Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Võ Phiến - Giã Từ (6)



(Kỳ 6)

Tháng ba năm 1953, một đêm trước trận phục kích trên đèo Mang Giang, tôi nằm bên cạnh Toàn ở một nhà đồng bào dưới chân đèo.

Chúng tôi kéo đến làng khi trời chạng vạng tối, mở cơm ra ăn, họp, sinh hoạt, rồi dồn nhau lại ngủ ở ba nhà gần sát nhau. Ở miền sơn cước nhà cửa thưa thớt, nếu muốn có chỗ rộng rãi chúng tôi phân tán ra quá rải rác, không tiện. Vì thế, chỉ chọn ba nhà. Phần nhiều chúng tôi phải ngủ giữa trời, ở ngoài sân và vườn.

Toàn và tôi mượn được chiếc chiếu trải lên mớ rơm nằm khá êm. Tôi đánh một giấc đến quá nửa đêm, bỗng giật mình thức dậy. Có tiếng Toàn rọt rẹt cựa quậy bên cạnh. Tôi trở mình thấy anh ta bò lồm cồm, hỏi:
— Cậu làm gì vậy?

— Lạnh tổ mẹ. Tìm cái áo mặc thêm vào cho ấm.

Tôi tán thành:
— Dễ ghét lạ. Mới xế chiều còn nóng hầm hầm như nung, tối đến khí đá bốc ra đã lạnh ngay.

Tôi rút hai tay đang thu vào giữa cặp đùi ra, vuốt lên má: má và tai lạnh ngắt, lại ươn ướt hơi sương. Sờ tay lên chiếu, chiếu cũng ướt. Tôi ngồi dậy, nhân tiện ra ngoài rào đi tiểu rồi trở vào bắt chước Toàn mở ba-lô lục tìm cái áo trấn thủ mặc thêm.

Hai đứa nằm xuống bên nhau một lúc không nói gì. Tôi mỗi lúc mỗi thấy tỉnh táo, mở mắt yên lặng nhìn lên vòm trời đen sâu thẳm, chi chít những sao nhấp nhánh. Hồi lâu tôi quay nghiêng đầu và để ý đến ngọn lửa cháy núi ở phía tây. Miền quê tôi có nhiều núi, mỗi năm vào tiết trời nắng thế nào cũng có nơi bị cháy núi, nhà nông cho rằng năm nào cháy núi to thì năm ấy được mùa, bởi vì tro than trên núi theo nước chảy xuống ruộng thành chất phân bón tốt. Hồi tôi còn nhỏ, mẹ thường bồng tôi chỉ cho coi ngọn lửa đỏ di động trên những mỏm núi đen xa thẳm trong đêm mênh mông, kể những chuyện dị thường để dọa tôi những lúc tôi làm nũng. Và trí tưởng tượng của tôi vẽ thêm ra những điều ly kỳ xung quanh ngọn lửa huyền bí ấy. Mãi về sau này, mỗi lần trông thấy núi cháy — nhất là về khuya — tôi vẫn còn xôn xao bồi hồi nhớ về xóm làng và thời thơ ấu. Tôi nằm bên cạnh Toàn, theo dõi ánh lửa, nghĩ đến ngày xưa, nghĩ đến trận đánh ngày mai...

Bỗng một cái mo cau tách khỏi thân cây, rụng xuống kêu một tiếng bộp. Tôi giật mình ngoảnh đầu nhìn lại, trông lòng mo phơi ngửa trắng lờ mờ. Thình lình Toàn lên tiếng nói:
— Nhớ tổ mẹ!

Rồi anh ta thở ra một cái mạnh, xoay mình lại. Giọng Toàn tỉnh táo, ráo hoảnh: thì ra anh vẫn nằm thức từ lâu. Tôi vừa trở mình, anh ta liền hỏi:
— Cậu có nhớ “đứa” nào dưới đồng bằng không?

Tôi làm sao nói được! May mà Toàn chỉ hỏi qua loa rồì xoắn suýt trở về chuyện riêng của mình, không chờ trả lời. Anh ta lay vai tôi, nói: 
— Mình lạ quá. Lúc ở nhà cứ như lạnh nhạt đối với vợ con, đôi khi muốn tỏ một cảm tình thì lại ngượng, đáng lẽ nựng nịu thì chỉ thành ra chế giễu. Đáng lẽ ôm hôn con chẳng hạn thì mình lại chọc ghẹo nó. Mình cũng hay giễu vợ, về kiểu áo cắt xấu, bức hình treo vụng, dĩa xào không ngon... Chế giễu thành ra một hình thức âu yếm. Vợ con mình có vẻ không bằng lòng như thế. Cậu nghĩ thế nào?

Tôi chưa kịp nghĩ thế nào cả, anh ta đã tiếp:
— Chế giễu chán rồi lại có lúc phát cáu lên gắt gỏng. Thế nhưng đi khỏi nhà, thường thường không cần lâu, chỉ vừa mang ba-lô lên vai đi được chừng non cây số là mình lại đã hối hận, thương vợ thương con, tiếc sao lúc ở nhà không biết diụ dàng hơn, khéo léo hơn. Nhất là trước những trận đánh, mình càng ân hận. Mình thấy lại rõ ràng cái mặt bé tí tẹo của thằng con những khi nó khóc, nước mắt nước mũi tràn trề, trông thương quá... Dạo nọ đánh đồn Thượng An xong mình được nghỉ, ghé về nhà; mụ vợ dành dụm bấy lâu may được cái áo cụt lụa, bữa ấy lấy ra định mặc, mới thấy chuột khoét cho một lỗ to bằng cái miệng chén ở nách. “En” cầm cái áo kêu mình, đưa lên cho coi, miệng méo xệch, khóc như đứa trẻ. Lúc đó mình nhe răng cười, pha trò chọc cho “en” cười theo. Đêm nay tự nhiên mình nằm nhớ lại nét mặt khổ sở ngây thơ ấy. “En” biết đâu, cứ cho mình là khô khan. Ngày mai, đánh xong, nếu lại rút xuống đồng bằng thì thế nào mình cũng... hì hì.

Toàn vất cả hai chân gác lên người tôi, thân mật, sung sướng. Tôi hỏi:
— Cháu Hoàn nay được mấy tuổi rồi?


— Hăm ba tháng.

— Liệu moi óc tìm lý do mà xin về cho nhanh. Cháu nó chờ em đã trót năm trời rồi, sốt ruột lắm đấy.

Toàn lại cười hì hì. Chúng tôi chợt im lặng, lắng nghe tiếng cánh nặng nề của một con dũ dĩ bay ngang qua đâu đó ở bên ngoài khoảng vườn nhà trọ. Nó đậu lại và kêu hù hì, hù hì. Kế đó, có tiếng mang tác “bép bép” về phía trên núi.

Tôi không biết Toàn nghĩ gì trong khi yên lặng. Anh ta ít nói, những lời tâm sự bất thường vừa rồi đã là nhiều rồi, tôi tưởng thế là hết. Không ngờ khi tôi vừa hỏi:
— Ngủ chưa?

Anh ta liền sốt sắng:
— Cậu buồn ngủ rồi à?

— Không.

— Cậu biết vợ mình chứ?

— Sao lại không? Cháu cụ tham Hà chứ ai. Hồi mình học lớp nhất ở Nguyễn Trường Tộ thì vợ cậu học lớp tư.

Toàn lại cười bâng quơ hì hì, vẻ hiền lành.

Rồi anh ta kể lại cho tôi câu chuyện đem danh thiếp tới nhà ông tham Hà, bị giữ lại nghe vớ vẩn suốt buổi, lúc ra về vừa đi vừa xấu hổ vì tiếng cười rúc rích nghịch ngợm của cô con gái ở trong buồng, câu chuyện đã khiến anh ta nhất định chống lại cha.

Tôi tò mò hỏi:
— Như thế làm sao cô con gái ấy lại thành ra...

— À, thế mới ngộ. Lâu lắm lâu lắm về sau mình vẫn còn nhớ mớ tóc bông-bê rũ xuống cái cổ trắng nõn, càng oán giận càng nhớ, mới lạ chứ. Rồi không gặp nhau nhiều năm. “En” lớn lên, tới khi đối diện thì nhìn không ra nữa! Mình chỉ ghi nhớ hình ảnh cô bé hồi nhỏ mà tới năm mình hăm mốt “en” mười tám rồi, đối chiếu với cái người trong ký ức có còn dính líu gì nữa đâu. Hôm ấy mình về Qui Nhơn, về với một tiểu đội công binh để đặt mìn, ở ngoài bãi bể và trong mấy tòa nhà gạch mà chủ đã tản cư rồi. Buổi trưa, nghỉ việc, mình ra đứng phía bờ sông, chỗ trước ngôi chùa Triều Châu. Chỗ đó có một cây bàng to, hồi mình còn đi học thấy thợ cưa thường chở gỗ từng súc lớn về vất đó để làm việc cho mát. Gặp “en” ngay tại chỗ ấy. Mình đang nói chuyện với một người chệt bán thịt bò khô bên gốc bàng thì “en” đến...

— Gia đình cụ tham Hà không phải tản cư à?

— Mình cũng lấy làm lạ chỗ đó. Ở Qui Nhơn bấy giờ chỉ có toàn Hoa kiều, còn người Việt thì đi hết. Ai còn ở lại bị kiểm soát khổ sở lắm, mỗi lần đi chợ mua gạo mua thịt mỗi bị kiểm soát từng li tùng tí, khó khăn hết sức. Mình hỏi “en” tại sao ở lại Qui Nhơn. “En” trả lời vì gia đình không còn ai là đàn ông, tản cư không biết làm ăn ra sao, phải ở lại làm công cho mấy người Tàu quen biết để lấy cái sống. Dò hỏi thêm mấy câu nữa, mình bật ngửa, biết rằng đang nói chuyện với cháu gái cụ tham Hà ngày trước. Tự nhiên hơi nóng bốc lên mặt mình đỏ bừng. “En” liếc mắt để ý, ngờ vực. Trong lúc hai đứa ngừng nói, thì người chệt xắp xắp cái kéo to tướng trong tay để rao hàng, nét mặt thản nhiên vô tình... Rồi mình cố gắng mỉm cười, nhắc lại câu chuyện xảy ra hồi còn nhỏ, tới chỗ cuối mình lúng túng hỏi: “Cô còn nhớ chuyện đó không?” Hai mắt “en” chợt bừng lên một tia sáng mừng rỡ và ranh mãnh. “En” ngó nhanh về phía người chệt bán hàng sắp sửa bước đi, rồi nhìn mình nhoẻn cười: “Không nhớ!” Mình bạo dạn nói: “Chuyện đó làm tôi oán cô mãi”. “En” nói: “Bây giờ còn oán nữa không?” Tôi vội vàng đáp: “Còn chứ”.

— Trông cậu hiền lành ít mồm mép, thế mà lâm sự cũng biết xoay trở thế à?

Toàn cười hì hì hiền lành. Tôi đưa tay lên vuốt mặt một lần nữa: Sương lại ướt mặt nữa rồi, tôi kéo mép chăn lên chùi. Có một tiếng gì kêu đánh bộp rất nhẹ nhàng bên cạnh, không biết là bông cau rụng hay là một giọt sương ở đuôi lá rơi xuống đập lên mo cau nằm phơi ngửa cạnh gốc cây.

Câu chuyện tình của Toàn khiến tôi bồi hồi yên lặng nằm nhớ Loan. Toàn chuyển về đơn vị pháo binh đã ngót hai năm, anh đã dự nhiều trận đánh lớn, còn tôi thì nhập ngũ chưa bao lâu, một trận phục kích nhỏ cũng làm tôi suy nghĩ. Tôi hăng hái ra đi lính vì lời nói khích của một người con gái mau miệng, bây giờ tôi nằm đây nhớ về xóm làng, còn nàng, nàng làm gì ở đâu? Nếu người nằm bên cạnh tôi không phải là anh ruột nàng thì tôi đã không giữ nổi một câu hỏi thăm tò mò.

Nhưng Toàn nói tiếp:
— Chỉ nói với nhau bấy nhiêu, nhưng hình như cái tình hai đứa mến nhau nó đã âm thầm tích lũy tự lúc nào, chỉ chực khơi động đến là phát ra ngay. Trưa hôm ấy, mình trông thấy cái gì cũng rực rỡ huy hoàng. Nước sông sáng láy nháy lóng la lóng lánh reo vui. Một người chệt nữa bán trái cây đạp chiếc xe đi ngang qua, rao lố xố lố xố một hơi dài kỳ quặc. Mình tưởng như hai đứa đã là nhân tình rồi, yêu thương tràn ngập tâm hồn. Người chệt đi qua, mình cũng bắt chước đi theo. Cả buổi trưa mình đi ngang đi dọc, gần hết các con đường của Qui Nhơn: một con còng bị bánh xe cán nát trên đường thịt hãy còn tươi, dây antigone bò tràn trên vỉa hè, leo lên các cây keo tây, những cây dền gai mọc là sà trong các khoảnh vườn hoang, hoa đỏ nở giữa những gạch bể ngói bể của các ngôi nhà bị phá hoại, tiếng cát sạn kêu lụp bụp dưới bánh xe đạp đang cưỡi và mùi cà-phê phảng phất đuổi theo mình qua hai ba con đường phố... tất cả đều tăng thêm cảm tưởng yêu đời vui sống. Uống một cốc nước lạnh, nghe tiếng cưởng sáo kêu lớn trên mái ngói, trông những con sẻ sà xuống giữa đường... mình sung sướng chơi vơi. Cả buổi chiều, mình làm việc đầy hứng thú, vừa đặt những trái mìn, cài những quả lựu đạn để chực gạt giết người, mình vừa vui vẻ huýt sáo luôn mồm. Chiều, làm việc xong, mình lại đi lang thang trong thành phố, mình không thích rủ ai đi theo vì không muốn bận trí óc đối đáp chuyện trò, để được tự do nghĩ về “en” bất cứ lúc nào mình muốn. Nhưng gặp ai mình cũng vồn vã chào hỏi, trái với thường ngày mình hay tránh mặt những người quen biết, gặp những cái không đáng chú ý mình cũng dừng lại tò mò xem xét, như thể hôm đó, với một cái nhìn khoan hồng, mình khám phá được khía cạnh mới mẻ của sự vật mà thường ngày không biết đến. Có lần mình trèo lên một tòa lầu bị đập phá lở dở, ra ngoài sân thượng, đứng nhìn bao quát quang cảnh kỳ lạ của một thành phố mà nhà xi-măng, đường trải nhựa hãy còn ngang dọc ngay ngắn cố giữ kỷ luật cứng rắn của một sinh hoạt xã hội văn minh, nhưng cây cỏ hỗn độn đã muốn tràn tới lập lại cái hỗn độn tự do của rừng rú. Gió thổi pheo pheo trên lầu cao, một mình mình chót vót giữa khoảng cao vắng vẻ, tự nhiên mình muốn hát lên nghêu ngao. Trông những viên gạch bể nhểu loang một vệt đỏ lòm chảy dài xuống bờ tường, trông qua những cánh cửa long bản lề khép không che kín một vài đồ đạc trong nhà lỏng chỏng, bừa bãi... mình lấy làm khoái thích được tự do rộng rãi giữa sự hoang vắng. Tối đến, trong giấc ngủ chiêm bao thấy “en” ẩn hiện nhiều lần, mình có cảm tưởng giấc ngủ của mình mỏng lắm, nhiều khi thoáng thấy “en”, giật mình tỉnh dậy, sắp kêu tên “en” thành tiếng. Hình ảnh của “en” lảng vảng như một thứ hương thơm phảng phất xung quanh giấc ngủ nhẹ nhàng. Mờ sáng mình đã thức dậy và thao thức mãi, có một lúc không cầm giữ được sự vui sướng, mình nhỏm dậy, lấy tay nắm vào chót mũi của thằng bạn nằm bên, kéo một cái, nó giật mình vùng dậy, mình nhăn răng cười không biết cắt nghĩa ra sao...
— Cậu chưa nói rồi làm sao...

— Mà thành vợ chồng?

— Nhưng mà mình đã thấy rồi. Mê như vậy thì muốn thành gì cũng thành.

Toàn khoát tấm “ra” ngồi hẳn dậy, vừa cười hì hì vừa nói:
— Hút điếu thuốc đã, lạt miệng lắm, không thèm tiếc giấc ngủ nữa. Ờ, mà còn chỉ có nửa giờ, ngủ nghiếc gì được nữa. Cậu hút không?

Tôi vừa lồm cồm ngồi dậy vừa nói:
— Không. Cho mình mượn ve dầu Nhị thiên đường xoa tí cho ấm.

Toàn ngồi hút thuốc, khoanh tay ôm gối lặng lẽ. Đêm khuya im vắng, thỉnh thoảng có một tiếng bộp nhỏ, không biết là sương rơi trong lá hay là hoa cau rụng bên cạnh. Tôi muốn hỏi về Loan, mon men bắt đầu:
— Độ này cậu có được thư nhà không? Chú Phong làm gì?

— Nó vào tù.

— Ủa?

— Trong trận Tây đổ bộ lên Qui Nhơn, nó lẻn về, lấy lọ bôi mặt giả làm lính Tây đen đi cướp giật lặt vặt. Tây rút lui, bị phác giác, bị tù. Cái thằng không thể nói được...

— Giả Tây làm sao? chú Phong thấp bé loắt choắt như thế, ai thèm lầm?

Toàn không trả lời, ngồi yên lặng buồn rầu. Câu chuyện mới mở về hướng ấy đã gặp việc chẳng lành, tôi bỏ ý định thăm hỏi về Loan. Một lúc sau, tôi nằm xuống kéo chăn lên cổ, co người lại cho ấm, im lìm nhìn theo ngọn lửa đỏ bí mật thao thức di động trên ngọn núi xa đen thẳm. Toàn vẫn ngồi phía dưới chân, hút thuốc, một mình nghe ngóng tất cả cái mênh mông của rừng núi.

(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét