Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Võ Phiến - Tả Cảnh


Võ Phiến - 


— Tiến bộ đâu chẳng thấy, đời cứ mỗi ngày mỗi tệ thêm. Chán thật.

— Ý bạn muốn bảo hạt cơm ngày nay ăn không ngon bằng đời Nghiêu Thuấn chăng, phi cơ bây giờ bay chậm hơn đời Nghiêu Thuấn chăng?

— Hừm! Người ta nói đây là nói về đường tinh thần. Về văn chương, nghệ thuật cơ.

— A! Tôi hiểu. Vậy chắc bạn cho rằng văn bây giờ không theo kịp Siêu Quát, thơ hôm nay thua thơ Lý Đỗ?

— Tôi không nói lên một cảm tưởng chung chung, vu vơ. Nên nói cái gì cụ thể, rõ ràng: Chuyện tả cảnh chẳng hạn. Ngày trước, khắp Đông Tây bao nhiêu là cây bút tả cảnh thần tình. Mãi sau này lớp Nguyễn Tuân, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ v.v...cũng có những bức tranh tuyệt vời về cảnh vật thiên nhiên. Mấy chục năm gần đây mở sách ra chỉ thấy toàn những nhân vật bấu xấu lẫn nhau, chộn rộn, nhố nhăng; chẳng thấy thiên nhiên đâu nữa, chẳng có mấy cảnh vật tả ra hồn. Úi dào!

— Bạn nói năng có khẩu khí.

— Thế à?

— Vâng. Nói cứ như một nhân vật lẫy lừng. Tức bà lão Chín Cân trong truyện Lỗ Tấn.1

— Không được láo nhé. Tôi có gì sai?

— Nói chung thì đúng. Còn cái riêng, sẽ xét sau.

— Kìa! Đúng, hãy bảo là đúng. Còn khẩu khí thế nào, mặc tôi. Khi nói lên một chân lý, tôi có quyền tuyên bố với khẩu khí đế vương chứ ạ.

— Giá bạn có được khẩu khí đế vương! Đàng này bạn phàn nàn, cằn nhằn... Xin lỗi, bạn có phần lố...

— Lại láo! Trước sự trạng đáng phàn nàn: phải phàn nàn thôi. Bạn có gì thắc mắc về sự trạng không? Bạn có cho rằng chúng ta càng ngày tả cảnh càng hay chăng? rằng trong tác phẩm văn chương của chúng ta có nhiều thiên nhiên hơn của tiền bối chăng?

— Không.

— Tốt. Thế về sự trạng, chẳng cần chứng minh nhá. Vả lại nếu bạn không nhìn thấy sự trạng như tôi, tôi chỉ có cách chấm dứt chuyện trò, mời bạn đọc sách lại, suy nghĩ lại thôi. Tôi không có số thống kê để chứng tỏ cái nhiều ít, tôi cũng không mời được một hội đồng giám định để quyết định cái hay dở.

— Bạn chỉ được tôi ban cho một sự may mắn. Từ sự đồng ý may mắn về sự trạng, chúng ta đi tới hai thái độ khác nhau. Bạn chê trách, phàn nàn...

— Còn bạn thì hoan hỉ? Đừng, bạn không cần phản đối. Hiện thời chưa cần biết thái độ gàn bướng của bạn là như thế nào. Bạn chê tôi, trước hãy để tôi biện minh. Theo tôi (và cũng là theo tất cả mọi người) đã kém tất nên phàn nàn. Huống hồ đây là cái kém trầm trọng; không phải chỉ là một sự kém sút về kỹ thuật, mà là một sa sút trong tâm hồn.

Tôi không cho tả cảnh là một vấn đề kỹ thuật. Ở trường thày có dạy trò những kỹ thuật căn bản về phép tả cảnh, nhưng tất nhiên không ai tin rằng cái dạy dỗ ấy có thể tạo nên những tài năng về tả cảnh. Nếu đó là cách đào tạo, lúc này những kẻ có năng khiếu kinh doanh tha hồ mở trung tâm huấn luyện thuật tả cảnh để hốt bạc. Giật được mấy chứng chỉ về tả cảnh, thêm mấy chứng chỉ về phép tả người, thêm một mớ chứng chỉ về phép dựng truyện nữa, từ trong trường bước ra tha hồ làm văn sĩ. Hoặc giả đang viết lách phăng phăng bỗng thấy có trục trặc, cứ mạnh dạn vào lớp bổ túc cẩn thận về môn tả cảnh, thế là “đổi mới” ngay. Lo quái gì.

Đàng này, không phải thế. Tả cảnh với không tả cảnh là hai trạng thái tâm hồn, là hai loại tâm hồn, hai loại người. Người không tả cảnh không phải là người không trông thấy cảnh, người yếu mắt, người cần đi bác sĩ nhãn khoa. Và theo tôi nghĩ, cũng không phải là người kém khả năng quan sát, cần được huấn luyện nữa. Không tả chẳng qua vì không thấy có gì đáng nói. Như vậy phải chứ. Như vậy là thường tình. Hễ thấy cảnh không có gì đáng nói thì không tả cảnh, thấy người không có gì đáng nói thì không tả người, thấy sự việc ở đời không có gì đáng kể thì không kể làm chi: ở đời biết bao nhiêu người vẫn như thế. Đó là phần tối đại đa số của nhân loại, cái phần không phải là văn nghệ sĩ.

Văn nghệ sĩ là phần tử không thường. Đêm đêm trăng sáng vẫn thế, Hàn Mặc Tử tự dưng lại thấy bao nhiêu là cái đáng nói, cần nói, rồi thì huyên thiên lên “Chơi giữa mùa trăng”. Bao người xung quanh ngày ngày vẫn vậy, vẫn đi lại trước mắt bạn bè, chẳng ai thấy gì khác lạ, bỗng dưng La Bruyère thấy ra bao nhiêu là điều cần nói, rồi huyên thiên lên (Les caractères). Xã hội vẫn hoạt động trước mắt mọi người, không ai thấy có vấn đề gì, Balzac lại nhìn thấy một tấn trò đời (La comédie humaine) nói mãi không dứt, Nhất Linh lại trông thấy ra vấn đề cô Loan, Hoàng Ngọc Phách lại thấy có câu chuyện Tố Tâm v.v... Những vị vừa kể tinh mắt hơn người chăng? Không. Mù mắt như Nguyễn Đình Chiểu vẫn thấy ra chuyện. Những cái ấy — cảnh, người, sự việc — không phải thấy bằng mắt, mà bằng tấm lòng.

— Khẩu khí bạn lâm ly ra phết.

— Tạm gác khẩu khí qua một bên đi. Tôi lấy một thí dụ. Nếu con đường này cũng như mọi đường khác thì việc gì mà quan sát, mà vác bút ra hè hụi tả nó làm chi, phải không? Tả là khi nhận ra nó có điểm đặc biệt nào đó, chẳng hạn nó... đìu hiu.

Khốn nỗi, trên mặt địa cầu chẳng có con đường nào tự nó đìu hiu cả. Đường, tự nó chỉ có đường dài đường ngắn, đường rộng đường hẹp, đường đất lở lói hay đường nhựa trơn tru... (Những cái ấy chỉ có thể đưa vào tiểu thuyết objectal thôi, nhưng thời của nó đã qua rồi.) Không những không có con đường đìu hiu mà cũng không có khu phố đìu hiu, họa chăng chỉ có khu phố mươi lăm nhà, khu phố nghìn nhà vạn nhà, khu phố nhà tranh, khu biệt thự lầu v.v...
Tóm lại không có con đường nào, bụi cỏ nào, mùa thu hay mùa đông nào đìu hiu cả. Cảnh vật tự nó không có hồn. Đìu hiu là cái mà hồn người trao cho cảnh vật: cho khóm lá, cho mùa thu... Một khi ta chẳng có gì để trao cho cảnh vật thì nó chẳng còn có gì đáng tả nữa. Tả làm chi cái cảnh: Trên trời lúc bấy giờ có đám mây to bằng sáu mươi tám lần chiếc bánh đa, màu xám tro, bên phải đậm bên trái nhạt, trôi theo hướng nam bắc, tốc độ ước chừng ba mươi lăm dặm một giờ v.v... Nếu cứ nhất định quan sát, nhất định tả cho kỳ được như tôi vừa tả, thì đọc có thấy “hay” không?

Bạn nghĩ coi: sự sa sút về tả cảnh tố cáo một cái gì lớn lao quá, thấy không? Một sa sút trong tâm hồn. Ta không còn gì để trao cho ngoại cảnh, cho thiên nhiên. Tâm hồn ta dần dần trở nên khô khấc. Tôi phàn nàn vì thế, bạn hiểu chứ?

— Tôi có hiểu. Và những điều bạn nói làm tôi phát run. Bạn bảo tối đại đa số nhân loại không có gì để trao cho cảnh vật, có phải ý bạn muốn nói họ không có... tâm hồn?

— Ấy chết! Ấy chết! Tôi không biết tôi đã nói năng ra sao. Thực ra ý tôi chỉ muốn bảo là đa số thiếu cái thiết tha đối với thiên nhiên thôi. Ở đời, gần như chẳng ai là không thiết tha. Có người thiết tha với vợ con, có kẻ thiết tha của cải, có hạng thiết tha quyền lực, có những vị thiết tha với tín ngưỡng, với lý tưởng v.v... Đối với bất cứ cái gì liên hệ đến đối tượng thiết tha của họ thì họ nhạy cảm. Kẻ thiết tha với tiền, hễ nghe phong phanh về chuyện có lợi là sáng cả mắt lên, người thiết tha quyền lực thì...

— Văn nghệ sĩ là cái thiểu số thiết tha với cảnh vật...
— Không hẳn thế. Văn nghệ không phải chỉ có ngâm hoa vịnh nguyệt. Tôi nghĩ người văn nghệ sĩ yêu cả cuộc sống. Họ thích thú ngắm nghía vần trăng, áng mây, mặt hồ, cành liễu; họ cũng say mê theo dõi hoặc mối tình ngang trái của Anna Karénine, hoặc cái tình thương con điên dại của cụ Goriot, hay những ngày đau đớn cuối cùng của Ivan Ilitch; họ lại tò mò về các diễn biến trong xã hội Nga suốt thời chiến tranh chống lại cuộc xâm lăng của Nã-phá-luân (Chiến tranh và hòa bình của Tolstoi), trong xã hội Pháp hồi tiền bán thế kỷ XIX (Trò đời của Balzac) v.v... Họ “mê” cuộc sống, mê dữ dội và bất vụ lợi; họ rình dò từng biểu hiện của cuộc sống dưới mọi hình thức, từng hơi thở của cuộc sống.

Cái tiếp cận của những con người như thế đối với cảnh vật là một tiếp cận nồng nàn, trong khi “thế nhân” tiếp cận hững hờ. Một tiếp cận nồng nàn mới khiến ta trông thấy cái đìu hiu của một con đường, trông thấy cái đáng nói đáng tả nơi cảnh vật. Ngày nay...

— Ngày nay, than ôi! bao nhiêu thiết tha vụ lợi đã xô giạt mất cái thiết tha bất vụ lợi của con người?

— Bạn không nghĩ vậy sao?

— Không.

— Thế bạn cho rằng bây giờ tình yêu thiên nhiên vẫn còn như xưa?

— Không. Tôi không dám bảo đảm thế.

— Ơ kìa! Thế bạn làm sao cắt nghĩa sự trạng mà bạn đã từng đồng ý với tôi?

— Tôi cần gì phải cắt nghĩa? Cổ nhân đã cắt nghĩa hộ tôi. “Xa mặt thì cách lòng”. Ngày nay chúng ta xa rời thôn quê rừng núi, dồn về sống ở đô thị, làm văn nghệ ở đô thị; xa thiên nhiên, chúng ta quên nó, vậy thôi.

— Ờ ờ, có thể.

— Có thể à? Sự thực là thế, còn gì hồ nghi nữa? Ngay cùng một lúc, cùng một nước, cùng một dân tộc, hễ sống trong môi trường nào thì viết lách theo môi trường nấy. Trong thơ văn Miền Bắc sau 1945 vẫn còn hình ảnh thiên nhiên: thôn xóm, ruộng đồng, cánh cò, núi rừng, hoa cỏ v.v... Những cái ấy dàn khắp các tác phẩm văn nghệ Miền Bắc là vì trong suốt ba mươi năm chiến tranh ngoài ấy đâu còn đô thị, thậm chí các tỉnh lỵ quận lỵ cũng xua dân tản cư về quê để sản xuất, để tránh địch. Không những về đồng quê, nam nữ thanh niên ngoài Bắc còn bị lùa lên Trường sơn, lên các mật khu, quanh năm mịt mù cây xanh. Trong thơ của Quang Dũng, trong văn của Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v... làm sao thiếu thiên nhiên được. Trong lúc ấy, ở Miền Nam, phần lớn văn nghệ sĩ dồn về Sài Gòn, mấy ai chịu cam phận ở tỉnh lẻ, nói gì đến thôn lẻ, rừng lẻ. Thiên nhiên nào lặn lội mằn mò về được Sài Gòn mà lọt nổi vào tác phẩm văn nghệ? À này, tôi nhờ bạn giúp cho một việc, liệu bạn có vui lòng?

— Lại giở quẻ gì ra đấy?

— Có gì đâu. Tôi hiểu biết nông cạn, nhưng nhờ bấm độn thấy rằng ở xứ Ba-tây thiên nhiên tràn đầy nghệ phẩm; và xét tiền đồ văn hóa nước ấy, tính cho tới ngày tàn lụi của rừng rậm Amazone, thì văn nghệ Ba-tây vẫn nhuốm màu lục. Tôi muốn nhờ bạn nghiên cứu và kiểm điểm hộ cho, xem sai đúng thế nào. Ấy, tôi bảo tả cảnh trước nhiều sau ít nói chung là đúng, “nói riêng” không đúng, là như thế.

— Hầy! Hóa ra tả cảnh kém không hẳn là con người sút kém nhỉ.

— Hơn kém gì đâu. “Thế thành thị thế thôn quê, gặp thời thế thế thời phải thế”, vậy thôi. Ngày xưa trong thơ các cụ R. Burns, Wordsworth, E. Poe... có chuột, có bướm, có chim cu, chim sẻ, quà quạ, có hoa có cỏ... lung tung đủ thứ; bây giờ toàn một món trí tuệ. Mới đây, trong East of Eden nào rắn mối, nhện nước, ễnh ương v.v... đầy dẫy. Trong The grapes of wrath cũng của J. Steinbeck, một con rùa bò khệnh khà khệnh khạng suốt cả trang sách, và cũng mới đây thôi, trong Bác sĩ Jivago của B. Pasternak thiên nhiên còn tràn ngập; nhưng rồi đến John Updike, trong cả bộ truyện về gã Rabbit có trăng nào mọc có hoa nào tàn đâu. Một chiều hướng văn minh, một xu thế đổi thay trong lối sống thôi. Hơn kém gì.

— Hầy! Theo chiều hướng này, e ta còn lâu mới bắt kịp Âu Mỹ đa. Cũng lại là chuyện hơn kém nữa! Trong văn phẩm Miền Nam độ sau này đã nặng hơi hướng nếp sống đô thị, nhưng so với văn phẩm ra đời trong khung cảnh New York, Los Angeles, Paris, thì...

— Ta thua, vâng, ta thua. Xét theo lối ấy, có thế. Trong quá khứ, Á với Âu cùng nồng thắm tình yêu thiên nhiên: Huề. Chuyển sang văn minh kỹ nghệ, họ đi trước ta, họ yêu và họ ghét những kiểu xe cộ, những giọng hát tiếng kèn hộp đêm... trước ta. Chúng ta chẳng qua mới tập tành tí chút. Bây giờ bạn có còn tha thiết phục hưng tả cảnh nữa không?

— Tha thiết hay không tha thiết, chẳng có ai phục hưng được cái gì, cũng chẳng ai nhảy vọt gấp rút tới một cái gì. Dù là cảnh thiên nhiên hay cảnh đô thị, không phải ta muốn lôi chúng vô đâu thì lôi, muốn lôi lúc nào thì lôi. Không phải kể chuyện riết một hồi, sực nhớ chưa có cảnh bèn chạy đi “quan sát” núi đồi cẩn thận rồi tống vô sách, lại sực nhớ chưa có phòng trà ca sĩ bèn đẩy ngay vào mấy em ca-ve vài cậu da đen thổi kèn inh ỏi là xong việc. Có tiếp cận lâu dài với cảnh vật, có chung sống với nó trường kỳ mới đưa nó vào văn nghệ phẩm được. Đâu phải cứ lâu lâu đi Yellowstone hít khí hạo nhiên một phát rồi về nhà tha hồ tả cảnh.

Đối với người lớn lên ở đồng quê, tiếng sấm rền trong đêm mưa dông và kỷ niệm tang tóc nào đó là một; đối với kẻ sinh trưởng nơi thành phố tiếng còi tàu giữa khuya, tiếng xe cứu thương, tiếng xe thắng rít trên đường nhựa có thể gắn liền với một đau thương lớn trong đời, như hòa làm một. Cảnh nọ tình kia có tương quan xương thịt.

Nguyễn Du bảo: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Tôi sửa sai cụ Nguyễn một chút cho vui, nhé. Giữa tình với cảnh không có tuyệt nhiên định phận tại nhân tâm, không chia đôi ranh giới minh bạch như thế. Tình cảm thành hình trong khung cảnh nào, câu chuyện xảy ra trong khung cảnh nào thì nó cuốn luôn cảnh ấy vào văn nghệ phẩm thôi.

— Nhưng dù sống ở đâu, thành thị hay thôn quê, cũng chỉ có những người nghệ sĩ, yêu cuộc sống say mê và bất vụ lợi, mới thấy có điều để nói để tả chứ...

— Danh ngôn của ai đấy nhỉ? Của tôi à? Thế thì chính thị chân lý rồi, còn hỏi gì nữa!

6 – 1991

1 Nhân vật Cửu Cân lão thái trong truyện ‘Phong ba’ hễ mở miệng ra là kêu: “Giá chân thị nhất đại bất như nhất đại.” Ông Giản Chi (trong Lỗ Tấn tuyển tập) dịch: “Rõ thật mỗi đời một thêm kém sút.”




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét