Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

HÀ KỲ LAM - MÙA GIÁNG SINH ÊM ĐỀM TRONG CÁC TRUYỆN NGHẸT THỞ CỦA MARY HIGGINS CLARK



HÀ KỲ LAM


Mary Higgins Clark, tác giả của những truyện nghẹt thở ăn khách hiện nay, có vẻ là một mẫu người sùng đạo. Sự kiện hai trong mươi tám tiểu thuyết của bà - Silent Night và All Through The Night - được dàn dựng trong khung cảnh an bình, thánh thiện của mùa Giáng Sinh đã cho người đọc nhận xét đó. Xin sơ lược hai cuốn truyện nêu trên nhân mùa Giáng Sinh như một quà đọc cho mọi người.



ALL THROUGH THE NIGHT

All Through The Night, tựa đề của một nhạc khúc Giáng Sinh, đã được dùng làm tên cuốn sách.

Ngay chương đầu cuốn truyện người đọc đã nín thở theo dõi sự việc đang diễn ra...

Còn hai mươi hai ngày nữa mới đến lễ Giáng Sinh. Đêm đã xuống từ lâu. Bên trong một nhà tho ở khu Manhattan, thuộc đô thị Nữu Ước, linh mục Ferris đang xem xét mọi nơi, khóa cửa nẻo cẩn thận, tắt đèn, trước khi lui về phòng riêng kế cận nhà thờ nghỉ đêm. Im phăng phắc. Tên trộm Lenny nép mình sau chỗ xưng tội, chờ vị linh mục đi qua trên đường tiến ra cửa sau nhà thờ. Có tiếng cửa đóng mạnh. Hắn thở phào. Còn lại một mình, hắn ra tay.

Bên ngoài nhà thờ, Sondra, một cô gái mười tám tuổi đứng bên kia đường, trước cửa một tòa nhà đang sửa chữa, nhìn sang nhà thờ. Cô ta phải yên chí là linh mục Ferris đã rời nhà thờ về tư thất của ông mới đem đứa bé đặt trên bực thềm nhà thờ. Vừa lâm bồn trước đó mấy tiếng đồng hồ trong một phòng khách sạn rẻ tiền, cô cảm thấy yếu, phải tựa vào khung cửa cho vững.

Cha Ferris từ trong nhà thờ bước ra, đi thẳng đến căn nhà kế cận.

Sondra biết đã đến lúc thi hành công việc. Cô đã sắm sửa áo quần, tả lót, bình sữa, chăn mền, một chiếc xe đẩy, một bao bằng giấy. Mở nút áo choàng, nhẹ nhàng bồng đứa bé đặt trong bao giấy, với tay xách chiếc xe đẩy đã xếp lại, cô mang tất cả sang bên kia đường trong lúc không có một ai qua lại trên đường để trông thấy cô. Cô chạy ngược lên ba bực thềm, mở chiếc xe đẩy, gài thắng, đặt đứa bé vào xe, đặt mớ đồ “phụ tùng” dưới chân đứa bé, cài tờ giấy cô viết sẵn, trong đó cô xin ai đó hãy tìm giúp cho đứa bé một gia đình từ tâm, còn cô không thể nuôi nó được dù lúc nào cũng yêu thương con. Sondra quì xuống nhìn đứa bé một hồi lâu, thì thầm, “mẹ yêu con, tạm biệt” rồi đứng dậy chạy xuống mấy bực thềm, ra đường phố. Cô sẽ gọi linh mục Ferris từ một điện thoại công cọng ở ngã tư kế cận.

Trong khi đó, bên trong nhà thờ tên trộm Lenny vơ vét tiền con chiên họ đạo quyên góp, và đập vỡ tủ đựng chiếc cúp có nạm kim cương, một báu vật của nhà thờ. Xong, hắn vội vã thoát ra trước khi hệ thống báo động của nhà thờ hoạt động. Nhưng xe cảnh sát hụ còi inh ỏi đang tiến đến. Thoáng trông thấy chiếc xe đẩy con nít để ở bực thềm, hắn liền bê xuống đường và ngang nhiên đẩy đi, làm ra vẻ một ngưoi đàn ông lương thiện, có con cái đề huề. Vô gia cư, vô nghề nghiệp, buôn bán ma túy, và làm mọi việc phi pháp nào có thể kiếm tiền được, hắn đang trú tạm nhà người cô ruột. Và hắn ung dung đẩy chiếc xe giữ trẻ về nơi ấy.

Về tới nhà cô của hắn được an toàn, Lenny chưa kịp mừng thì bỗng sững sốt khi nghe tiếng khóc oe oe rồi cái bao giấy cử động: một bé sơ sinh. Hắn gỡ mảnh giấy ghim trên chăn, bắt đầu đọc. Xin làm ơn tìm cho bé gái của tôi một gia đình từ tâm. Tổ tiên bố của cháu là người Ý; ông bà tôi gốc Ái Nhĩ Lan. Cả hai bên gia đình theo tôi biết không hề có bệnh di truyền, vì thế cháu sẽ lớn lên khỏe mạnh. Tôi yêu con, nhưng không thể chăm sóc cháu được. Nếu một mai cháu có hỏi về mẹ nó, xin cho cháu đọc mấy giòng này. Hãy nói cho cháu biết rằng những giờ phút hạnh phúc nhất trong đời tôi mãi mãi là những lúc tôi ôm nó trên tay sau khi sinh cháu.

Những lúc đó chỉ còn có hai mẹ con trên đời này.

Bà Lilly, người cô hắn, đang quyết tâm tống khứ thằng cháu ăn hại ra khỏi nhà, cũng sửng sốt, cúi nhìn trong chiếc xe đẩy. “Mày tính sao bây giờ? Mày lượm đứa bé này ở đâu thế?” Lenny nghĩ nhanh, hắn không muốn rời căn chung cư này, một vỏ bọc an toàn cho hắn. Hắn nghĩ ra một câu chuyện.

“Nó là con của cháu đấy, cô Lilly ạ. Mẹ nó là người con gái cháu yêu, nhưng cô ấy sắp dọn đi California, muốn đem cho đứa bé cho người ta nuôi. Cháu muốn giữ bé lại.”

Bà Lilly mở các món quấn quanh đứa bé sơ sinh, ẵm nó lên và nét mặt bà bỗng thay đổi. Bà hỏi Lenny:
“Tên nó là gì?”

Lenny nghĩ đến hột kim cương hình ngôi sao trên báu vật của nhà thờ, vụt miệng nói:
“Thưa cô, cháu tên là Star.”

“Star,” bà Lilly Maldonado lẩm nhẩm, “trong tiếng Ý cháu sẽ được gọi Stellina, có nghĩa là vì sao nhỏ.”

Lim dim đôi mắt, Lenny nhìn sự khắng khít vừa nẩy sinh giữa một trẻ sơ sinh và một bà già. Hắn tự nhủ không ai biết hắn bắt cóc đứa bé, và cùng lắm, nếu có gì lôi thôi về đứa bé, thì hắn đã có mảnh giấy nầy để chứng minh hắn chẳng ăn cắp của ai.

Trời trở lạnh hơn. Từ một điện thoại công cộng ở ngã tư kế cận, Sondra gọi Linh mục Ferris. Bên kia đầu dây, một giọng đàn ông xưng danh là cha Dailey, và cho biết cha Ferris đang bận tiếp chuyện với cảnh sát bên ngoài tòa nhà, vì có chuyện khẩn cấp.

Sondra lặng lẽ gác điện thoại. Cô yên chí là người ta đã tìm thấy con mình. Đứa bé được an toàn. Cha Ferris sẽ tìm cho nó một mái nhà tốt.

Một giờ đồng hồ sau Sondra đã ngồi trên xe buýt xuôi về Birmingham, tiểu bang Alabama. Cô đang theo học ở phân khoa âm nhạc của đại học tại đó, và chuyên về vĩ cầm. Tài năng đặc biệt
của cô đang hứa hẹn một chỗ đứng vinh quang trên sân khấu trình diễn tương lai.

Chương đầu cuốn sách, hay màn đầu của câu chuyện, đã hé mở cho người đọc một chuỗi sự việc mà nhiều năm sau mới phơi bày ra ánh sáng những nguyên ủy, gốc rễ, mối mớ của chúng.

*

Bảy năm trôi qua.

Chu kỳ thời tiết đang bước vào độ giá lạnh của những ngày đầu tháng chạp. Giáng Sinh lại sắp về. Sondra Lewis trở lại New York lần này với vinh quang đang cho đón nàng. Cô sẽ biểu diễn vĩ cầm ở Carnegie Hall, sân khấu ước mơ của tất cả nghệ sĩ mầm non. Cô không tin nổi có ngày điều đó lại xảy ra. Vậy mà Sondra không thay háo hức, sung sướng, chỉ thấy lòng nặng trĩu, đầy bất an, tuyệt vọng. Cô đã gọi điện thoại đến nhà thờ St. Clement’s giả làm một phóng viên dò hỏi về sự kiện một đứa bé sơ sinh bị bỏ trên bực thềm vào đêm mồng ba tháng chạp bảy năm trước, để bàng hoàng, chết điếng khi nghe một giọng nói đầy vẻ ngạc nhiên, sửng sốt đáp lại rằng chẳng bao giờ có một sự việc như thế từ hai mươi năm nay chứ chẳng riêng bảy năm trở lại đây đâu! Ôi, ai đã nuôi con nàng, hay đứa bé đã chết ngay vì lạnh, sau khi nàng bỏ đi.
Nước mắt tự dưng cứ trào ra, Sondra không làm sao cầm giữ lại được. Hai ngày rồi, Sondra cứ lảng vảng trước nhà thờ, bên kia đường, và sáng nay đã vào dự lễ sớm trong nhà thờ. Xong lễ Sondra bước nhanh ra khỏi nhà thờ, không cho cha Ferris có dịp hỏi, vì vị linh mục cũng nhận thấy vẻ khác thường nơi người phụ nữ trẻ.

Nàng cầu nguyện để được gặp lại con. Lúc lên mười hai tuổi Sondra đã được ông nội - vừa là dưỡng phụ, vừa là thầy vĩ cầm của mình - dẫn đến đây một lần. Ông nội cho biết St. Clement’s linh nghiệm lắm; ông nội đã cầu được bao nhiêu điều trong đời mình, kể cả được khỏi hẳn chứng thấp khớp ngón tay, một sự nghiệt ngã cho một nghệ sĩ vĩ cầm như ông.

Stellina, đứa bé sơ sinh bị bỏ trên bực thềm nhà thờ St. Clement trong một đêm tháng chạp giá lạnh năm xưa, nay đã lên bảy. Nó lớn lên trong sự nuôi nấng đùm bọc của Nội Maldonado, và trong sự hờ hững, vô trách nhiệm của người bố Lenny. Cô bé đẹp như thiên thần. Mỗi ngày, sau buổi học, Stellina cùng một số trẻ em cùng lứa trong khu phố đến vui chơi, sinh hoạt tại một nhà giữ trẻ miễn phí do các bà phước đảm trách, cho đến sau giờ làm việc phụ huynh đến đón con em mình về.

Willy và vợ, Alvirah, đôi vợ chồng đã nghỉ hưu, rất tích cực trong các hoạt động hỗ trợ nhà giữ trẻ này - Willy với tay nghề thợ ống nước, và Alvirah với óc sáng kiến, cùng một trực giác thám tử sắc bén. Chính trực giác này đã giúp khám phá và bẻ gãy âm mưu chiếm đoạt một bất động sản bằng di chúc giả mạo, tức cứu được tòa nhà sẽ làm trụ sở tương lai của nhà giữ trẻ nói trên. 

Sự lai vãng trước nhà thờ St. Clement’s của Sondra Lewis không thoát khỏi cặp mắt tinh tường của Alvirah. Rồi chân dung của nàng xuất hiện khắp đô thị New York trong các bích chương quảng cáo cho cuộc trình diễn vĩ cầm sắp tới tại trung tâm nghệ thuật Carnegie Hall càng thách thức óc điều tra của ngưoi đàn bà trên sáu mươi này. Chờ cho Sondra đến, đứng bên kia đường nhìn chăm chú sang nhà thờ, Alvirah nhẹ nhàng bước từ sau lưng đến vỗ nhẹ vai ngưoi thiếu nữ và dịu dàng mở lời muốn giúp đỡ... Cả hai đón taxi về nhà của Alvirah. Sondra thổ lộ mọi chuyện.

Ra về, ngang qua phòng khách, bên cạnh chiếc dương cầm với cuốn sách nhạc mở ở trang của nhạc khúc All Through The Night,  Sondra dừng lại, dùng một tay nhấn trên phím chơi bản nhạc. Nàng chơi lại bài nhạc một lần nữa và khẽ hát theo:

Ngủ đi con
Và cầu xin
Mọi an bình
Cho con suốt đêm.
Chúa sẽ phái thiên thần
Xuống gìn giữ con
Suốt đêm.

Ngừng hát, giọng nàng thốt lên như òa vỡ, “Em mong con em đã tìm được một thiên thần đêm đó.” Alvirah hứa hẹn, “Tôi sẽ gọi cho em hay mọi chuyện.”

Buổi trình diễn mùa Giáng Sinh do các trẻ em tại nhà giữ trẻ xem rất ngoạn mục, một thành công sau bao nhiêu tuần luyện tập và chỉ dạy. Stellina đã thuyết phục được Nội Lilly aldonado cho mang chiếc cúp bằng bạc đến dùng trong buổi trình diễn, chiếc cúp mà tên trộm Lenny đã lấy của nhà thờ St Clement’s, và nói dối là của mẹ của Stellina giao lại cho hắn ta. Hắn ta còn nói đó là báu vật của một đức giám mục, bác của ngưoi yêu. Bà Maldonado đã tin đó là một vật linh nghiệm, và bà thường bảo Stellina như thế. Cô bé vẫn hay ôm chiếc cúp ban đêm nằm ngủ, và mỗi lần như vậy Stellina cảm thay ấm áp, bớt đi cảm giác cô đơn, dường như được gần mẹ mình. Và cô bé cũng thường ôm chiếc cúp cầu nguyện mẹ mình sớm trở về. Alvirah bỗng chú ý đến hai điều khác thường: chiếc cúp bạc, và cô bé Stellina với khuôn mặt sao giống Sondra thế! Bà ta đã nghi đó chính là món báu vật mất cắp của nhà thờ, cùng với với đứa hài nhi bị mất tích. Alvirah đem mấy tấm ảnh chụp chiếc cúp và cô bé Stellina cho linh mục Ferris xem. Ông ấy xác nhận báu vật bị đánh cắp giống hệt như vật trong hình. Bà Alvirah mơ hồ
thấy có ánh sáng ở cuối đường hầm rồi!

Trong khi đó, bà Lilly Maldonado lên cơn đau tim, phải vào bệnh viện cấp cứu. Bé Stellina ở nhà một mình, chờ bố về. Lenny là mục tiêu theo dõi của cảnh sát từ bao lâu nay, và hôm nay cảnh sát đã đủ yếu tố để ra tay tóm cổ hung thủ. Hắn ta vội vã chạy về nhà vơ
vét tiền bạc cùng giấy tờ, tài liệu phi pháp cất dấu trong phòng
ngủ để tẩu tán. Với lại hắn thấy cần bắt Stellina theo, vì nghĩ
đứa bé có triển vọng là ngôi sao hộ mệnh của hắn. Hắn ra lệnh cô
bé chạy theo hắn lập tức, không được mang theo món gì cả, ngoại
trừ chiếc cúp bạc mà hắn muốn phi tang, mặc cho Stellina cứ năn
nỉ bố dẫn mình vào bệnh viện thăm bà Nội. Vừa xuống tới đường, cả
hai đã phải khựng lại, vì cảnh sát đã bủa vây. Lenny dùng mạng
sống của Stellina làm áp lực, và cảnh sát đành để hắn đẩy cô bé
vào xe với hắn. Nhưng trời bất dung gian, trong lúc hắn buông tay
khỏi cô bé để nổ máy xe thì Stellina mở cửa phóng mình ra khỏi
xe, ôm theo chiếc cúp bạc. Cô bé quyết tâm đi tới bệnh viện thăm
Nội cho bằng được! Cảnh sát ập đến chiếc xe của Lenny. Cô bé với
nguyên bộ đồ mặc để trình diễn vai đức Mẹ Ơn Phước, ôm chiếc cúp
bạc chạy theo con phố về phía bệnh viện St. Luke.

Lenny bị bắt. Mười phút sau, cảnh sát, linh mục Ferris và vợ
chồng Willy-Alvirah có mặt tại căn chung cư mà cô bé Stellina đã
sống bảy năm trời với người nuôi dưỡng mình. Lục soát phòng của
Lenny, cảnh sát tìm thay một mảnh giấy nhàu nát kẹp giữa kệ để đồ
và bức tượng: mảnh giấy mà người mẹ trẻ đáng thương cách đây bảy
năm đã cài trên tấm chăn của con mình. Bà Alvirah đọc nhanh may
giòng chữ nguệch ngoạc để thấy mọi sự đã được xác nhận hùng hồn,
đúng như bà đã nghi. Bà gọi điện thoại cho Sondra.

*

Đoạn kết là khung cảnh đoàn tụ đầy mủi lòng của một câu chuyện có
hậu. Bên giường bệnh của bà nội Lilly Maldonado, bé Stellina đang
nói về buổi tình diễn, về việc giữ gìn chiếc cúp bạc như đã hứa
với bà, và về lời mình cầu xin mẹ sớm trở về. Đúng lúc cô bé cất
tiếng hỏi, “Nội có nghĩ rằng Chúa sẽ gởi mẹ về với con không?”
thì Sondra vừa đến sau lưng Stellina. Nàng quì xuống, thổn thức,
và ôm cô bé vào lòng.

Ngoài hành lang bệnh viện, bà Alvirah thoáng thấy cảnh tượng
trên, nhẹ nhàng khép cửa lại. Bà nói, “Có những khoảnh khắc cần
được sống trong riêng tư. Có những lúc không cần phải hiển thị
cũng biết rằng nếu ta có đức tin mạnh và bền vững thì những mong
ước của ta sẽ thành hiện thực.”




SILENT NIGHT

Mary Higgins Clark lại dùng tựa đề một nhạc khúc Giáng Sinh nổi
tiếng, Silent Night, đặt tên cho tác phẩm của mình.

Catherine Dornan, cùng hai con nhỏ, Michael, mười tuổi, và Brian
bảy tuổi đang ở tại khu Rockefeller, thành phố New York buổi
chiều trước đêm Giáng Sinh. Chồng nàng, bác sĩ Thomas Dornan, vừa
trải qua cuộc giải phẫu để chữa bệnh hoại huyết, đang nằm tại một
bệnh viện ở thành phố nầy, trong tình trạng chưa biết tốt xấu thế
nào. Bất hạnh đột ngột đến, ám ảnh về cảnh góa bụa có thể xảy ra,
Catherine chẳng còn tâm trí đi ngoạn cảnh, nhưng không muốn hai
con mình bị giao động, nàng đã dẫn chúng đến đây xem cây Giáng
Sinh nổi tiếng hằng năm tại trung tâm Rockefeller, hy vọng chúng
quên đi những lo âu, buồn phiền. Nhưng chính tại đây, trên vỉa hè
của một Nữu Ước xô bồ, một Nữu Ước với thiện ác lẫn lộn, gia đình
Dornan lại rơi vào cảnh họa vô đơn chí.

*

Cally, một nữ y tá, vừa rời sở làm sau ca trực năm giờ chiều, đang
rảo bước trên hè phố, mong tìm mua một món quà Giáng Sinh cho bé
Gigi, con nàng. Đây là Giáng Sinh đầu tiên trong hai năm nay nàng
mới có dịp gần con. Hai Giáng Sinh trước của Cally diễn ra trong
tù, sau khi nàng cho Jimmy, em trai, mượn xe trốn khỏi thành phố
trên đường vượt ngục. Nghĩ đến Jimmy, một cảm giác bất an, lo sợ
như chạy khắp châu thân nàng. Cally thầm cầu mong hắn để cho nàng
yên thân. Sáng nay cảnh sát đã giận dữ gõ cửa nàng tìm kiếm
Jimmy. Thằng em khốn nạn lại vượt ngục nữa rồi, lần này thêm tội
giết người!

Một đám đông đứng nghe một người hát dạo đang độc tấu vĩ cầm bản
Silent Night. Cally gia nhập đám đông. Ba mẹ con Catherine Dornan
cũng vừa tới, và dừng lại nghe. Catherine móc ví lấy tiền cho
người hát dạo. Lúc bỏ ví trở lại vị trí cũ trong túi mang vai,
nàng đã vô ý làm ví rơi xuống đất mà không hay. Bé Brian thấy,
vừa xoay người, định cúi nhặt, thì một chiếc giày đá chiếc ví và
một bàn tay đàn bà với tới và nắm lấy. Thằng bé quay lại và thấy
người đàn bà đó tách ra khỏi đám đông. Nó gọi mẹ nó, nhưng rủi
thay lúc đó bản đàn Silent Night lại nổi lên và tiếng đồng ca của
đám đông át hẳn tiếng kêu của Brian. Không chần chờ, nó quyết
định theo bén gót bà ta. Thằng bé hành động vì sợ mất tượng thánh
Christopher mà nó tin sẽ làm bố khỏi bệnh; chiếc tượng đang nằm
trong ví kia. Bà ngoại kể rằng tượng thánh đó đã giúp ông ngoại
nó qua khỏi bao lần hiểm nguy ở trận mạc hồi trước; bây giờ bà
muốn mẹ nó đem vào bệnh viện cho bố nó. Và nó đã định tối nay sẽ
đem vào làm quà cho bố.

Về phần Cally, sau khi đá phải một vật mềm nàng nhìn xuống và
thay một chiếc ví. Với phản xạ tự nhiên, nàng nhặt lên. Nhưng
ngay khoảnh khắc ấy Cally thấy như vừa phạm tội. Một lần tù tội
khiến nàng giống một con chim bị tên sợ cây cong. Tưởng như mọi
người đang dòm mình, tưởng như cảnh sát đang được gọi đến, Cally
rảo bước rời đám đông. Nàng bỏ ý định cuốc bộ dọc đại lộ số 5 tìm
mua con búp bê cho Gigi. Nàng tự nhủ, lỡ rồi, mình sẽ gửi ví qua
đường bưu điện hoàn lại cho chủ nó.


Cally rẽ ở ngã tư kế tiếp. Nàng đi đến Grand Central Station,
chen lấn vào sân ga chính, rồi bước xuống mấy bực thềm vào cửa
tàu điện ngầm Lexington Avenue. Trạm xe đông nghẹt người, ồn ào,
huyên náo. Bước lên toa xe được là cả một sự khó khăn. Xe dừng,
lại leo mấy bực thềm, đổi sang một xe khác. Lại xuống xe, leo cầu
thang, lên mặt đường phố, đường 14. Băng qua một ngã tư, quẹo
trái, theo vỉa hè thoai thoải đổ dốc. Cậu bé Brian vừa theo sau
người đàn bà vừa liếc nhanh bảng đường, nhủ thầm phải nhớ tên
đường. Nó có một kế hoạch trong đầu: theo dõi cho biết nơi ở của
bà ta để gọi điện thoại báo cảnh sát thu hồi chiếc ví của mẹ nó.
Khu phố không còn sáng sủa với ánh đèn giáng sinh nữa, nhiều nhà
bỏ hoang, nạn vẽ bậy hoành hành trên nhiều tòa nhà. Những con
người râu ria xồm xoàm ngồi uống rượu trước thềm nhà. Brian chết
điếng vì sợ. Cuối cùng người đàn bà bước đến cửa một tòa chung cư
cũ kỹ. Bà mở cửa, lách vào và đóng lại ngay. Brian chậm chân,
đành bị bỏ lại ngoài. Cally vẫn không hề biết có một đứa bé bám
sát theo mình từ nãy giờ.

Một ngưoi đàn ông từ trong chung cư mở cửa đi ra. Brian lẹ làng
lách cửa bước vào trong. Hành lang tối tăm, dơ bẩn, mùi thức ăn
cũ bốc lên khắp nơi. Nó định bụng sẽ tìm cho được nơi ở của người
đàn bà.

Trong khi đó, Catherine Dornan và Michael tại đại lộ số 5 phát
giác Brian mất tích. Hai mẹ con báo động. Cảnh sát được phái đến
giúp tìm kiếm đứa bé.

*

Cậu bé Brian đang lang thang trong chung cư lạ, dò tìm nơi người
đàn bà đó ở. Rủi thay, lúc đó tên tù vượt ngục Jimmy Siddons, đã
đột nhập vào nhà trước đó, đang uy hiếp Cally, chị mình, để lấy
tiền đặng bôn tẩu. Hắn nghe tiếng bước chân của đứa bé, mở cửa ra
vừa lúc Brian đang quay lưng đi về phía cầu thang. Nghi là đứa bé
nghe trộm ngoài cửa vừa rồi nên hắn rượt theo tóm cổ nó lôi vào
phòng. Cally van xin Jimmy thả đứa bé, vì cô ta chẳng hề biết nó.
Nhưng thật tai hại là trí óc non nớt của Brian lại nghĩ đến việc
nhờ người đàn ông nầy lấy lại chiếc ví của mẹ mình! Nó chỉ vào
Cally: “Bà ấy lấy cái ví của mẹ cháu.” Jimmy vội buông tay khỏi
đứa bé, vẻ mặt hân hoan: “Vậy hả?”

Jimmy Siddons đoạt chiếc ví từ Cally, trong đó có gần bảy trăm mỹ
kim, một món tiền rất quí với hắn trong lúc nầy. Brian lên tiếng
đòi chiếc ví của mẹ nó. Jimmy quắc mắt làm nó hoảng sợ. Lôi chiếc
tượng Thánh Christopher ra khỏi ví, hắn cười nhạo báng và vứt
xuống nền nhà, “Tao không đi nhà thờ bao nhiêu năm nay nhưng cũng
thừa biết người ta không còn công nhận Thánh Christopher nữa.”
Brian cúi nhặt lên, đeo vào cổ mình, ra vẻ bằng lòng với “báu
vật” nầy. “Ông ngoại cháu mang nó suốt thời gian chiến tranh và
đã bình yên trở về. Nay cháu sẽ đem đến cho bố cháu để bố lành
bệnh. Chú cứ giữ cái ví đó đi, cháu không cần đâu. Thôi cháu về.”
Brian mở cửa, toan chạy xuống cầu thang thì Jimmy bước theo nắm
lại, lôi xễnh vào nhà, đẩy đứa bé ngã dúi xuống nền nhà, “mày
phải ở đây với tao, nghe chưa.” Cally van xin cho đứa bé được
thả, nhưng Jimmy cương quyết giữ nó. Không ai biết trong đầu hắn
vừa nẩy sinh một kế hoạch nham hiểm. Dẫn đứa bé theo trên đường
bôn tẩu để tránh tai mắt cảnh sát đang bủa vây, và khi thoát vùng
nguy hiểm sẽ hạ sát đứa bé để trừ hậu họa.

Sau khi bắt Cally thực hiện cuộc điện đàm giả với hắn, theo đó
hắn báo sẽ đầu thú vào nửa đêm, sau thánh lễ, tại nhà thờ St.
Patrick, Jimmy dẫn đứa bé ra đi, định vượt sang Canada.

Cảnh sát toàn tiểu bang New York được báo động về vụ Jimmy
Siddons vượt ngục, và vụ cậu bé Brian mất tích. Các hệ thống
truyền thanh và truyền hình cũng tham gia chiến dịch săn đuổi
nầy.

Nhìn hình ảnh Catherine và Michael trên màn ảnh truyền hình đang
kêu gọi mọi ngưoi tiếp tay cứu bé Brian, Cally đứng ngồi không
yên. Nếu Gigi mất tích chắc chắn nàng cũng sẽ nói những lời cầu
xin khẩn thiết kia. Nàng thấy rõ mình đã gây ra tai họa cho gia
đình Dornan. Và Cally quyết định gọi Thanh Tra Mort Levy. Phải
hành động gấp, trước khi Jimmy có thì giờ hãm hại thằng bé, và
một ai khác nữa.

*

Xử dụng chiếc xe hiệu Toyota màu nâu đánh cắp, Jimmy chở Brian về
hướng biên giới Mỹ-Canada thuộc vùng New York thượng. Hắn hăm dọa
giết nếu Brian tìm cách trốn. Thằng bé ngồi im thin thít, mặc cho
xe lăn bánh về phương nào! Nó mân mê chiếc tượng Thánh
Christopher, cảm thấy bình an trong lòng, hình dung cảnh
vị thánh dũng mãnh cõng trên vai một bé thơ và lội qua con sông
hiểm nghèo, vị thánh đã cứu ông ngoại nó, và có lẽ sẽ giúp bố
khỏi bệnh. Và trong trí tưởng, Brian cũng thấy mình đang ở trênvai của vị thánh kia.
Một hồi lâu, tin rằng mình đã thoát, Jimmy ghé xe vào một tiệm
McDonald dọc đường, ngồi trong xe quây kiếng xuống mua thức ăn.
Cô bán hàng vui tính, thoáng thay thằng bé mang chiếc tượng Thánh
Christopher trước ngực liền tíu tít kể chuyện về ông thánh nầy,
như hồi bé nghe mẹ kể.

Chris, viên cảnh sát tuần lưu xa lộ, đói bụng, nối đuôi theo xe
của Jimmy. Thoáng thay chiếc xe nầy qua tấm kiếng chiếu hậu,
Jimmy như chết cứng, nhưng cố phớt tỉnh. Hắn nóng lòng chờ cho
xong câu chuyện “trời ơi” của cô bán hàng để chuồn cho nhanh. Qua
khỏi tiệm hắn hằn học ra lệnh, “tháo cái tượng trời hại đó ra
khỏi cổ ngay,” và Brian riu ríu làm theo. Đến phiên viên cảnh sát
trờ tới cửa sổ nhận đồ ăn, Deidre, cô bán hàng, vốn quen biết anh
ta, liền thao thao bất tuyệt về chiếc tượng Thánh Christopher vừa
thấy trên ngực áo thằng bé trong xe trước. Chris không chú ý câu
chuyện, chúc “giáng sinh vui vẻ” xong, phóng xe trở ra xa lộ. Một
lát sau, tổng hành dinh cảnh sát New York gọi anh, báo chiếc xe
Toyota màu nâu và đứa bé đeo tượng Thánh Christopher là đối tượng
truy bắt. Chris nhớ lại câu chuyện của cô bán hàng ở tiệm
McDonald, cùng chiếc xe Toyota màu nâu trước chiếc xe của mình.
Không cách nào nhớ nổi bảng số xe! Anh phóng xe như bay, mong
đuổi kịp. Và anh đã đuổi kịp ở gần exit 42 khi một chiếc toyota
màu nâu với bảng số New York đang rẽ vào exit.

Về phần mình, Jimmy biết đang bị rượt theo, khi thấy chiếc xe
cảnh sát đằng sau. Hắn quyết định táo bạo: sẽ hạ sát thằng bé,
đẩy nó xuống đường để cảnh sát bận tâm cấp cứu nó, và mình phóng
xe bôn tẩu. Và hắn ra tay. Hồn xiêu phách lạc khi thay Jimmy rút
súng, Brian ném tượng Thánh Christopher trúng ngay mắt trái của
hắn. Loạn quạng vì đau, hắn làm rơi súng. Trong khoảnh khắc đó
Brian nghe như có một giọng nói hối thúc, “nhảy ra, nhảy ra
ngay.” Nó mở tung cửa xe, phóng ra vừa lúc một viên đạn xẹt qua
đầu, gần lỗ tai. Brian té, lăn mấy vòng trên cỏ, trong khi chiếc
Toyota lạc tay lái, lật nghiêng trên sân cỏ của một tư gia.

Cảnh sát viên Chris bàng hoàng, chạy đến bên đứa bé, bồng nó lên.
May quá, nó vô sự. Nhưng anh ta vội để nó xuống, cầm súng lăm lăm
tiến về chiếc xe lật.

Về tác giả Mary Higgins Clark

Tác giả của 18 truyện dài, và ba tập truyện ngắn. Sinh trưởng và
lớn lên ở thành phố New York. Hiện sống tại Saddle River, tiểu
bang New Jersey. Bà từng giữ chức Chủ Tịch hội nhà văn Mỹ chuyên
đề trinh thám.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét