Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Trùng Dương - Những mảnh đời đằng sau những bức hình nổi tiếng

Từ trái, “Cô bé A Phú Hãn”, 1984, Steve McCurry; 
“Cô bé Sudan”, 1994, Kevin Carter;  “Cô bé Napalm”, 1972, Nick Út. 
Vào mùa đông năm 1984, nhiếp ảnh gia Steve McCurry tháp tùng phóng viên Debra Denker của tạp chí National Geographic thăm một trại tị nạn Nasir Bagh ở Paskistan gần biên giới với Afghanistan (A Phú Hãn), nơi chứa hàng ngàn dân tản cư từ Afghanistan chạy tránh chiến tranh giữa các lực lượng kháng chiến Afghan chống lại quân Nga Sô xâm lăng thời bấy giờ. Tại đây McCurry đến thăm một lớp học và bị lôi cuốn bởi một cô bé khoảng 12 tuổi có đôi mắt mầu xanh nước biển trong suốt rất lạ. Cô giáo của cô, một phụ nữ bị mất một chân vì đạp phải mìn, cho biết cô bé tới trại sau hai tuần cùng người bà và mấy người anh em vượt núi phủ đầy tuyết tại biên giới tới Pakistan sau khi cha mẹ bị máy bay Nga Sô dội bom chết. McCurry xin phép chụp hình cô bé và hoàn tất trong vòng có vài phút.

Một trong những tấm hình chụp cận ảnh cô bé trong tấm khăn mầu đỏ quấn hững hờ trên đầu viền quanh khuôn mặt nhếch nhác với đôi mắt mầu lục trong suốt nhìn thẳng vào ống kính đã được Nat Geo chọn dùng làm bìa cho số báo ra tháng 6 năm 1985 để nói lên thảm cảnh dân tị nạn ở biên giới Afghanistan và Pakistan.
Bức chân dung của Cô Bé A Phú Hãn không tên với cái nhìn như xoáy vào lòng người đã trở thành biểu tượng của vấn đề dân tị nạn khắp thế giới, kể cả vấn nạn thuyền nhân Việt đang vào cuối thập niên 1970 tới giữa thập niên 1990 bấy giờ. Cái nhìn khiến có người ví với cái nhìn bí ẩn mê hoặc, ai-muốn-giải-thích-sao-cũng-được, của Mona Lisa trong bức tranh nổi tiếng La Joconde của danh hoạ Leonardo da Vinci.

Nhiều độc giả đã gọi điện thoại hay viết thư tới Nat Geo hỏi thăm về cô bé. Có người muốn biết cái gì đã xẩy ra cho cô bé; có người muốn biết làm thế nào để gửi tiền giúp cô bé; có người muốn nhận cô bé làm con nuôi; lại có vài thanh niên muốn tìm ra tông tích của cô bé và nói sẵn sàng kết hôn với cô nữa. Những câu hỏi, cũng như ánh mắt nhìn như xoáy vào lòng người  của Cô Bé A Phú Hãn khiến McCurry cảm thấy một thôi thúc phải đi tìm cho ra tông tích của cô bé mà khi chụp, McCurry không ngờ là bức hình có một sức mạnh khiến ai nhìn cũng cảm thấy như bị thu hút vào chiều sâu trong suốt vô đáy ấy.

Suốt thập niên 1990 A Phú Hãn, sau khi thoát khỏi cuộc chiến với quân đội Nga Sô, lại rơi vào sự cai trị hà khắc của chính phủ Hồi giáo cực đoan Taliban. McCurry đã có những nỗ lực tìm kiếm tông tích của Cô Bé A Phú Hãn song không thành công vì Afghanistan đóng cửa biên giới không cho báo chí Tây phương lai vãng.

McCurry cho biết tuy thế, “không một tuần nào qua đi mà chúng tôi lại không nhận được nhiều câu hỏi về Cô Bé A Phú Hãn đã ra sao, còn sống hay đã chết, và nếu còn sống thì ra sao.”

Cuộc truy tìm ‘Cô Bé A Phú Hãn’

Sau khi chính quyền Taliban bị quân Hoa Kỳ và đồng minh đánh đổ sau vụ khủng bố 9/11 năm 2001 của quân al-Qadea mà Taliban dung dưỡng tại Afghanistan cùng với trùm khủng bố Osama bin Laden, vào đầu năm 2002, khi nghe tin Pakistan sắp sửa đóng cửa trại tị nạn Nasir Bagh nơi McCurry đã chụp hình Cô Bé A Phú Hãn gần hai chục năm về trước, McCurry hướng dẫn nhóm làm phim truyền hình Explorer thuộc Nat Geo lên đường đi tìm cô bé. Qua nhiều ngày thăm dò với một số người còn trong trại, trong đó có cả cô giáo cụt chân đã dậy cô bé dạo nào, cuối cùng McCurry được một người nhận ra cô bé trong hình và giúp phái đoàn tới gặp người anh của cô bé. Người anh, với cặp mắt giống như mầu mắt của cô bé trong hình, cho biết cô em gái đã cùng với chồng con hồi hương từ năm 1992 sau khi quân Nga Sô rút lui. Anh ta tình nguyện về kiếm cô em và đem cô tới gặp McCurry và phái đoàn Nat Geo.

Cuối cùng, McCurry được tái ngộ với Cô Bé A Phú Hãn. Cô bé nay đã là một phụ nữ có chồng và ba con, tên thật là Sharbat Gula, lúc ấy vào khoảng 30 tuổi (bởi chính chị cũng không biết tuổi thực của mình). Mặc dù khi thấy Gula, McCurry nhận ra ngay nhờ cặp mắt không thay đổi bao nhiêu. Dù vậy Nat Geo cũng nhờ chuyên viên nhận diện con ngươi phân tích và so sánh cặp mắt trong tấm hình chụp năm 1984 với bức hình Gula chụp năm 2002, cũng như nhờ FBI làm một cuộc nhận diện khuôn mặt bằng máy vi tính. Cả hai thử nghiệm cùng xác quyết Gula và cô bé trong bức hình 1984 là một. (**)

“Cô Bé A Phú Hãn”, người mà nhiếp ảnh gia Steve McCurry của tạp chí National Geographic đã mất 17 năm để tìm ra tông tích. Hình bên trái, chụp năm 1984, cô bé Sharbat Gula lúc 12 tuổi, sau khi cha mẹ bị chết trong một trận dội bom của quân Nga Sô, cô cùng bà và mấy người anh em đi bộ suốt hai tuần vượt biên giới trên núi cao giữa mùa đông tới lánh nạn tại trại tị nạn Nasir Bagh trong lãnh thổ của Pakistan. Hình bên phải là chị Gula ở tuổi khoảng 30, đã có chồng và ba con gái, chụp vào năm 2002. Cả hai hình cùng do nhiếp ảnh gia Steve McCurry chụp, đánh dấu hai lần duy nhất trong đời chị được chụp hình. Gula không mong mỏi gi hơn là con gái của chị có cơ hội đi học, điều mà chị không có được vì chiến tranh và nghèo khó. (Ảnh Nat Geo)
McCurry đã xin phép chồng của Gula để phỏng vấn chị. Gula cho biết chị còn nhớ rất rõ hôm ở trại tị nạn được McCurry chụp hình vì đấy là lần đầu tiên chị được chụp hình, và nhớ cả cái khăn đỏ nhiều lỗ vì bị bén lửa trong lúc nấu ăn. Lần thứ hai trong đời Gula được chụp hình là khi McCurry muốn có hình của chị để thử nghiệm và so sánh với hình của năm 1984. Là chủ nhân của hình ảnh trong bức hình Cô Bé A Phú Hãn nổi tiếng khắp thế giới, thế nhưng Gula hoàn toàn không hay biết tí gì về việc bức hình của mình đã trở thành nổi tiếng khiến nhiều người muốn biết chị đã ra sao, có còn sống và đời sống như thế nào, cũng như ngỏ ý muốn giúp đỡ, đồng thời đã khiến nhiều người động tâm đóng góp giúp các nạn nhân chiến cuộc không chỉ ở Afghanistan mà còn ở các nơi khác.

Gula cho biết chị không có gì phàn nàn về đời sống dưới chế độ của Taliban, vì ít ra không còn chiến tranh. Đối với chị, cái áo chùm burka phủ từ đầu tới chân mà người phụ nữ phải mặc dưới chế độ Taliban thực ra đã giúp “che chở” chị khỏi nhiều phiền toái. Chị ước ao các con gái của chị có dịp đi học để có một cái nghề cho đời sống khá hơn là đời chị. Chị cũng ngỏ ý mong muốn các nhà từ tâm trên thế giới giúp đỡ dân tộc chị xây dựng lại đời sống sau các tai ương chiến tranh.

Sharbat Gula chụp với cuốn tạp chí Nat Geo số ra tháng 6 năm1985 có in hình của chị khi mới 12 tuổi. Suốt 17 năm bức hình đã trở thành nổi tiếng khắp nơi, và là biểu tượng của những người tị nạn trên thế giới; song chính chị không hề hay biết gì đến sự hiện diện của nó, cũng như không biết rằng Steve McCurry, tác giả của bức hình, đã cất công truy tìm tung tích chị trong suốt thời gian đó. (Ảnh Steve McCurry) Bên mặt, hình bìa của số Nat Geo tháng 4 năm 2002 trong có đăng bài về việc Steve McCurry cuối cùng đã tìm ra chủ nhân của hình ảnh Cô Bé A Phú Hãn sau 17 năm. (Ảnh Nat Geo)

Cuộc tìm kiếm Cô Bé A Phú Hãn đã được nhóm thực hiện phim Explorer thuộc Nat Geo Society làm thành phim tài liệu phát hành năm 2003, với tựa đề “The Search for the ‘Afghan Girl’,” (Cuộc truy tìm Cô Bé Afghan) dài 53 phút, hiện có thể xem trên YouTube (*). Và Nat Geo đã đăng tải câu chuyện liên hệ trong số báo ra tháng 4 năm 2002. Sau khi phim phổ biến, gia đình Gula đã phải thay đổi chỗ ở. Theo yêu cầu của gia đình Gula, nơi ở của họ được dấu kín vì họ muốn sống một cuộc sống bình thường.

Để ghi nhớ Gula, National Geographic đã thành lập một ngân quỹ gọi là Afghan Girls’ Fund, với mục đích giúp học bổng cho các bé gái có cơ hội học hành. Đến năm 2008 thì tổ chức này đổi thành Afghan Children’s Fund để giúp cả các em trai có phương tiện theo đuổi việc học vấn.

Nhân kỷ niệm sinh nhật thứ 125 năm của National Geographic, số tháng 10 năm nay, 2013, mang chủ đề “The Photo Issue” nói về sự quan trọng và tính cách nhân chứng của hình ảnh, một lần nữa, bức hình Cô Bé A Phú Hãn với cái nhìn như xoáy vào lòng người, lại được xử dụng làm bìa. Và người đọc không thể không dừng lại một chút lâu hơn nhìn vào đôi mắt trong suốt thăm thẳm…
‘Cô bé Sudan’
Không rõ khi phóng viên nhiếp ảnh McCurry đi truy tìm Cô bé A Phú Hãn của ông, ông có một phần nào dù rất nhỏ chịu ảnh hưởng bởi trường hợp Kevin Carter, một phóng viên nhiếp ảnh Nam Phi, và bức hình cô bé Sudan sắp gục xuống vì đói với một con diều hâu đứng trực sẵn ở hậu cảnh. Bức ảnh Carter tình cờ chụp được khi anh và một bạn đồng nghiệp chờ đi nhờ chuyến bay chở thực phẩm cứu trợ của Liên Hiệp Quốc để đi săn hình về nhóm phiến loạn đàng sau cuộc nội chiến bên cạnh nạn hạn hán đã đưa tới nạn đói khủng khiếp ở Sudan vào đầu thập niên 1990, nạn đói đã giết hại hàng trăm ngàn người.
Bức ảnh đã được tờ The New York Times mua và in nơi trang 3 số ra ngày 26 tháng 3, 1993 và sau đó được các báo khắp nơi trên thế giới tường thuật lại. Bức ảnh sau đó đã đoạt giải phóng sự nhiếp ảnh sáng giá của Pulitzer năm 1994, trở thành biểu tượng của nạn đói kinh hoàng ở Sudan dạo đó, và đồng thời cũng trở thành một trong những hình phóng sự đã gây nhiều tranh biện nhất. 
Trái, Kevin Carter, 1960-1994. (Ảnh Wikipedia) Phải, bức ảnh đã đem lại cho tác giả của nó giải nhiếp ảnh phóng sự Pulitzer sáng giá năm 1994, và những bất hạnh khác cho Carter. (Ảnh documentingreality.com)


Cũng như trường hợp của McCurry với bức hình Cô bé A Phú Hãn, liền sau đó độc giả đã tới tấp gọi tới tòa báo hỏi thăm cái gì đã xẩy ra cho cô bé. Nhiều người chỉ trích Carter là đã không làm gì giúp cô bé mặc dù đã trải qua khoảng 20 phút tại hiện trường, hình như hy vọng con kên kên xoè cánh để có một cái hình hay hơn. Bị vặn hỏi, Carter giải thích là anh ta đã được dặn dò là không nên đụng vào các nạn nhân bị đói để tránh bệnh tật, nên đã chỉ xua đuổi con kên kên đi sau khi chụp hình, và cô bé cũng đã bò tới được trạm cứu đói cách đó vài thước.

Greg Marinovich, một đồng nghiệp của Carter, người đoạt giải phóng sự nhiếp ảnh Pulitzer năm 1991 về một tấm ảnh một người da đen bị tình nghi là gián điệp đã bị đánh đập và đốt sống trong một trong những đụng độ đầy bạo lực tại Nam Phi khi còn dưới chế độ kỳ thị da đen (apartheid) của tập thể lãnh đạo da trắng, đã lên tiếng bênh vực Carter. Ông nói: “Phần vụ của [Carter] với tư cách một nhà báo, là trình bầy thảm cảnh của dân Sudan, đã hoàn tất, đúng ra là vượt quá cả hoàn tất. Chuyến bay [Operation] Lifeline Sudan [của Liên Hiệp Quốc] không chở Kevin và João [Silva, người đi cùng với Carter] đến Sudan để nhặt nhạnh và cho trẻ em đang chết đói ăn -- họ được đưa vào Sudan để tường trình về những gì khủng khiếp nhất của nạn đói và quảng bá đến mọi người.”

Dù vậy, Carter không thể không bị ảnh hưởng bởi những chỉ trích. Nếu McCurry của “Cô bé A Phú Hãn” (bức ảnh là một bức chân dung, nên không nằm trong loại những bức hình loại phóng sự) có khả năng và hỗ trợ của cả một hội có tên tuổi như National Geographic Society để đi tìm cô bé đằng sau tấm ảnh nổi tiếng đó, thì Carter, ngược lại, không có những điều kiện may mắn đó.
Carter sinh ra trong một gia đình người da trắng, lớn lên ở khu toàn da trắng thuộc thành phố Johannesburg, Nam Phi. Theo giõi những tin tức về cuộc tranh đấu của người da đen mà người lãnh đạo là Nelson Mandela vừa qua đời, Carter đã cảm thấy có gì không ổn. Khi Carter bỏ ngang việc học dược, anh ta bị động viên. Trong khi ở trong quân ngũ, một lần Carter thấy một người hầu bàn da đen bị một số quân nhân đối xử tàn tệ ở trong phòng ăn của trại, anh ta nhẩy vào can thiệp liền bị đánh đập. Bất bình, Carter bèn đào ngũ, nhưng sau vài thất bại ngoài đời vì tình trạng bất hợp pháp của mình, đành phải trở lại hoàn tất nghĩa vụ quân dịch. Sau khi chứng kiến vụ đánh bom của người da đen trong African National Congress chống lại chế độ kỳ thị của tập đoàn lãnh đạo da trắng vào năm 1983 ở Pretoria, Carter quyết định trở thành phóng viên nhiếp ảnh.
Cùng với các đồng nghiệp phóng viên nhiếp ảnh Greg Marinovich, Ken Oosterbroek và João Siva, bộ bốn thanh niên da trắng này họp lại thành một nhóm được mệnh danh là the Bang Bang Club, là những người không quản hiểm nguy chạy tới những nơi có súng nổ (trong khi thiên hạ chạy đi) để thu hình, cung cấp cho các báo Tây phương để có dịp trình bầy với thế giới sự tàn bạo của cuộc nội chiến ở Nam Phi giữa một đa số da đen đòi quyền sống và một thiểu số da trắng kỳ thị và thống trị. Dù muốn dù không, loạt hình của nhóm Bang Bang Club đã đánh động lương tâm thế giới về chế độ kỳ thị chủng tộc phi nhân và phi lý của Nam Phi, và đã góp phần vào cuộc tranh đấu nhằm thay đổi chế độ này của người Nam Phi, với phần lớn là gốc da đen, do Nelson Mandela lãnh đạo.
Thường xuyên chứng kiến và thu vào ống hình những cảnh con người đối xử tàn bạo với con người đã ảnh hưởng tới tâm lý của người phóng viên nhiếp ảnh. Thêm vào đó là áp lực của những bình phẩm về thái độ gọi là tắc trách đối với cô bé trong bức hình đã đoạt giải Pulitzer. Tờ St. Peterburg Times ở Florida, trong một bài bình luận, đã thống trách Carter: “Người đàn ông này đã điều chỉnh ống kính để thu vào gọn trong khung hình nỗi khổ đau của cô bé, có khác nào một tên săn mồi, một thứ kên kên khác trong cảnh trên.”
Nghèo đói, nợ nần, lại bị ảnh hưởng bởi thuốc, Kevin rơi vào tình trạng trầm cảm trầm trọng. Vào ngày 27 tháng 7, 1994, vài tháng sau khi lãnh giải Pulitzer, ở tuổi 33, Carter lái chiếc pickup của mình tới một nơi anh hay tới chơi hồi còn nhỏ, tự vẫn chết bằng hơi độc mà anh ta dẫn bằng một cái ống từ ống khói của xe qua cửa sổ vào chỗ tài xế ngồi.
Carter để lại một lá thư tuyệt mệnh, có đoạn như sau: “Tôi vô cùng xin lỗi. Sự đau đớn của đời sống đã lấn lướt niềm vui đến đỗi niềm vui không còn hiện hữu nữa… tuyệt vọng… không điện thoại… tiền trả tiền thuê nhà… tiền trả cho con… tiền trả nợ… tiền!!!... Tôi bị ám ảnh bởi những ký ức sống động về các vụ giết người và tức giận và đau đớn… của trẻ em chết đói hay bị thương tích, về những người điên nổ súng và hể hả trong việc bắn giết, thường là cảnh sát, của những tên hành quyết khát máu… Tôi đi để đoàn tụ với Ken [Oosterbroek, một đồng nghiệp trong nhóm Bang Bang Club bị tử thương trước đó một thời gian ngắn khi cùng với Carter đến thu  hình một vụ xung đột], nếu tôi được may mắn như anh ấy.” Và Carter đã toại nguyện.
Bi kịch Kevin Carter trong bối cảnh Nam Phi trong thời kỳ còn chế độ “apartheid” (chế độ này chỉ chính thức kết thúc bằng cuộc bầu cử lịch sử vào năm 1994 với việc thắng cử của cố Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, Nelson Mandela), cũng như đời sống đầy hiểm nguy của các phóng viên nhiếp ảnh đã được Greg Marinovich và João Silva ghi lại trong cuốn hồi ký “The Bang-Bang Club – Snapshots from a Hidden War”, xuất bản năm 2001, khá lôi cuốn, với nhiều cảnh bạo lực khiến một người nhậy cảm có thể không chịu được. Năm 2010, đạo diễn Steven Silver thực hiện thành phim cùng tên, nhưng không thành công lắm. Cái chết của Carter cũng đã là chủ đề của một cuốn phim tài liệu ngắn khoảng nửa tiếng, tựa là "The Death of Kevin Carter: Casualty of the Bang Bang Club" ( 2006), do Dan Krauss thực hiện. Phim đã được đề cử vào tranh giải Oscar dành cho phim tài liệu ngắn cùng năm.
Trái, bìa cuốn hồi ký “The Bang Bang Club – Snapshots from a Hidden War”, xuất bản lần đầu năm 2001, của phóng viên nhiếp ảnh Greg Marinovich và João Silva, hai trong bốn người sống sót của nhóm The Bang Bang Club. Giữa, bích chương của phim “The Bang Bang Club” (2011) do Steven Silver đạo diễn, dựa trên cuốn hồi ký cùng tên. Trong bích chương, người đứng giữa là tài tứ Taylor Kitsch, gốc Canada, thủ vai Kevin Carter. Và phải, bích chương phim tài liệu “The Death of Kevin Carter – Casualty of the Bang-Bang Club” do Dan Krauss thực thiện vào năm 2006.
‘Cô bé Napalm’
Trong ba bức hình nổi tiếng chọn cho bài viết này, bức “Cô bé Napalm”, do phóng viên nhiếp ảnh Nick Ut chụp và đã đoạt giải ảnh phóng sự Pulitzer năm 1972, đã mang lại cho người chụp cũng như đối tượng những kết quả tích cực và cảm động hơn cả.
Vào một ngày tháng 6 năm 1972, trong một trận dội bom xuống một làng ở Trảng Bàng, Nam Việt Nam, nơi đã bị Cộng quân tấn công và chiếm đóng, phi cơ của bên Việt Nam Cộng Hoà đã lầm tưởng một nhóm cư dân chạy tránh bom đạn và đã thả bom lửa lầm xuống họ, giết chết một số người và làm bị thương một số người khác. Phan thị Kim Phúc, lúc ấy mới 9 tuổi, quần áo bị cháy hết và cô bị phỏng nặng. Phóng viên nhiếp ảnh Nick Út của Associated Press đã chụp được bức hình đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến tại Việt Nam. Bức hình đã được trao giải Pulitzer cùng năm.
Khác với  McCurry, tác giả “Cô bé A Phú Hãn”, và Carter, tác giả “Cô bé Sudan”, Nick Út có dịp giúp đỡ cô bé Phúc và các nạn nhân khác bằng việc tìm phương tiện đưa họ tới nhà thương, và sau đó theo giõi cuộc đìều trị của họ, đặc biệt của Phúc, người bị phỏng nặng hơn cả. Sau 14 tháng điều trị với 17 lần mổ, Kim Phúc bình phục và trở về làng mình, nơi khi nào có dịp Nick Út ghé thăm. Rồi họ mất liên lạc khi Nick Út di tản ra khỏi Việt Nam khi biến cố 30 tháng 4, 1975 xẩy ra.
Kim Phúc ở lại, trở thành một công cụ của chính quyền cộng sản nhằm tuyên truyền về “tội ác của Mỹ Nguỵ”. Song cũng nhờ vậy mà Kim Phúc có dịp được phép của nhà nước cho đi học ở Cuba vào năm 1986. Tại đây, cô quen biết với Bùi Huy Toàn, vị hôn phu tương lai của cô. Năm 1992, hai người thành  hôn và lên đường đi Moscow hưởng tuần trăng mật. Khi chuyến bay của họ phải dừng lại ở Gander, Newfoundland, thuộc Canada, để đổ xăng, hai vợ chồng tìm cách trốn khỏi máy bay và xin tị nạn chính trị ở Canada. Hiện hai vợ chồng sống tại Ajax, Ontario gần Toronto và có hai con. Năm 1996 họ trở thành công dân Canada. Năm sau, 1997, Kim Phúc thành lập Kim Phuc International Foundation (www.kimfoundation.com/‎) nhằm giúp các trẻ em nạn nhân chiến tranh bị thương tích cần chữa trị ở ngoại quốc. Kim Phúc đã đi nói chuyện ở nhiều nơi, đã là đề tài của nhiều bài báo, sách, phim, bài hát, trong đó có cuốn “The Girl in the Picture: The Kim Phuc Story, the Photograph and the Vietnam War” của Denise Chong, xuất bản năm 1999, và bài hát “The Girl in the Picture” do nhà soạn nhạc người Belgium Eric Geurts viết tặng Kim Phúc vào năm 2003.

Vào ngày 28 tháng 12 năm 2009, đài phát thanh National Public Radio phát thanh khắp nước Mỹ bài nói chuyện đơn sơ song cảm động của Kim Phúc, tựa là "The Long Road to Forgiveness / Hành trình dài dẫn tới sự tha thứ" (***) trong loạt chương trình "This I Believe".

Kim Phúc cũng đã gặp lại những người đã giúp đỡ cô khi bị nạn, như các bác sĩ đã chữa trị cô ở Việt Nam, các phóng viên quốc tế đã giúp cô lúc bị nạn và phổ biến trường hợp của cô như một trong những trẻ em nạn nhân của chiến tranh.
Và đã hẳn là cô cũng gặp lại người phóng viên nhiếp ảnh Nick Út, hiện vẫn cộng tác với hãng thông tấn AP. Cả anh lẫn Kim Phúc là những người may mắn đằng sau bức hình “Cô bé Napalm” vì họ còn duy trì được một liên hệ cho tới nay, 42 năm kể từ khi bức hình lịch sử được toàn thế giới biết đến. [TD, 02/2014]
    
Trái, bức hình mệnh danh là “Cô bé Napalm” do phóng viên nhiếp ảnh của Associated Press Nick Út chụp khi Phan thị Kim Phúc bị nạn, lúc ấy cô mới 9 tuổi, tại Trảng Bàng, Nam Việt Nam, vào ngày 8 tháng 6, 1972. Bức hình đã được chọn trao giải Pulitzer cùng năm. Từ trái, em trai của Kim Phúc, Phan Thanh Tâm, bị mù một con mắt sau tai nạn, em trai út Phan Thanh Phước, Kim Phúc, hai người em họ Hồ văn Bôn và Hồ thị Tịnh. Đằng sau các em là những người lính Việt Nam Cộng Hòa thuộc Sư đòan 25 Bộ Binh. Hình giữa, Nick Út trở lại thăm Kim Phúc tại nhà cô bé ở Trảng Bàng vào năm 1973. Hình bên phải, Nick Út hội ngộ với Phan thị Kim Phúc tại Buena Park, Calif., vào ngày 2 tháng 6, 2012, nhân ngày kỷ niệm bức hình “Cô bé Napalm” được 40 tuổi. Người ngồi bên trái là Bác sĩ Lê Mỹ, người đã chữa trị cô bé Phúc hai ngày sau tai nạn bom lửa. (Ảnh Nick Út, AP)

Chú thích:
(*) Phim tài liệu “The Search for the ‘Afghan Girl’,” hiện có trên You Tube, tại http://www.youtube.com/watch?v=kQyTgIWQbiU&list=PL6839B65DB79FF302&index=1
(**) Tìm hiểu thêm về phương pháp nhận diện bằng con ngươi: “How iris-recognition works,” http://www.cl.cam.ac.uk/~jgd1000/irisrecog.pdf; và bằng nét mặt,  http://en.wikipedia.org/wiki/Facial_recognition_system



1 nhận xét: