Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

Viên Linh - Võ Đình, cơm với cá

Viên Linh

(Để tưởng nhớ nhà Văn/Họa sĩ Võ Đình, nhân ngày giỗ thứ 4 của Ông)

Trong giới nghệ sĩ tạo hình, họa sĩ Võ Ðình (1933-2009) là người có cuộc sống cách biệt với giới văn nghệ Việt Nam hơn cả, song lại là người đi vào nhiều ngành hơn cả trong sinh hoạt văn nghệ: ông vẽ và triển lãm nhiều đã đành, ông dịch thuật mấy tác phẩm từ tiếng Pháp qua Việt ngữ, ông dịch thơ các thiền sư Việt Nam ra quốc âm, là tác giả của mấy tập truyện ngắn, tùy bút, v.v... Và trong cuộc sống tình cảm, nét bút, câu văn của ông cho thấy một sinh lực tàn phá muốn vỡ bờ, một xung uất khó kìm hãm, một hụt hẫng nào đó phải chiêm nghiệm lâu mới có thể hiểu. Ông và tôi có lần đã chưng hửng cùng nhau, quanh một bữa rượu, trong dăm ba lần gặp nhau ba bốn mươi năm trước.


Tên thật ông là Võ Ðình Mai, song người ta biết đến ông qua bút hiệu Võ Ðình, tên ký trên các tấm tranh trong hơn 40 cuộc triển lãm từ Âu về Á, và trên khoảng ba chục bìa sách hay bốn chục ấn phẩm (vì có nhiều ấn phẩm viết chung với nhiều người), từ quốc nội tới hải ngoại.

Sau này khi đã nổi tiếng từ ngoài trở vào tới trong nước, dường như ông có ý định ghép tên Mai vào tên hiệu Võ Ðình cho đủ bộ như lúc vào đời, song độc giả không chấp nhận, nên tên Mai lại bị loại ra, Võ Ðình lại là Võ Ðình một mình mà thôi. Ông sinh năm Quí Dậu 1933 ở Huế, chánh quán huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Những năm '50 ông du học ở Lyon và Paris nước Pháp, song cuộc triển lãm tranh đầu tiên của ông được tổ chức ở New York. Một nghệ sĩ sinh hoạt trong nhiều ngành nghề như thế, hẳn có nhiều nguyên do? Có thể ta sẽ tìm được câu trả lời qua những dòng chữ do chính ông viết: “Phần tôi, có những điều tôi nói ra không được, viết ra không được, mà lại vẽ ra được. Ngược lại, có những điều tôi vẽ ra không được, cho nên tôi cần nói ra, viết ra. Không vẽ ra được, tôi khổ sở như bị đui mù. Không nói ra, viết ra được, tôi đau đớn như bị câm điếc.” (Võ Ðình, Lời Tác Giả, Sao Có Tiếng Sóng..., Văn Nghệ xuất bản, 1991).

Nếu chỉ căn cứ vào câu này, ta có thể hiểu, theo ngành nào, viết gì vẽ gì, ngay cả lúc không viết không vẽ, ông cũng chỉ “thực hiện” con người ông. Con người ông ra sao? Du học ở Pháp thuở thiếu thời, triển lãm ở Âu Châu và Mỹ, ông dịch và viết tiếng ngoại quốc, hai lần lập gia đình với phụ nữ ngoại quốc, và những bài viết đầu tiên của Võ Ðình là truyện dịch. Năm 1971 Sáng Tạo ở Sài Gòn đã in “The Stranded Fish” của ông. Võ Ðình dịch thơ Nhất Hạnh ra “Zen Poems” năm 1976. Danh sách các dịch phẩm của ông dài gần hai trang sách. Tuy thế, như ông đã trả lời một cuộc phỏng vấn của báo chí, tâm hồn ông rất Việt Nam:
Ðến một lúc nào đó trong đời, người ta trút bỏ nhiều thứ vẫn trân quí lâu năm, và chỉ giữ lại những gì cần thiết nhất. Tôi có dịp đọc đâu đó rằng, trong chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên), nhiều lính Mỹ trước khi chết thường chỉ thều thào hai tiếng: Mom! (Mẹ ơi!), và Milk! [cho tôi tí (Sữa!)]. Cho nên, có thể nói rằng “Cuốn sách đã ảnh hưởng tới tôi” là cuốn “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” và “Luân Lý Giáo Khoa Thư.” Những cuốn sách được học (chứ không phải đọc) những năm còn là một chú bé chưa được phép mặc quần tây dài, đi giày (chỉ được mặc quần “sọt” (shorts), đi dép, hay đi... chân đất! Những bài trong sách đó, tôi còn nhớ lai rai. Chẳng hạn, chuyện “một người đã đi du lịch” nhiều nơi,” về đến quê nhà lại nói rằng “chốn quê hương đẹp hơn cả.” Chẳng hạn bài ca dao: “Ðêm đêm ra đứng bờ ao / Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ / Buồn trông con nhện giăng tơ, v.v...” Thú vị vô cùng là cái con cò “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,” bị bắt được, có thể bị đem đi xáo măng, mà còn đòi cho được “Có xáo thì xáo nước trong / Chớ xáo nước đục đau lòng cò con.” Có một số bài nữa. Văn xưa cũ, ước lệ, nhưng hay. Chẳng hạn, chuyện người nọ đi trên đường lúc chạng vạng, thấy cục đá lớn, bèn hì hục khuân nó qua một bên, có người hỏi sao lại nhọc nhằn, trả lời là sợ có người trời tối đi vấp phải! Chẳng hạn, chuyện người nọ giấu vàng trong mấy hộp trà, đem biếu xén quan lớn. Quan cầm thấy nặng, không chịu lấy, người ấy nói: “Không ai biết đâu!” Quan bảo: “Trời biết, Ðất biết, ông biết, tôi biết, sao lại nói là không ai biết?” Chẳng hạn chuyện người thợ may (gặp khách hàng hạng người luồn cúi), ông may áo tà sau dài hơn tà trước...” (Võ Ðình trả lời Viên Linh, đăng trên Khởi Hành số 67, tháng 5.2002)

Sau khi kể như thế, Võ Ðình kết luận:
Sách hay như thức ăn ngon. Ăn ngon thì khoái, thì sướng. Cũng có thức ăn thực đơn sơ, đạm bạc, nhưng tiêu hóa đã lâu, món ăn đã thành máu trong người. Sách như Quốc Văn Giáo Khoa Thư, như Luân Lý Giáo Khoa Thư, là thức ăn đạm bạc đó. Ở quê tôi, Thừa Thiên, có thành ngữ: “Cơm với cá như Mạ với con.” Tiếng Huế, Mạ là Mẹ. Với tôi, và tôi nghĩ, với những người cùng lứa tuổi, QVGKT và LLGKT là “cơm với cá” vậy. (Sđd)

Ðó là ý kiến Võ Ðình về những cuốn sách hay đã đăng báo.

-Trong thư riêng với nhau, anh viết lác đác đây đó với tôi. Năm 2001 thấy tờ báo mình làm, là báo văn nghệ, cần những minh họa hay những nét phác họa nho nhỏ, tôi gửi qua Royal Palm Beach Florida cho anh chỉ một tấm danh tiếp ghi hai câu “lẩy Kiều”: “Mai sau dù có bao giờ / Vẽ dăm ba nét cũng nhờ được nhau.” Khoảng một tuần sau một cái phong bì khổ lớn, lộm cộm nhiều mảnh giấy bên trong, đã nằm trong Hộp Thư Lưu Trữ của tờ báo. Mở ra, có tới 10 bức vẽ nho nhỏ “từ dăm ba nét tới cả vài trăm nét,” và một bản photocopy cái thiếp nhỏ của tôi có hai câu lẩy Kiều nói trên, tiếp bằng hai câu “lẩy Kiều” Võ Ðình gửi trả lại: “Trăm năm một cuộc bể dâu / Nét thì nét bấc mà đau đớn lòng.” Mấy chữ đau đớn lòng, nghĩ thế nào cũng được; có thể hiểu là nội dung những nét vẽ, có thể hiểu là vẽ cho bạn ta thì chẳng có nhuận bút gì hết mà vẫn phải vẽ!

Bây giờ là tháng 10, 2005... Mấy tháng nay tôi lấn bấn với chuyện sức khỏe, không lái xe, không đọc sách báo được! Mổ 2 lần, làm lại cầu răng 1 lần. Ðang chờ bão Wilma. Tôi đồng ý với anh về chuyện dịch thơ. Tôi không bao giờ dịch thơ cả. Những bài thơ-kệ trong “Hương Thiền” và “Một Cành Mai” là những bài chú trọng về ý hơn là về lời thơ. Ý, có thể dịch ra một ngôn ngữ khác, thơ, không được.

Hơn một năm sau, anh gửi cho tôi một số “vài nét” khác, và một mảnh “post-it” trên có viết:
VL: Tôi gửi ông vài nét. Tùy theo nhu cầu, xin ông cắt xén tự do. Tôi gửi chậm vì mắt (phải mổ). Tôi thích mấy cái “collages-cắt dán” của ông trong KH mới nhất. Thân (VÐ 6.13.2006)

Khi đụng tới văn học nghệ thuật, Võ Ðình không nể nang. Ðây là điểm đáng quí nhất nơi người nghệ sĩ tự trọng. Ấy là tránh tối đa những viết lách, hay lời nói thù tạc, những khen ngợi chỉ cốt làm vừa lòng người khác, nhưng thật sự là giả dối. Võ Ðình đã nhiều lần bị than phiền vì những phát biểu về nghệ thuật - người có công tâm sẽ thấy, nếu những phát biểu ấy là đúng, và phải thấy như thế - thì người phát biểu chính là người nghệ sĩ chân chính.

Một trong những phát biểu ấy là câu họa sĩ trả lời nhà văn Phạm Thị Hoài, chủ bút Talawas năm 2002, khi cô hỏi ông câu hỏi sau đây: “...nhiều khi anh viết trực tiếp về việc vẽ. Chỉ có một số rất ít họa sĩ Việt Nam làm như vậy. Phần lớn thường từ chối phát biểu bằng lời. Phát biểu duy nhất của họ là: tác phẩm đã đủ nói lên tất cả. Ðây có phải là một thái độ riêng của giới sáng tác hội họa Việt Nam không? Nó có tất yếu không? Có nên giữ như vậy không?”

Võ Ðình:
Tôi thông cảm với những họa sĩ (Việt Nam) “từ chối phát biểu bằng lời.” Không, đây không phải là “một thái độ riêng của giới sáng tác hội họa Việt Nam.” Từng cư ngụ nhiều năm ở Pháp rồi ở Hoa Kỳ, tôi nhận thấy giới sáng tác hội họa ở đó cũng thường giữ im lặng lắm. Theo tôi hiện tượng ấy có mấy nguyên do.

1. Hội họa là một nghệ thuật câm nín. Người họa sĩ không có thói quen phát biểu bằng lời trong cuộc sống, trong công việc. Ngày xưa, Paul Cézanne, cha đẻ của hội họa hiện đại từng nói: “Người họa sĩ suy tưởng với cây cọ trong tay.” (Un peintre pense avec les pinceaux dans les mains.)

2. Ngôn ngữ hội họa là một ngôn ngữ dị biệt. “Nói” về hội họa thường chỉ đi vòng quanh hội họa, khó đi sâu vào bên trong. Câu 3 và câu 4 đã gây xúc động, bài này sẽ không nhắc lại hết, tuy nhiên khi Võ Ðình nói “hiếm có những tác phẩm đã đủ nói lên tất cả, hiếm lắm,” thì điều ấy không sai. Ông nói rõ rằng không chỉ giới họa sĩ, mà “nói chung, ở người Việt Nam,” người ta ngại phát biểu bằng lời vì “e ngại ‘bút sa gà chết’, đụng chạm tự ái kẻ khác.”

Những dòng này được viết ra nhân ngày giỗ thứ tư của họa sĩ (mất vào 6 giờ Chủ Nhật, giờ Florida, ngày 31 tháng 5, 2009). Như một tưởng nhớ người nghệ sĩ bộc bạch hiếm có.

(Ngày 29 tháng 5, 2013)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét