Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

Võ Phiến - Người Viết Với Cuộc Sống*

 Võ Phiến - 

Anh Trần Doãn Nho ơi,

Anh tha lỗi cho tôi nghe. Thế này là bậy quá. Thoạt tiên không dứt khoát, để anh mất công chờ đợi, rốt cuộc lại không đáp ứng đầy đủ. Nhảm ơi là nhảm. Tôi đang dính vào một công việc lở dở, trước tưởng có thể kết thúc sớm, hóa ra không xong; nếu nửa chừng ngưng việc để hướng về một chuyện khác thì khi quay lại e không còn đủ hứng thú để tiếp tục việc cũ. Mà như vậy lúc nào cũng lụp chụp vội vã, không cái nào ra cái nào.


Nhà văn Trần Doãn Nho

Các vấn đề anh nêu ra liên quan đến việc sáng tác — kinh nghiệm hay kiến thức, cảm hứng hay suy tưởng, bên nào quan trọng hơn? nhân vật hay cốt truyện hay tư tưởng, cái nào trước cái nào sau? vai trò của kỹ thuật dựng truyện v.v... — các vấn đề ấy trong mấy chục năm qua tôi cũng có những lần nghĩ tới. (Vả lại chắc hầu hết các anh chị em cùng viết lách thỉnh thoảng đều có nghĩ tới; sao cho khỏi.)

Nghĩ đi rồi lâu lâu nghĩ lại, lúc này có giải đáp này, lúc khác, dăm ba năm sau, cùng một vấn đề ấy lại có ý khác. Hoàn cảnh thay đổi, những kinh nghiệm tiếp nhận thêm, sách báo đọc thêm, những dạy bảo thêm của nghề nghiệp... làm chúng ta thay đổi thái độ. Thành thử mỗi lần phát biểu lại phải mỗi lần soát xét, cân nhắc, không thể xài ý cũ. Do đó lần này xin anh cho tôi khất nợ. Lúc nào thư thả, rồi chúng ta sẽ suy nghĩ dông dài về từng vấn đề anh đã nêu ra. Còn bâygiờ, tôi xin được lảng sang một ý kiến chung chung.

Chung chung, tôi có cảm tưởng đối với người viết lách thì một thái độ về cuộc sống là quan trọng hơn cả. Có thiết tha, có say mê, có nồng nàn với cuộc sống, bấy giờ hãy nghĩ tới chuyện viết. 

Thiết tha với cuộc sống là thế nào? — Đó không phải là ham sống, là yêu đời; không phải là hăng hái hưởng lạc hết mình, là cắn soàm soạp vào trái ngọt trần gian; cũng không phải là ưu thời mẫn thế, cúc cung tận tụy lo cho đời, dốc lòng cải thiện xã hội v.v... Tôi không có ý nói đến những cái thiết tha như thế. Ý tôi muốn nói... Nhưng mà giãi bày bằng lời lẽ e chỉ gây thêm rắc rối. Chi bằng lấy một số thí dụ cụ thể.

Chẳng hạn trong trường hợp Tolstoi, có người đã đếm được trong một pho truyện hàng trăm biểu thị khác nhau trên khuôn mặt nhân vật Anna Karénine. Ngoài nét mặt ra, người đàn bà đẹp đẽ ấy còn bao nhiêu chỗ đáng chú ý khác. Cậu bé Serge, sống xa mẹ, có lần nhớ đến bờ vai khỏe mạnh của người mẹ trẻ. Hôm Anna tới nhà Oblonski để dàn xếp vụ vợ chồng nhà này giận nhau, lúc thiếu phụ lột chiếc mũ trên đầu xuống, một sợi giải mũ dính vào lọn tóc, nàng ngửa mặt lắc lắc đầu để lọn tóc bung ra, người chị dâu đau khổ lúc ấy đứng bên cạnh nàng buột miệng kêu là trông nàng cứ rực lên cả hạnh phúc lẫn sức khỏe... Người đọc có cảm tưởng ông tác giả này hau háu theo dõi Anna đêm ngày không lúc nào rời, không bỏ qua một cử chỉ nhỏ mọn, vô nghĩa nào. Anh coi, thế này có quá quắt không? Anna Karénine đến nhà, gặp anh chồng tội lỗi rồi, gặp chị vợ khốn đốn rồi, gặp đám trẻ con rồi, phút chờ đợi bắt đầu: độc giả chờ xem nàng xoay trở kiểu nào để bắt vào câu chuyện đổ vỡ. Tolstoi kể: Cà-phê được mang ra phòng khách, Anna đưa tay định lấy một tách bỗng dưng đẩy tách cà-phê ra, nói: “Dolly này, mọi sự cậu ấy đã kể với tôi cả rồi.” Ấy là về một cái đẩy tay. Lần khác, về cái hơi thở. Lúc bấy giờ đối với Vronski thiếu phụ đã mết nặng, nhưng một bên chồng con một bên tình nhân nàng chưa dứt khoát. Trong một đêm thao thức bên cạnh ông chồng già, nàng nghe ông phát tiếng ngáy yên lành đều đặn, thình lình tiếng ngáy chợt dứt ngang như thể ông ta giât mình, sau đó lại khò khò đều đều yên lành. Thiếu phụ nằm yên lặng hồi lâu, nhận thấy là sự thể đã rõ ràng, nàng không còn lui bước được nữa. Muộn mất rồi: Hình ảnh Vronski đã choán đầy tâm trí nàng. Trong bóng tối, bên cạnh tiếng ngáy đều đều của chồng, nàng tưởng chừng đôi mắt mình long lanh hai điểm sáng.

Không phải gái đẹp trai hùng mới được ngắm kỹ tả kỹ. Các con chó trong tác phẩm Tolstoi cũng được đãi ngộ tử tế hết sức. Con Crac của Oblonski, nhất là con Mignonne của Levine linh động quá trời. Lúc thì nó sủa om sòm và nhảy múa nhắng nhít để bày tỏ sự tán thưởng quyết định về chuyến săn của chủ; lúc nó sốt ruột hướng cái nhìn khiển trách vào cửa phòng những ông khách rề rà chậm trễ; một ông khách mở cửa bước ra, nó phóng tới hoan nghênh và ngước mõm nóng nảy tỏ ý dò hỏi: “Còn các ông kia? sắp ra chứ gì?” Đến “chiến trường” lúc thì nó thận trọng lúc hớn hở, có lúc nhận một mệnh lệnh mà nó nghi ngờ, cho là sai lầm, nó ngần ngừ phản kháng, rồi vâng lời miễn cưỡng, thi hành qua quít, xong bướng bỉnh quay về với ý riêng. Lúc khác, nó nhóng tai nghe ngóng, thấy có dấu hiệu chim sắp đến mà chủ lại trò chuyện khua khuống, nó quất về phía chủ một cái nhìn bất bình. Lần nọ Levine đi Mạc-tư-khoa cầu hôn, thất bại. Giữa đêm chàng về tới trang trại, con chó già mừng quýnh. Chủ bận việc, nó xông ra ngoài, chạy tứ tung, sủa inh ỏi khắp mọi nơi; vẫn chưa tiêu hóa hết cơn vui, nó lại ào vô, dúi đầu vào tay chủ kêu ư ử. Bà vú già bảo cho Levine hiểu là con Mignonne vừa mừng chủ vừa biết chủ đang buồn phiền. Levine chăm chú nhìn con chó, chủ và chó trao đổi cho nhau sự an ủi, mỗi bên theo cách riêng. Tình cảm, cử chỉ, âm thanh phong phú biết bao. Người trăm vẻ người, chó cũng mấy chục vẻ chó khác nhau chứ ít sao!

Chó như thế, bò cũng thế, thua gì. Con Paonne đến ngày nở nhụy khai hoa được chủ cưng không ngại sớm khuya. Rồi con bê con, bé gái sơ sinh của nó, càng được quí được cưng hơn nữa. Thậm chí bé bỏng vô nghĩa như một con ong nhỏ trong buổi sáng tinh mơ trong trẻo vắng lặng ở một vùng đầm lầy nọ bỗng đâu lạng quạng chạm vào vành tai của Levine kêu véo một tiếng như viên đạn bay qua cũng được ghi nhận tức khắc.

Người, với chó, với bò, với ngựa, ong, chim chóc... là sinh vật. Vào truyện làm... nhân vật, hoặc được, hoặc tạm được cả. Còn rong rêu, con suối nhỏ tuyết vừa tan nước khe khẽ róc rách, lá khô cựa mình vì băng rã vì cỏ non đội nẩy lên... Những máy động kín đáo trong rừng sâu vào một chiều đầu xuân, những cái đó Tolstoi chiếu cố cũng kỹ càng quá lắm.

 Như vậy là vì lẽ gì? Một chút ngập ngừng của bàn tay, một vấp váp của hơi thở, một cái tai chó, một tiếng lá khô cựa mình... cũng không thoát khỏi bị rình rập đón bắt. Vì lẽ gì?

Lập được thành tích ấy, thiết tưởng có hai cách: Hoặc quan sát tận lực, quan sát không ngừng, vừa xông pha hết mình vừa khổ luyện mọi giác quan cho rất mực tinh tường. Hoặc tình cờ tự dưng thừa hưởng một niềm say mê cuộc sống, từ thuở khai sinh mở mắt ra đã “phải lòng” ngay cuộc sống, bất cứ giờ phút nào cũng bị cuộc sống thu hút, lấy sự cảm nhận mọi diễn biến của cuộc sống xung quanh làm cái sinh thú cho mình. Một đàng là lương tâm chức nghiệp, là sự tận tụy với nghề; một đàng là cái nồng nàn đối với cuộc sống. 

Anh Doãn Nho ơi, trong hai trường hợp không biết ý anh thế nào; riêng tôi, tôi thấy nếu sa vào trường hợp thứ nhất thì văn chương là một công việc chán ngán không biết chừng nào. Ngày ngày đi xục xạo vào xưởng này sở nọ, vào khắp các địa bàn hoạt động của xã hội, trông và nghe, và ghi ghi chép chép. Đưa vào sách, có chọn lựa cân nhắc, tất nhiên tài liệu ấy sẽ làm phong phú trang sách; nhưng kẻ kém tay nghề có thể đưa ra những bản liệt kê làm nhụt chí thưởng thức của độc giả đa! Hít vô cái phì thở ra cái phò, duỗi tay ra co tay vào, chó nguẩy đuôi, bò đẻ bê v.v..., ngày ngày vẫn xảy ra, cái nào hay ho cái nào lảng nhách, sự biện biệt khó ơi là khó. Tôi nghĩ Tolstoi không ở vào trường hợp ấy.

Tôi tưởng tượng ông như một tình nhân say mê đắm đuối cuộc sống, tự động vô ý thức bám riết lấy cuộc sống. Mọi dạng vẻ của cuộc sống, mọi máy động của sự sống quanh mình đều khích động ông. Các giác quan của ông chúng luôn luôn tỉnh thức, chúng tở mở đón nhận, ghi khắc mọi biến hiện, từ một con ong bay, một nét giận dữ, từ giây phút quằn quại của người hấp hối, đến những run rẩy đợi chờ của lúc tỏ tình v.v... Cái ông có trong trí, ông viết ra trên giấy, cái đó không phải là những ngón nghề tập dượt thành thạo, là kết quả săn tìm; mà là cái tình nó sôi nổi trong ông. Là do cái bẩm sinh nơi ông. Sao có thể bảo ông thuộc trường hợp này không thuộc vào trường hợp kia, ông là thế này mà không là thế khác? Nói cho ra lẽ chắc cũng vất vả, chi bằng đưa ra tí chút sự kiện cụ thể.

Chẳng hạn về lá cỏ non mới nhú, về chiếc lá già cựa mình dưới tuyết, về con ong bay chạm vành tai đánh véo..., những cái ấy đâu phải nhân một chuyến đi thực tế hay dăm bảy chuyến về nông thôn mà ghi nhận được. Tolstoi bảo nhân vật Levine tiếp nhận cái tình yêu nông thôn từ dòng sữa của chị vú vốn là thôn nữ; thế còn ông? cái say mê thôn dã của chính ông, ông không nói nó vào máu huyết từ bầu vú nào; nhưng trong một lá thư gửi cho bà nhà, ông viết: “Anh chỉ mong sao em cảm thấy được lấy một phần mười thôi cái tình yêu của anh đối với đồng quê.” Tình anh mà đến thế thì tài (quan sát) của anh ai dám bì?

Lại chẳng hạn cảnh đám cưới của cặp Levine – Kitty, cái đám cưới chiếm hơn mười trang sách, Strakhov kêu là lần đầu tiên trong văn học Nga có một hôn lễ được mô tả kỹ đến thế. Con người yêu cảnh thôn dã, yêu thiên nhiên, mến nông dân lam lũ, người ấy ngắm nghía cảnh xa hoa lộng lẫy của giới thượng lưu quí tộc đô thị hồi nào? cố gắng ngắm nghía được bao nhiêu lần mà thu hoạch chi tiết lớn lao vậy? “Là tài? Đâu phải! Là tình đấy thôi.” Vâng, vẫn là tình. Bởi vì ông Tolstoi yêu thiên nhiên nọ cũng chính là chàng trai dòng dõi quí tộc cốt cách hào hoa từng một thời quen mặt ở các hội hè đình đám, từng thốt ra với hoàng thân Obolenski câu tâm sự: “Anh xem: trong một bộ trang phục dạ hội có bao nhiêu là thi vị, thậm chí những đóa hoa cài áo cũng ngụ biết bao vẻ cao nhã, biết bao ý tình, biết bao quyến rũ.”

Anh Doãn Nho, anh có đọc Hồ Trường An không? Tôi đoán chừng cụ Tolstoi rành rẽ về gấm vóc, lụa là, áo quần, vòng, xuyến, ngọc thạch, kim cương v.v... của phụ nữ cũng gần bằng Hồ Trường An của chúng ta. Dám lắm.

Lại nữa, chẳng hạn trong Anna Karénine có mấy cuộc đi săn đều chật ních tình tiết: về chó, về chim, về trời đất, cỏ cây, đầm lầy... Thì săn bắn cũng lại là một say mê của Tolstoi nữa. Về già ông thành tổ sư đạo lý, chừa thói trăng hoa, quyết sống thánh thiện từ bi; có độ ông lại bị ám ảnh vì cái chết, để đề phòng những cơn khủng hoảng tai hại, ông xa lánh các phương tiện tự tử (cây súng, dây thừng, thòng lọng); bấy giờ ông không bắn chim bắn thú nữa, những lúc “túng” quá ông cất súng, xua chó chạy không, một người một chó chạy cho đỡ ghiền. Người ấy với chó, với chim muông, mật thiết với nhau quá chừng. Chim hiểu chó, chó hiểu biết động tĩnh của chim; người thông cảm chó, chó cảm thông từng thói quen của người. “Họ” ăn khuôn ăn rập với nhau.

Thành thử mỗi sở trường phô bày ra trên sách tương ứng với một yêu thích “bẩm sinh” nơi con người tác giả. Yêu thích sẵn có nơi con người, không phải tài nghệ trau dồi của nhà văn.
  
Anh Doãn Nho à, tôi vừa đọc lại từ đầu lá thư, và phát giác thêm một cái nhảm nữa: Ngoài người bạn Hồ Trường An tôi chỉ nói mãi về một cuốn truyện của ông cụ Tolstoi. Muốn chứng minh bất cứ điều gì mà chỉ dẫn ra độc một chứng cứ, một trường hợp thì yếu quá. Lỡ đó là trường hợp hãn hữu, đặc biệt, thì sao? Nhưng muộn rồi. Giờ là lúc tôi mệt, tôi bết, tôi nhừ xương rồi, lòng chỉ mong tới chỗ kết thúc, còn dông dài gì nổi nữa.

Dù sao, không nên quá đáng. Tôi nghĩ tới ông Thanh Tâm Tuyền với câu thơ “Vang vang trời vào xuân”. “Vào xuân” đây là cả đất trời, càn khôn thiên địa cùng vào; bảo vang vang, bảo chấn động khắp nơi là phải quá. Nhưng cái vang vang ấy chừng độ bao nhiêu décibel? Chung quanh Thanh Tâm Tuyền đố ai mà biết! đố ai nghe được! Thế nhưng ông thì ông nghe. Ông nghe, ông tri hô lên, và chúng ta “bắt được” ngay, thấy rõ ngay. Cái nghe ấy của Thanh Tâm Tuyền không phải cái nghe bằng tai, mà là bằng cả cái nồng nàn đối với cuộc sống.



Tiếng trời vang vang vào xuân khó nghe, đàn bồ nông ở phá Tam Giang khó thấy. Phá Tam Giang trước ông Nội tán đã nổi tiếng, sau ông Nội tán càng thêm nổi tiếng khắp dân gian Nam Bắc, nhưng đâu có ai nói về những đàn chim đông đảo vừa bồ nông vừa hạc vừa hải âu bay “nằng nặng, buồn buồn”, bay “đầy cả trời”. Trời hoang vu lặng gió, phá rộng mênh mông không bờ bãi, bồ nông bay mệt mỏi, “như thở dài, như hấp hối!” “Buồn đến rợn người.” Những đàn chim như thế từ đời nọ tới đời kia chẳng ai thấy, ông Phan Nhật Nam đến phá Tam Giang một lần, ông thấy (“Quê hương và người Huế”).

Đàn bồ nông bay mệt mỏi của Phan Nhật Nam là thế, con gà mái già tác ầm ĩ trong sân của Lê Minh Hà cũng đại khái là thế. Trai gái hờn nhau, bước đi vung vẩy khiến gà già giận dữ. Gà tác thì ầm ĩ, nhưng đứa trẻ dăm mười tuổi dù thính tai đến đâu đố có trẻ nào bắt được: phải từng có xúc cảm yêu đương mới ghi nhận và ghi nhớ một tiếng gà như thế. (“Những triền xưa ai đi”). Tức phải thấy bồ nông bằng tâm hồn, nghe gà mái bằng tấm lòng. Không bằng tai bằng mắt.

(“Vang vang trời vào xuân” của Thanh Tâm Tuyền là thơ, bồ nông phá Tam Giang của Phan Nhật Nam là ký. Như thế cái thiết tha với cuộc sống nó hậu thuẫn bất cứ bộ môn nào. Nó không phải chuyện riêng của các tiểu thuyết gia.) 

Vừa rồi là chuyện tiếp nhận những âm thanh, hình ảnh, những người vật đất trời... Là cho rằng phải có thái độ thiết tha với sự sống mới bắt được những biểu hiện để xây dựng nên nhân vật này khung cảnh nọ một cách sống động trong tác phẩm. Như vậy e chưa đủ. Vì ngay cả đến đề tài sáng tác, nội dung tác phẩm, lý do sáng tác, cũng do thái độ ấy thôi.

Anh Doãn Nho, anh nghĩ coi: Nếu không say mê, không nồng nàn với cuộc sống thì liệu có gì khiến Tolstoi viết một câu chuyện ngoại tình không? khiến Thạch Lam viết về một cơn giận không? Ơ hay! giận thì lúc nào quanh mình chẳng có giận hờn? giận người, giận mình, giận có cớ, giận không cớ; giận rồi gây, chửi mắng nhau, đánh chém nhau, rắc rối đã đời. Còn ngoại tình: có cơ hội có điều kiện món ấy vẫn nẩy sinh tốt, gặp trở ngại gay cấn thì khựng; chuyện như thế xảy ra đều đều, ai khiến mình vắt óc nghĩ ngợi hàng đôi ba năm trời về một vụ rồi cong lưng viết mệt ngất ngư?

Nói thế là nói theo luận điệu những người dửng dưng. Còn đối với kẻ trót “phải lòng” cuộc sống thì mọi động tĩnh xảy ra quanh mình đều làm họ giật mình, xúc động. Cơn giận, cuộc tình, niềm thất vọng, nỗi hân hoan, trận đau, cái chết... của ai đó, thảy đều là những diễn biến của cuộc sống. Thảy đều có thể khiến cho lòng họ xao động, phập phồng. Người đời tỉnh bơ; họ thì nhẩy nhổm.

Trong nhật ký của cụ bà Tolstoi có trang ghi đại khái rằng: “Chiều hôm qua nhà tôi bảo có trông thấy một phu nhân quí phái đã có chồng mà sa ngã...” Thế là ông cụ bị ám ảnh mãi, ba năm sau một cuốn truyện về ngoại tình được bắt đầu. Trước khi ông chấp bút một năm có nàng thiếu phụ láng giềng bị tình nhân phản bội, nàng đâm đầu vào xe lửa; ông cụ tới tận nơi dự kiến cuộc giải phẫu thi thể. Hình ảnh thê thảm ấy bám riết theo trí ông, năm năm sau nó xuất hiện trong cái chết của Anna Karénine.

Như vậy kể từ lúc tâm trí bắt vào câu chuyện ngoại tình cho tới suốt những năm tháng làm công việc kể lại tỉ mỉ từng cái rụt tay cái ngáy hụt hẫng, nhất nhất mọi sự đều do những dạng vẻ của cuộc sống được tiếp nhận bởi một tâm hồn nồng nàn. Dạng vẻ dù nhỏ nhặt vẫn không sót không mất là do cái nồng nàn ấy. Yêu cây kiểng thì yêu từng chiếc lá từng nụ non từng cành cụt chết khô; không yêu thì đi ngang qua cây đa cổ thụ tỏa rộng cả mẫu đất đầu làng cũng không thấy có gì đáng chú ý.

Ngay trong cái yêu cũng có năm bảy đường yêu. Trông con chó, có người trông thấy cái mừng cái lo ở nét mặt ở cái quẫy đuôi cái nhảy cỡn của nó nghe ra sự an ủi không lời của nó hướng về người chủ buồn phiền. Cũng trông con chó, có người yêu chó sành sõi lại âm thầm suy tính: con này miếng luộc thì ngon món dồi e kém. Cặp Vronski – Anna đi hưởng tuần trăng mật bên Ý; trong lúc nhàn tản chàng trổ tài vẽ chân dung nàng, họa sĩ Mikhailov ở gần đấy cũng được mời vẽ luôn. Mikhailov làm Vronski sững sờ bỏ tranh bỏ cọ. Tán thưởng cái đẹp của Anna ai tán thưởng bằng chàng? ngắm Anna ai ngắm kỹ bằng chàng? Mikhailov chỉ nhìn nàng qua có mấy buổi, vậy mà... Người tình nhân tự an ủi: “Phải yêu Anna như mình yêu mới có thể nhìn bức vẽ này mà khám phá ra cái duyên vô hình cực kỳ quyến rũ của nàng”. Sự thực thì cái nét quyến rũ đặc biệt nọ là chính do Mikhailov nhận ra, đưa vào tranh, đâu phải do Vronski!

Thành thử... có ba bảy đường yêu: có cái yêu đưa tới bữa cỗ ngon, có cái yêu đưa tới cuộc tình đẹp, có cái yêu làm nên tác phẩm hay. Là cái khiếu cả. Là thiên bẩm cả.

Hơn thua nhau bằng một thái độ đối với cuộc sống, bằng bẩm chất, bằng tâm hồn, thì các cụ ông cụ bà xưa kia mới hơn thua bất khoan nhượng với chúng ta được. Chứ lấy kỹ thuật ngón nghề ra thì ngày nay ta đi đâu cũng mang theo đủ năm bảy món máy ảnh, máy ghi âm, máy quay phim, thứ trước ngực thứ cầm tay, thứ mang vai, thứ cõng sau lưng..., ta ghi không sót một hình ảnh một tiếng động nào, sức mấy các cụ cách đây nhiều thế kỷ dám hơn thua với ta? Và chúng ta thì mỗi lúc nghĩ tới các đấng hậu sinh của thế kỷ tới chúng ta mất cả tinh thần còn múa may gì được nữa.

Thừa cái đà khoác lác huyên thiên, tôi tưởng tượng có lẽ cũng vì lẽ ấy mà người ta không có lệ cấp giấy phép hành nghề văn thơ chăng? Học y khoa, nha khoa, công phu là thế, học xong được cấp bằng hành nghề ngay. Xây nhà, cắt tóc, lái xe, địa ốc, kế toán..., nghề khó nghề dễ học xong được chứng nhận có đủ khả năng hành nghề hợp pháp. Trong chúng ta kẻ viết truyện ngắn người viết truyện dài, kẻ làm thơ người làm phóng sự..., ai có trong tay giấy chứng nhận khả năng sáng tác, mặc dù không thiếu kẻ được đào tạo nghiêm chỉnh tại trường? Thế là thế nào?

Người ta dễ có cảm tưởng mỗi kẻ có số làm văn thơ hẳn đã cầm sẵn chứng chỉ hành nghề khi từ bụng mẹ chui ra. Do Thượng Đế cấp. Kẻ ấy lớn lên đến trường học nghề sáng tác thì tiếp nhận thêm được vô số điều hay ho, thì tài năng càng tha hồ rực rỡ. Nhưng tấm “lai-xăng” thì phải hờm sẵn từ trước, từ đầu. 

Anh Doãn Nho ơi, anh đừng cười tôi nghe. Tôi tiện đâu nói đó, nhớ đâu kể đó, có những điều đã viết đã in từ lâu ở các bài trước, từ các năm xưa, bây giờ lảm nhảm lặp lại, chán muốn chết. Cái đó hết thuốc chữa. Tôi nói chuyện về Tolstoi rồi ngay đấy bắt qua các người quen kẻ biết, qua các văn hữu đang sống đó đây... Thế là loạn! Xáo trộn cổ kim, lẫn lộn lớn bé. Lại nhảm nữa. Nhưng tôi tin mình ngay tình không hề có ý so sánh ngạo mạn, mà các đồng nghiệp của chúng ta đều là những vị biết điều phải chăng cả, trên kính dưới nhường, ai có vị trí nấy. Chắc chắn không xảy ra điều lộn xộn, không đến nỗi bác bác tôi tôi với một đấng anh hùng trước mình bảy thế kỷ, không lũy lũy moa moa với Balzac với Dosto v.v...

Dù sao, nếu có điều thất thố, anh bảo để tôi sửa chữa, anh đừng cười. Anh cười trước, bà con cười theo, chết tôi.

Mặt khác, nói rằng nghề văn do Trời cấp lai-xăng, anh liệu có thể bị cho là kiêu chăng? Nhất nghệ tinh nhất thân vinh, dưới con mắt nhà Trời mỗi người mỗi việc ai cũng ngang nhau thôi. Số mệnh cả. Vả lại nghề văn xứ An Nam, dẫu nghề có tinh, thân cũng khó vinh được. Đa số túng bấn thôi, xác xơ thôi: số ấy ai dám bảo số may?

Thư dài quá, lại xin lỗi anh lần nữa. Phải chi có thì giờ, tôi dọn bớt đi một nửa thì khá hơn. Nhưng lỡ rồi, gấp quá, phải gửi ngay lên anh kẻo trễ.

Thân chúc anh vui vẻ và an lành.

Võ Phiến
Los Angeles, 13-9-98

* Đây là lá thư gửi anh Trần Doãn Nho, đã đăng vào tạp chí Văn Học số tháng 10 & 11, 1998, và in lại trong cuốn Viết và Đọc của Trần Hữu Thục (tức Trần Doãn Nho). Lá thư viết thay cho sự phúc đáp từng câu một cuộc phỏng vấn.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét