Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Hà Tường Cát/NV - Hải Quân Trung Quốc và những con thuyền không bến

Hình: internet
Chiếc tàu Qiandaohu  đầu tháng này phải đi vào cảng Albany miền Tây-Nam Australia, để tiếp dầu và thực phẩm cho các tàu Trung Quốc tham gia cuộc tìm kiếm chiếc máy bay hàng không Malaysia mất tích trên Ấn Độ Dương. Sự việc ấy  khiến người ta nhận ra rằng lực lượng hải quân Trung Quốc hãy còn thiếu hẳn một nhu cầu trọng yếu:  Căn cứ tiếp vận ở hải ngoại hay ít nhất là bến cảng hữu nghị sẵn sàng cho phép ghé vào khi cần.

Tàu tiếp vận Thiên Đảo Hồ của hải quân Trung Quốc. (Hình: Wikipedia/PLA Navy)

Các nhà hoạch định chiến lược của Trung Quốc hiểu rằng phải lấp khoảng trống ấy mới có thể đáp ứng tham vọng của Bắc Kinh là có một lực lượng hải quân viễn dương vào năm 2050.

Theo nhận định của ông Ian Storey, chuyên gia về an ninh khu vực thuộc Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á tại Singapore thì “Với dự phóng là sự hiện diện quân sự gia tăng, Trung Quốc cần phải chuẩn bị sẵn sàng những cảng loại đó giống như hải quân Hoa Kỳ đã làm”. Và ông thắc mắc: “Tôi có chút ngạc nhiên vì chưa thấy dấu hiệu nào là họ đã khởi sự những cuộc thảo luận về khả năng sử dụng lâu dài những bến cảng như thế, Cho đến nay chỉ là những trường hợp bột phát, trên căn bản thương mại. Rõ ràng là một lỗ hổng”.

Hoa Kỳ  trái lại đã thành lập một mạng lưới rộng khắp những căn cứ đầy đủ phương tiện từ Nhật Bản, Guam đến Diego Garcia ở Ấn Độ Dương, dựa trên hiêp ước liên minh an ninh chính thức hoặc thỏa thuận về ghé bến hay sửa chữa tàu, với các quốc gia bạn, bao gồm những bến cảng chiến lược Singapore và Malaysia.

Trung Quốc tích cực trong khả năng bảo vệ lợi ích chiến lược ở khu vực  Ấn Độ Dương,  Trung Đông và hướng tới cạnh tranh với Hoa Kỳ trong vùng Á Châu – Thái Bình Dương. Để tiến tới mục tiêu ấy, trong tình huống có căng thẳng, họ cần tới những căn cứ và bến cảng ở xa hơn là đảo Hải Nam, căn cứ hải quân cực Nam của Trung Quốc, cách nơi đang tìm kiếm MH370 hơn 4,000 hải lý. Một số công trình Trung Quốc đã xây dựng trên 18 mỏm đá và bãi ngầm chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa không thể coi là căn cứ hải quân, chỉ là những trạm quan sát hay liên lạc viễn thông. Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa với một sân bay nhỏ cũng không phát triển thành một căn cứ đủ tầm cỡ với lý do trước hết là ở một vị trí chẳng hơn gì Hải Nam.

Ngoại trừ mấy tàu ngầm nguyên tử, các chiến hạm của Trung Quốc hoàn toàn là loại động cơ sử dụng nhiên liệu quy ước và do đó tầm hoạt động có giới hạn. Hải quân Trung Quốc hiện có 4 tàu tiếp vân  lớp Qiandaohu (Thiên Đảo Hồ, tên một hồ nhân tạo rộng 570 km2 trong có hàng ngàn đảo ở tỉnh Chiết Giang) trọng tải 20,000 tấn. Tuy nhiên việc tiếp dầu cho các chiến hạm đang hoạt động là một công tác khó khăn và nguy hiểm khi biển động hay đang trong tình trạng chiến tranh. Hơn nữa không chiến hạm nào có thể đi quá lâu trên mặt biển vì sẽ làm thủy thủ mỏi mệt giảm sức chiến đấu.

Tìm một bến cảng để ghé lại nhận tiếp tế hay cho thủy thủ đoàn nghỉ ngơi là việc dễ dàng trong thời bình nhưng không phải trong thời chiến, kể cả hải cảng của các nước trung lập. Giáo sư Zha Daojiong môn bang giao quốc tế trường đại học Bắc Kinh nói rằng trường hợp các chiến hạm hải quân Trung Quốc tham gia chiến dịch chống hải tặc Somalia hay tìm kiếm máy bay mất tích là những hoàn cảnh đặc biệt, có thể ghé vào nhiều cảng ở Ấn Độ Dương hay Australia. Trong những năm gần đây, chiến hạm Trung Quốc gia tăng các chuyến ghé thăm hữu nghị nhiều quốc gia trên khắp thế giới, nhưng theo giáo sư Zha, Trung Quốc cần phải dàn xếp việc vào bến này thành những thỏa thuận chắc chắn và lâu dài.

Hai công tác quốc tế mà Trung Quốc vừa tham gia chứng tỏ tính cách thiết yếu của vấn đề tiếp vận cho hoạt động của các tàu hải quân. Trong công tác ở Somalia, hải đội đặc nhiệm Trung Quốc có hai chiến hạm và một tàu tiếp vận đi cùng, tại Australia Trung Quốc triển khai tới 18 tàu lớn nhỏ bao gồm chiến hạm, tàu hải tuần Haixun 01 và tàu phá băng Tuyết Long từ Nam Cực trở về.

Trong tương lai khi Trung Quốc có thể triển khai hàng không mẫu hạm vào hoạt động viễn dương, nhiệm vụ tiếp vận sẽ phức tạp hơn nhiều. Hiện nay chiếc Liêu Ninh là hàng không mẫu hạm duy nhất nhưng theo dự trù Trung Quốc sẽ đóng thêm ít nhất hai chiếc mới lớn hơn, có thể hoạt động từ thập niên 2020. Mẫu hạm Trung Quốc tuy vậy vẫn còn dùng động cơ quy ước và nhu cầu tiếp dầu cho hải đội ấy sẽ nặng nề hơn. Các chuyên gia hải quân và những nhà phân tích quân sự nhận định là sẽ còn phải nhiều thập kỷ nữa, ít nhất tới năm 2050, lực lượng hàng không mẫu hạm Trung Quốc mới có thể là thách thức cho hải quân Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, ở đây không thảo luận vể giá trị trong chiến đấu ấy, và hải quân Trung Quốc cũng chưa đặt kế hoạch xa vời đó vì họ cần tính toán thực dụng hơn, như lời giáo sư Zha. Giới chức Trung Quốc mạnh mẽ  bác bỏ cáo giác của một số phân tích gia Tây Phương và Ấn Độ rằng Bắc Kinh muốn tạo ra một “chuỗi ngọc trai” bằng cách tung tiền ra để phát triển một dãy bến cảng vùng Ấn Độ Dương ở Pakistan, Sri Lanka, Myanmar, Bangladesh.

Nhưng nhiều phân tích gia lại cho rằng Trung Quốc không thể hoàn thành mưu định này. Những cảng ấy không bao giờ thành căn cứ hải quân Trung Quốc, thâm chí cũng khó là thỏa thuận vũng chắc lâu dài về quyền sử dụng cho công tác tiếp vận. Để  thành đạt những kế hoạch ấy, cần có niềm tin cậy chiến lược bền vững và tình hình chính trị của các quốc gia này ổn định lâu dài.

Để kết luận, với đà phát triển nhanh, hải quân Trung Quốc chắc chắn sẽ có thêm nhiều chiến hạm. Nhưng hạm đội của họ chỉ là một hạm đội hoạt động cận duyên,  hay cao nhất là mối đe dọa đáng kể cho các nước trong khu vực Đông Nam Á. Về lâu về dài,  hạm đội viễn duyên Trung Quốc vẫn còn là những con thuyền không bến.  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét