà họ đương nhiên phải được hưởng, và xin không làm gì thêm điều gì để cộng đồng khoa học trong và ngoài nước xem thường chúng ta hơn nữa.

 Rất mong những lời của tôi đến được tai người có trách nhiệm. Mong lắm thay.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét