Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Giỗ đầu Nguyễn Mộng Giác

Hôm nay, Chủ nhật 30 tháng 6, 2013, một số anh chị em bạn bè cùng gia đình của nhà văn Nguyễn Mộng Giác sẽ gặp nhau để tưởng niệm anh nhân ngày giỗ đầu.
Diễn Đàn Thế Kỷ xin đăng lại một số bài bạn hữu viết về anh sau khi anh qua đời ngày 2 tháng 7, 2012.
DĐTK

Tiểu sử và các tác phẩm  của Nguyễn Mộng Giác

I. Vài dòng tiểu sử:
  • Sinh năm 1940 tại Bình Định, miền Trung Việt Nam. 
  • Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1963. 
  • Dạy học tại Huế, Quy Nhơn và làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục Bộ Giáo Dục, Sài Gòn. 
  • Bắt đầu viết văn năm 1971, đã cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. 
  • Vượt biển tị nạn năm 1981 qua ngả Nam Dương, đến định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1982. 
  • Cộng tác với các báo Đồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật. 
  • Chủ bút tạp chí Văn Học, California, Hoa Kỳ, từ 1986 đến tháng Tám/2004. 
  • Định cư tại thành phố Westminster thuộc quận Orange, California, cùng với gia đình. 
  • Mất ngày 2 tháng 7 năm 2012 tại Westminster, California, Hoa Kỳ


II. Tác phẩm
1. Tác phẩm xuất bản tại miền Nam trước năm 1975: . . 
- Nỗi băn khoăn của Kim Dung (tiểu luận, nxb Văn Mới, Sài Gòn 1972)
- Bão rớt (tập truyện ngắn, nxb Trí Đăng, Sài Gòn 1973)
- Tiếng chim vườn cũ (truyện dài, nxb Trí Đăng, Sài Gòn 1973)
- Qua cầu gió bay (truyện dài, đăng trên tạp chí Bách Khoa từ số 350 đến số 357, nxb Văn Mới, Sài Gòn, in thành tập năm 1974)
- Đường một chiều (truyện dài, Giải thưởng Trung tâm Văn bút Việt Nam, 1974, nxb Nam Giao, Sài Gòn 1974)

2. Tác phẩm xuất bản ở hải ngoại:
- Ngựa nản chân bon (truyện ngắn, nxb Người Việt, Hoa Kỳ 1984)
- Xuôi dòng (tập truyện ngắn, nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ 1987)
- Mùa biển động (trường thiên tiểu thuyết, nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ, xuất bản từ 1982-1989) gồm tất cả 5 tập:
- Những đợt sóng ngầm, 1984
- Bão nổi, 1985
- Mùa biển động, 1986
- Bèo giạt, 1988
- Tha hương, 1989
Tái bản lần thứ 6 năm 2001.
- Sông Côn mùa lũ (trường thiên tiểu thuyết, 4 tập, viết từ năm 1977-1981)
Nhà xuất bản An Tiêm (Hoa Kỳ) xuất bản những năm 1990,1991
Nhà xuất bản Văn Học (Hà Nội) và Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học tái bản lần thứ nhất năm 1998
Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, nhà xuất bản Văn Học và nhà sách Văn Lang (Sài Gòn) tái bản lần thứ nhì năm 2003
 Nhà xuất bản Văn Học và Nhà sách Thanh Nghĩa tái bản lần thứ ba năm 2007
- Nghĩ về văn học hải ngoại (tiểu luận, nxb Văn Mới, Hoa Kỳ 2003)
- Bạn văn, một thuở…(tạp luận, nxb Văn Mới, Hoa Kỳ 2005

3. Tác phẩm chưa xuất bản:
- Tình và Đạo trong thơ Hàn Mặc Tử (tiểu luận)
- Vào đời (truyện dài), đã đăng một phần trên tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn, 1973-1974)
- Đêm hoang (truyện dài), đã đăng trên tuần báo Đồng Nai (Hoa Kỳ)
- Mây bay về đâu (truyện dài)

4. Những bài viết trên tạp chí Văn Học (California, Hoa Kỳ):
- Thư gửi một người bạn trẻ (VH 11)
- Thư mùa xuân gửi người bạn trẻ (VH 12-13)
- Đàm thoại với nhóm Thế Hệ ở Houston (VH 15)
- Tìm hiểu thế giới nhân vật của Võ Phiến (VH 19)
- Tạ ơn đời, tạ ơn anh (VH 21)
- Doãn Quốc Sỹ, người anh khả kính (VH 31)
- Những ý nghĩ về một bài báo đăng trên Đoàn Kết (VH 38)
- Lời cuối cho một bộ trường thiên (VH 42)
- Nhìn lại một chặng đường (VH 45)
- Đôi điều suy nghĩ (VH 49)
- Phan Huy Ích ở Phú Xuân (VH 55)
- Chaka (VH 70-71)
- Lại bàn một chuyện cũ (VH 74)
- Bệnh hoang tưởng. Câu chuyện văn học (VH 76)
- Mùa Vu lan, nghĩ về mẹ (VH 77)
- Cơn khủng hoảng của truyện ngắn (VH 79)
-Nhìn lại một năm sinh hoạt văn học và xuất bản hải ngoại (VH 80-81)
- Văn học lưu vong hay văn học di dân (VH 99)
- Triển vọng của văn học hải ngoại (VH 103)
- Chúc Tết (VH 105-106) 
- Trời xanh bên kia sông (VH 108)
- Hai mươi năm văn xuôi hải ngoại (VH 109)
- Viết về chiến tranh Việt Nam (VH 115)
- Nhìn lại một năm văn chương (VH 117-118)
- Hoạt cảnh của ngày xuân (VH 129-130) 
- “Đi với về cùng một nghĩa như nhau” (VH 133)
- Đi vào cõi thơ Khoa Hữu (VH 141-142)
- Vĩnh biệt nhà văn Mai Thảo (VH 143)
- Kho tàng của quá khứ (VH 149)
- Tình trạng lão hóa trong sinh hoạt văn học (VH 153-154)
- Đọc “Thiên nga giữa cõi người” (VH 159)
- Đọc “Chân mang giày số 6” (VH 160)
- Đọc Miêng (VH 161) 
- Hai con đường vào đời, vào thơ (VH 162)
- Đọc “Tùy bút” của Trúc Chi (VH 164) 
- Đọc “Về với biển cả” (VH 177-178)
- Mười sáu năm nhìn lại (VH 181) 
- Thực chất và huyền thoại (VH 183)

Trần Mộng Tú - Như tiếng sách rơi


    
 Trần Mộng Tú


Tiễn bạn văn Nguyễn Mộng Giác 


Bạn bè tan như đá vụn
theo nhau lăn xuống chân đồi
ngọn đồi dần dần sạt lở
tiếng rơi như tiếng sách rơi
Tiếng sách rơi khô trong hạ
thả vào võng gió chênh vênh
một chút âm dư vương lại
cũng tan theo nắng, nhẹ tênh
Từng mảnh đá lăn từng mảnh
có chút bụi nào bay xa
có giọt sương nào đọng lại
có giọt lệ nào như hoa

Văn chương theo người thinh lặng
chữ nghĩa theo người bốc hơi
giấy mực theo người khô cạn
bạn ơi sách ơi…. mây trôi
Tiếng những bàn chân rất chậm
tiễn ai về cuối chân trời
như tiếng sách từng cuốn một
rơi xuống từ trên đỉnh đồi
Cúi xuống nhặt lên một cuốn
mở ra trắng xóa hàng hàng
giấy mỏng thơm như áo liệm
bìa thơm như nắp áo quan

tmt
ngày 2 tháng 7 năm 2012



Đỗ Quý Toàn - Nguyễn Mộng Giác và văn học hải ngoại


Đỗ Quý Toàn

Nếu không nhờ có Nguyễn Mộng Giác thì chắc tôi chẳng bao giờ viết xong tập Tìm Thơ Trong Tiếng Nói. Đó là vào đầu thập niên 1980, tôi đang ở Montréal, với không khí sinh hoạt nghệ thuật, trí thức khích động trong tinh thần cởi mở nhất, một thành phố đẹp và đáng yêu nhất, theo kinh nghiệm tôi sống 37 năm ở Bắc Mỹ. Nhưng tôi sống và làm việc, kết bạn phần lớn với những người không nói tiếng Việt Nam.



Hồi đó, một trong những niềm vui là mỗi tháng nhận được tạp chí Văn Học doNguyễn Mộng Giác và một số anh em khác trông coi. Tôi được biết đến tờ báo sau khi nhà văn Võ Phiến đã nghỉ, chỉ còn mình Giác gánh lấy công việc nặng nhọc này. Một công việc vừa tốn thời giờ, công sức, vừa lo chạy tiền giấy, tiền in, tiền gửi, mà số tiền thu được nhờ bán báo không bao giờ đủ trang trải chi phí. Lúc đó cũng có tạp chí Văn do nhà văn Mai Thảo và sau là Nguyễn Xuân Hoàng phụ trách, nhưng hai tờ báo văn nghệ có phong cách và mầu sắc khác nhau. Ngoài ra còn một số tạp chí địa phương khác.Tạp chí Hợp Lưu của Khánh Trường, Thế Kỷ 21 của nhật báo Người Việt do Lê Đình Điểu, Phạm Xuân Đài chủ trương, xuất hiện trễ hơn.

Anh Mai Thảo cũng như anh Nguyễn Mộng Giác luôn luôn nhắc nhở các bạn văn đóng góp cho Văn và Văn Học. Lối nhắc của hai người đều nhẹ nhàng, ngắn gọn. Anh Mai Thảo đã quen tôi từ hồi ở Việt Nam trước 1975 nên có khi anh còn nói chuyện riêng, gửi cho một đoạn thơ mới nhận được, của Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, có khi chỉ có hai câu, lén chuyển từ nhà tù “cải tạo” ra ngoài, rồi được gửi ra ngoại quốc. Những lá thư của Nguyễn Mộng Giác còn ngắn gọn hơn nữa, nhưng mỗi lần nhận được một lời nhắn, mình lại cảm thấy phạm tội, vì không đóng góp được gì cho một công việc chung.

Bởi vậy, tôi đã có bữa phải đặt bút viết những ý nghĩ vụn vặt của mình ra thành một bài, sau này là bài mở đầu tập Tìm Thơ Trong Tiếng Nói. Những ý nghĩ đó đã bật ra khi tôi đọc thơ hay đọc những bài, những sách viết về thơ. Đó là một nhu cầu riêng. Một thôi thúc từ bên trong không thể nào cưỡng được, trong hoàn cảnh tôi đang sống.

Đầu thập niên tôi làm việc tại trường McGill, vừa dậy các lớp cấp cử nhân vừa đóng vai một sinh viên Ph.D. về quản trị kinh doanh. Công việc học các ngành trong môn quản trị, đặc biệt là việc nghiên cứu về lý thuyết tài chánh rất thích thú, bởi vì cái gì đối với tôi cũng mới. Nó mở rộng kiến thức của tôi về con người sống trong tổ chức, về cơ cấu ngành kinh tế, được học thêm các môn toán mới cũng như phương pháp khảo cứu khoa học; tất cả đều ảnh hưởng tới công việc viết lách của tôi sau này. Nhưng bên cạnh những sách báo chuyên môn về quản trị và kinh tế, tôi vẫn đọc thơ, làm thơ. Vì ở cái tuổi mới ngoài 40, cuộc đời đẹp quá không thể nào không xúc động; không thể nào chỉ vùi đầu trong các trò chơi của lý trí.

Có lẽ đó cũng là một phản ứng muốn thoát ra ngoài thế giới công việc làm. Đó là quãng thời gian sung sướng nhất tôi đã sống, cho tới bây giờ, trí óc được làm việc trong không khí một đại học chú trọng đến nghiên cứu hơn là dậy học trò. Ở thư viện chính của Đại học McGill, tôi tìm các tài liệu trong báo, sách chuyên môn về hiện tượng ngẫu nhiên, từ đó lại thích thú tìm hiểu lý thuyết về thông tin (Information Theory) trong vật lý học. Khi đọc các khám phá trong kinh tế học nhờ “lý thuyết trò chơi” (Game Theory), thì lại được nghe người ta kể một chuyện ngụ ngôn tiêu biểu kích thích mình suy nghĩ. Có tay “tổ sư” trong ngành viết về lý thuyết Tài Chánh học với những ý tưởng lan man cả những suy nghĩ triết lý siêu hình, lại đặt cái tựa “Clock and Cloud,” nghe như tựa một bài thơ. Họ làm việc với mắt nhìn rộng như vậy, có lúc một tác giả nào đó lại dẫn lời của một thi sĩ, một triết gia. Đọc chú thích về nguồn gốc tài liệu người ta tham khảo, tôi lại tò mò phải tìm đọc cho được bản gốc, thường có ngay trong thư viện. Cứ như thế, sau khi mệt cái đầu với những môn toán về tài chánh học,tôi có cớ là đi lần mò tìm đọc các triết gia, những thi sĩ khắp thế giới khi thấy một cuốn sách họ bàn về việc làm thơ, đọc thơ. Nhiều khi đọc các tác giả này thì chợt thấy điều họ nói cũng là điều mình đã cảm thấy trước rồi, khi đọc thơ của người Việt Nam. Có điều mình chưa bao giờ ghi lại trên giấy, vì thấy đó là một cảm xúc hay ý nghĩ rất riêng tư, chắc không nên làm bận tai người khác.Tôi vẫn nghĩ rằng nói chuyện thơ rất khó, thơ là một chuyện rất riêng tư, người ta khó cảm thông cùng một cách. Thơ như một người đẹp không ký kết ăn đời ở kiếp với mình bao giờ. Người ta đi tìm Thơ suốt đời, được nhìn vào đôi mắt, được bắt tay một cái, là đủ. Không thể nào trao đổi ý kiến, bàn luận với nhau một cách thuần lý như các bài toán.

Nếu không có Nguyễn Mộng Giác hay Mai Thảo nhắc nhở thì chắc những giờ phút đọc, nghĩ ngợi rồi lẩm nhẩm một mình như thế sẽ đi qua, không để lại dấu vết nào cả. Không biết có một lần nào đó, nhận được báo Văn Học mới và thư của Giác, tôi tự bảo mình phải đáp lại tấm lòng của con người yêu văn chương này. Tiện nhất là viết một bài về thơ, đọc thơ, làm thơ, rút kinh nghiệm bản thân ra, mời mọi người cùng suy ngẫm thêm về chuyện này. Sau khi bài đầu tiên đăng trên Văn Học, Nguyễn Mộng Giác khuyến khích tôi viết tiếp, bởi vì anh thấy bài đã đăng có phong vị riêng, không giống những các tác giả khác đã viết về thơ. Thực ra từ đầu tôi chỉ có ý định viết một bài, rồi thôi, nên lấy tựa là Nói Chuyện Thơ. Coi như chỉ có bấy nhiêu điều để nói, nói cho hết. Nhưng những lời khích lệ của Nguyễn Mộng Giác có hiệu quả. Lười đến mấy cũng phải cố gắng viết thêm. Không gì kích thích người viết bằng phản ứng của người đọc, nhất là một bạn văn. Đó là nguyên ủy việc tôi viết về thơ, và tiếp tục viết trên Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21 về các kinh nghiệm riêng tư của mình. Cho tới khi chú Châu Văn Thọ, người chủ trương nhà xuất bản Thanh Văn hỏi: “Sao anh không in đi?”

Câu chuyện trên đây là mối chân tình khi tôi nghĩ đến Nguyễn Mộng Giác. Anh là một tác giả viết không mệt mỏi, anh đã đóng góp những tác phẩm được độc giả trong nước, ngoài nước yêu thích. Nhưng một công trìnhcủa anh tôi ngưỡng mộ nhất là việc chủ trương một tờ tạp chí văn chương, học thuật trong bao nhiêu năm, trong hoàn cảnh khó khăn của người Việt Nam tị nạn sống ở nước ngoài. Đó là một việc chắc chắn tôi không làm được. Tôi không có đức kiên nhẫn, hiền hòa và nghĩ đến người khác nhiều như anh.

Lúc đó chúng ta có độ bao nhiêu người? Có đến nửa triệu hay một triệu? Lại sống rải rác khắp bốn biển, năm châu. Và số người viết văn, làm thơ cũng không đông được bao nhiêu. Làm sao có thể làm một tạp chí văn chương rồi giữ nó sống được? Bây giờ nhìn cảnh các tiệm sách của người Việt Nam đóng cửa ở mọi thành phố khắp nơi càng thông cảm với nỗi những khó khăn mà Nguyễn Mộng Giác, Mai Thảo, Khánh Trường và Nguyễn Xuân Hoàng đã phải đương đầu.

Mà việc xây dựng những diễn đàn cho văn chương của người Việt tị nạn là một nhu cầu lớn. Sau năm 1975, quả thật chúng tôi không trông cậy gì vào các nhà văn miền Bắc trong việc phát triển văn chương của người Việt Nam cũng như các nhà văn còn ở lại Sài Gòn. Bởi vì các tác giả trong nước không được quyền tự do sáng tác, họ không thể nói hết các suy nghĩ và tâm tư, cũng không thể sáng tạo những phong cách mới theo tài năng của họ. Điều này chúng ta đã thấy rõ, khi sau này những nhà thơ, nhà văn có tài như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Chế Lan Viên từng nhìn lại các tác phẩm của họ và tiếc đã phí phạm chính năng lực sáng tạo của họ. Phải đến khi giới văn nghệ Việt Nam được cởi trói lần đầu, những người sống ở nước ngoài mới yên tâm là đã có cơ hội cho văn chương Việt Nam phát triển đúng với tiềm năng của dân tộc.

Trong hoàn cảnh mười năm sau 1975, chỉ còn những người làm văn học sống ở nước ngoài được tự do tiếp tục công việc đẩy văn chương nước ta trên những bước đường mới. Biết như vậy, chúng ta mới thấy công của những người như Nguyễn Mộng Giác, Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng và Khánh Trường, cùng Lê Đình Điểu, Phạm Xuân Đài trên tờ Thế Kỷ 21 rất đáng quý.

Những nhà văn trên làm việc theo cách khác nhau. Mai Thảo trông coi tạp chí Văn giống như một blog bây giờ; đó là nơi anh sống cuộc đời nhà văn của anh, tiếp xúc với thế giới bên ngoài cùng các bằng hữu. Nguyễn Xuân Hoàng tiếp tay Mai Thảo cũng theo tinh thần đó. Khánh Trường, một blogger khác, dùng tạp chí Hợp Lưu múa kiếm, đánh côn để thỏa chí tang bồng không chịu đi theo những bước mòn của đa số. Trên Văn, chúng ta thấy Mai Thảo; trên Hợp Lưu, chúng ta thấy Khánh Trường; họ đóng vai chính, vừa là đạo diễn vừa làm diễn viên đáng chú ý nhất. Lê Đình Điểu, Phạm Xuân Đài góp công lập một diễn đàn chính trị cũng như văn hóa trên tờ Thế Kỷ 21, nhưng không chú trọng về văn chương.

 Nguyễn Mộng Giác chủ tâm chỉ làm văn nghệ, nhưng anh đóng vai chủ trương tờ báo Văn Học với vai trò một đạo diễn, một trọng tài, một người kéo màn hay một nhà nội trợ nấu nướng, chứ không cốt làm báo để tự mình nhận vai diễn viên số một. Anh đứng đằng sau tờ tạp chí, nhưng nhận một vai trò khiêm tốn. Đó là một điều đáng quý vì cá tính của anh. Nhiều người làm báo vì sở thích hoặc nhu cầu cá nhân, nếu không làm thì không chịu nổi. Nguyễn Mộng Giác xây dựng một tạp chí văn học vì nhu cầu chung, bao nhiêu người đang muốn bảo vệ tiếng nói Việt Nam, văn chương Việt Nam, tụ họp các tài năng sáng tạo của người Việt Nam. Chúng ta còn thấy các tác giả sống trong nước cũng gửi sáng tác cho đăng trên những tạp chí ở nước ngoài.

Quan trọng nhất là các tạp chí Văn Học, Văn đã kích thích bao nhiêu nhà văn, thi sĩ viết trở lại; bao nhiêu người trẻ sáng tác hăng hái. Thời gian hơn 20 năm trước, nhờ đọc tờ Văn Học chúng tôi mới được biết những bài thơ của Ngu Yên, Trần Mộng Tú, Nguyễn Thị Thanh Bình, Chân Phương, Đặng Hiền, Trân Sa, Thường Quán, Đỗ Quyên v.v.

Những truyện ngắn của Miêng, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Ngô Nguyên Dũng, Trần Vũ, v.v.

Chỉ kể một vài thí dụ trong số nhiều nhà văn nhà thơ trẻ đã gây nên một không khí sáng tác trong một cái làng văn nghệ trải rộng khắp thế giới.

Và nhờ không khí văn chương đó vui vẻ náo động, những người ở một chốn hẻo lánh xa xôi như chúng tôi tại thành phố Montréal mới có hứng ngồi xuống viết bằng tiếng Việt Nam, sau một ngày phải sống bằng tiêng ngoại quốc. Nếu không có tạp chí Văn Học thì chắc cũng không có tập sách tập nhỏ Tìm Thơ Trong Tiếng Nói. Nhờ cuốn sách viết vội trong những giờ nhàn rỗi, gọi là tiệp ký, tôi không ngờ đã bắt được những dây thông cảm với cả các thi sĩ và nhà văn sống trong nước. Thi sĩ Phùng Quán đã viết thư chép cho bốn câu thơ của ông mà tôi trích dẫn nhưng không nhớ đúng. Tôi ân hận không bao giờ còn cơ hội gặp ông, biết ơn lời bậc đàn anh gọi “qua nhà làm chén rượu.” Nhà biên khảo Lê Ngọc Trà đã gửi tăng một tác phẩm của ông về văn học, nhà thơ Hoàng Hưng đã gửi tặng tôi thơ của ông khi mới xuất bản. Cả hai vị tôi chưa bao giờ được gặp nhưng sẽ nhớ ơn mãi.Tất cả những giao tình này khiến lòng tôi ấm áp, biết rằng mình vẫn nối được với tiếng mẹ đẻ.

Nguyễn Mộng Giác đã giúp tôi trở về với chuyện thơ và tiếng Việt.  Sau khi tập sách in rồi, tôi còn đăng mấy bài khác cũng Nói Chuyện Thơ trên tạp chí Văn Học; đó là những bài tôi thích nhất, nhờ chúng mà tôi có dịp gặp lại, trò chuyện với Thanh Tâm Tuyền để chia nhau những cảm xúc thi ca. Tôi sẽ còn nợ Nguyễn Mộng Giác và Thanh Tâm Tuyền, sẽ phải san nhuận lại để in tập Tìm Thơ Trong Tiếng Nói để tưởng nhớ hai anh lần nữa.

Đỗ Quý Toàn
Tháng Tám 2012


Trúc Chi - Thăm bạn


Trúc Chi

Dạo ấy, bệnh tật nó chưa làm phiền anh Nguyễn Mộng Giác. Con người siêng năng này lúc ấy đang dư sức để mà vừa đi làm vừa chăm chút cho nguyệt san Văn Học. Thường, khi gặp nhau hoặc lúc chuyện trò qua điện thoại mà lại đúng vào tuần lễ cuối tháng, anh hỏi nhẹ:
- Tháng này có bài không anh?


Thường thường là có và chưa xong. Mà tôi thì nước đến chân mới nhảy nên thường thường là khất vì tôi nghĩ rằng cái nợ chữ nghĩa, lỡ quá kỳ hạn mà không thanh toán kịp cũng không sao. Báo chứ có phải là “nhà băng” đâu mà phải lo lời với lãi.

- Hôm nay Thứ Ba. Thứ mấy anh đem đi in?

- Thứ Năm.

- Sáng sớm thứ Năm tôi e-mail bài cho anh.

- Anh nhớ sửa lỗi đánh máy cho kỹ. 

Nếu mấy hàng trên đây là một mẩu chuyện khi đối diện nhau thì thường nó vẫn được kết thúc bằng một nét cười trong đôi mắt lanh và sáng. Ấy, cái lối anh Giác giục bài nó hiền lành như vậy đó. Mà dặn dò cũng nhẹ nhàng không kém. Con người này ăn nói quả có từ tốn. Mà bản tính cũng hiền lành. Xin ghi lại một điều tôi đã để ý khi nhìn anh phát biểu trước đám đông để minh chứng cho cái nét dễ thương này trong con người Nguyễn Mộng Giác:
Khác với những cú huơ tay quyết liệt, những phút cất tiếng rất dõng dạc của một số diễn giả tự thấy mình hoạt bát và hùng hồn mỗi khi cần phải nhấn mạnh một điểm trong diễn văn, anh Giác không lên giọng, không đưa mắt quét ngang thính phòng hoặc hội trường khi muốn tô đậm một nét trong lời phát biểu. Anh chỉ đưa hai bàn tay hơi xòe ra, mấy ngón tay cong cong, xô nhè nhẹ về phía trước. Động tác của một người đang đẩy một vật gì đó ra phía trước cho người khác xem, mà đẩy từ từ thôi. Qua cử chỉ đó, tiềm thức anh nói với cử tọa: “Tôi đưa ý kiến ra vậy thôi, không ép quí vị phải nhận nó.” Người hung hăng không có được động tác ấy.

Nói đã vậy mà viết thì như thế nào?  Cần phải nói ngay rằng ở đây tôi không đề cập đến cốt chuyện hoặc lời văn  của bất cứ một tác phẩm nào của anh, tuy đã đọc hầu hết toàn bộ. Viết ở đây, tôi dùng theo cái nghĩa đen giản dị: cầm bút ghi chữ xuống mặt giấy.

Một buổi chiều, thời gian anh bắt đầu lâm trọng bệnh cách đây cũng sáu bảy năm, vợ chồng tôi đến thăm. Ngồi nói chuyện với tôi một lúc, anh mệt, vào nghỉ. Vợ tôi vào bếp trò chuyện với Diệu Chi đang lo sửa soạn cơm tối. 

Thấy tập bản thảo Sông Côn Mùa Lũ trên cái bàn thấp trong phòng khách, tôi lật xem kỹ, tuy đã được anh Giác cho xem nhiều lần trước đó. Về cuộc hành trình hi hữu của tập bản  thảo này từ Tân Sơn Nhứt sang đến phi trường Los Angeles, anh chị em bạn viết lách đã kể lại nhiều lần, tôi không còn chi để thêm nữa. Đây là một tập vở dày đến hơn mười mấy phân chứ không ít. Giấy, có chỗ trắng, chỗ màu cà-phê sữa mà nhiều sữa. Giấy cũ thì nó ngả màu đã đành. Tôi chỉ xin nói rõ là đã có lúc anh Giác không đủ tiền để mua giấy tốt vì anh sáng tác bộ tiểu thuyết lịch sử này trong những năm mà chỉ có những người nhìn mà không thấy hoặc thấy mà không nhìn mới dùng mấy chữ “nhà đủ người no” khi nói về thực trạng kinh tế và tài chánh ở miền Nam sau khi Sài Gòn đổi chủ vào cái tháng Tư lịch sử ấy.

Nét chữ rõ ràng, ngay ở những đoạn anh viết hơi thoắng. Tốc độ (tôi vẫn thích “tốc độ” hơn “tốc lực”) của ngòi bút khi tăng khi giảm nhưng mà chữ viết vẫn đều, bút đưa nhanh mà tự dạng vẫn khoan thai. Nhiều chỗ có đến bảy tám trang không thấy sửa một chữ, điều này cho thấy anh suy nghĩ kỹ trước khi hạ bút. Tôi có thể hình dung ra một Nguyễn Mộng Giác cắm cúi viết, chứ không đến nỗi phải “hì hục” một cách cực nhọc như Nguyễn Vỹ và Trương Tửu! (1)

Bây giờ, thời đại của điện thư, của máy vi tính, viết lách mà có sửa chữa chi cũng không hề để lại một “di tích” nào cho nên xem được bản thảo một tác phẩm viết tay của bạn, với tôi là hiếm, do đó, quí. Hôm ấy, tôi đã nghĩ thầm rằng sau này chắc không còn có dịp cầm trong tay một tập bản thảo nào dày như vậy của bất cứ một ai khác.

Mới đó mà nay nhớ đến tập vở dày cộm ấy đã có thể dùng đến hai chữ di cảo. Tôi sực nghĩ đến một cái tứ thơ buồn buồn của ngôi sao Bắc Đẩu trên vòm trời thơ Việt, Nguyễn Du:
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu…

Phải rồi…đường còn dài mà trời đã về chiều, bạn bè mới thì ít…Khi viết ra câu chữ Hán trên đây, Nguyễn Du có còn ôm hoài bão nào không – vì ông dùng hai chữ trường đồ - tôi không làm sao biết được. Tôi nghĩ đến bảy chữ hàm súc đó chỉ vì nó nhắc đến bạn bè, đến ngày tàn. Tôi nghĩ đến tâm sự của Tố Như, đến cái bóng ngày tàn đang buông xuống buổi chiều của  chính đời tôi, tôi nhớ đến vài người bạn viết lách, hát xướng nay đã là người thiên cổ: khoảng mấy năm gần đây, Nguyễn Đức Quang, Cao Xuân Huy, Thảo Trường đã rủ nhau ra đi… bây giờ đến Nguyễn Mộng Giác. Bạn mới thì ít đã đành, mà bạn cũ thì ngày càng lơ thơ. Rứa mới rầu.

Nhưng mà… thôi. 
Tập bản thảo mà tôi vừa nhắc đến trên đây dĩ nhiên là quí đối với toàn thể gia đình anh Giác. Nhưng tôi biết còn có một vật “gia bảo” nữa mà anh Giác cũng nâng niu không kém.  Nó không phải là ngọc ngà châu báu chi, nó là một tờ giấy, một văn kiện, nó là cái học bạ thời trung học của anh. 

Đó là một tờ giấy cũ, còn cũ hơn cả giấy trong tập bản thảo Sông Côn Mùa Lũ. Lời phê của các giáo sư, mực xanh và đen có chỗ đã phai, nhìn kỹ mới đọc được hết. Mà đọc được rồi thì thấy toàn là lời khen trong mọi môn. Với một cái học bạ như thế, không có chi đáng ngạc nhiên khi thấy anh đậu thủ khoa đại học sư phạm sau này.

Dĩ nhiên, ai mà không quí những thành tựu, những kết quả của cố gắng của chính mình trong những bước đầu trên con đường mở mang học vấn. Sau khi xem và đọc kỹ cái học bạ cũ kỹ ấy, tôi trao nó lại cho anh Giác. Anh vừa đỡ lấy nó - tôi nhấn mạnh đỡ chứ không phải cầm – vừa nói với một cái nhìn trìu mến dừng lại trên những hàng chữ mờ mờ:
- Còn được cái này…

Anh Giác bỏ dở câu nói. Tôi hiểu. Phải rồi. Một cuộc bể dâu năm 1954 nhồi thêm một phen dâu bể 1975, bên cạnh những điều trông thấy còn biết bao nhiêu là mất mát trong lòng mỗi người trong chúng ta… Cái học bạ của môt thời xa xưa ấy, anh Giác quí nó là phải.  Giữa những gì đã bỏ anh mà đi biệt tăm – làm sao tôi biết hết được – tờ giấy cũ ấy  hẳn  đã từng cho anh chút an ủi, chút ấm áp, chút ánh sáng khi biết mình còn vớt được chút kỷ vật nhỏ nhoi sau hai cơn khói lửa đánh dấu một trận nội chiến – vâng, nội chiến bởi vì mồm mép, miêng lưỡi cho lắm thì cái chuyện người Việt giết hại nhau vẫn sờ sờ ra đó, đố mà phủ nhận, mà chối – khốc liệt chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà. Trận nội chiến đã thiêu rụi bao nhiêu thứ khác trên giải đất từng được xem là giang sơn gấm vóc. Viết đến đây, hai câu trong bài Vịnh Bức Dư Đồ của Tản Đà “học thuộc lòng” từ ngày còn ở Quốc Học Huế, cách đây cũng đã ngoài 65 năm chứ không ít, chợt trở về với tôi trong một thoáng liên tưởng nhuốm chút buồn, chút tiếc:
Ấy của ông cha xưa để lại
Mà nay con trẻ  lấy làm chơi

Cái hôm anh Giác đưa tôi xem tờ học bạ cũng là hôm anh kể tôi nghe một mẩu chuyện vui hồi sống trong vùng Việt Minh – chính quyền cọng sản hồi đó gọi là vùng “tự do” – và đã có một lúc anh đi chăn dê cho người trong làng. Một hôm, có một con dê đực bỏ bầy đi lên trên núi. 

Anh Giác nói:
- Tôi sợ quá. Mất dê phải đền cho người ta.

Sau khi sục sạo cả một buổi qua các lối đi quen thuộc của bầy dê, anh vẫn không tìm ra con dê quái ác ấy. Nhưng mà cuối ngày rồi nó cũng tìm về chuồng. Anh Giác cười:
- Vừa mừng vừa giận tôi quất cho nó mấy roi. Sau đó nghĩ lại cũng tội con dê. Lỗi mình để cho nó sổng chứ đâu phải lỗi nó!

Nghe xong câu chuyện, tôi nói giỡn:
-  Hồi ấy anh có gặp anh Bùi Giáng không? Anh Bùi Giáng cũng đã từng chăn dê.

-   Anh Bùi Giáng chăn dê ở Quảng Nam. Còn lúc đó tôi ở Bình Định.  Mà lúc đó tôi cũng chưa biết Bùi Giáng là ai.

Vậy là trong số văn nghệ sĩ miền Nam, theo tôi biết, đã có hai người – một nhà văn và một nhà thơ – từng đi chăn dê. Loại kinh nghiệm chăn nuôi này có để lại dấu vết nào trong tác phẩm của hai anh hay không, tôi chưa đọc hết mọi tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác và Bùi Giáng nên cũng không dám nói.  Chỉ biết thời gian hai anh chăn dê không dài đến mười tám mười chín năm như Tô Vũ đời nhà Hán bên Trung quốc! Và sau 54, cả hai anh đều bỏ miền “tự do” rồi sau đó, dấn mình vào nghiệp thơ, nghiệp văn.

Mà lại lạc đề mất rồi. Phải tự nhắc mình rằng mình đang viết về Nguyễn Mộng Giác, về những kỷ niệm với Nguyễn Mộng Giác. Non ba mươi năm trời… Bao nhiêu lần gặp nhau tại nhà riêng của anh mà cũng là trụ sở của Văn Học, trong nhiều buổi sinh hoạt cọng đồng người Việt ở Westminster, trong mấy tiệm cơm, tiệm phở quen thuộc khu Bolsa… Bao nhiêu là câu chuyện văn chương, thời sự, tình đời ấm lạnh… kể sao cho hết.

Học hỏi nhau về những gì mình đã lịch nghiệm trong cuộc sống, qua sách vở.  Ý kiến về dăm vấn đề dĩ nhiên là có lúc khác nhau, đối nghịch nữa là khác, nhưng mà không tranh cãi, không một lần phật ý, không một lần bực mình. Kể sao cho hết kỷ niệm với Giác. Bạn là vậy đó. Trong một bài viết về tình bằng hữu, Montaigne nói gọn gàng mà hàm súc rằng sở dĩ bạn ông và chính ông thân nhau là vì anh ấy là anh ấy, vì tôi là tôi. (2) Triển khai sao cho hết ý nghĩa của câu văn giản dị này!

Ngôi nhà ở góc đường rẽ vào nhà anh Giác từ đường Magnolia có hàng rào gỗ sơn trắng. Tôi vẫn dùng cái hàng rào trắng ấy để “làm dấu” mà chuẩn bị quẹo. Một lần đến nhà anh Giác, cùng đi với Huy Văn – có viết cho Văn Học – tôi nói giỡn rằng nếu chủ nhà sơn lại màu khác là hai anh em mình lạc. Tuần trước, lái xe trên đường Magnolia, thấy cái hàng rào ấy, bất giác tôi thắng nhẹ mà trong đầu lại cũng thoáng một ý nghĩ mà tôi không biết là mình đang nghĩ gì. Tôi nhả thắng, tiếp tục lái đi. Tối hôm ấy, như thường lệ, lên giường, tôi vẫn đọc sách, báo dăm ba phút. Tôi lật tờ tuần báo tìm cái bài đọc dở tối hôm trước. Đến một đoạn có mấy chữ “nền văn học của nhiều nước Đông Âu” tôi giật mình. Tôi chợt hiểu vì sao tôi đã cho xe đi chậm lại khi nhìn thấy cái hàng rào ấy tuy tôi không một mảy may có ý định rẽ vào nhà Giác. Đây:
Hai chữ văn học trong bài báo đã khiến tôi nhớ đến nguyệt san Văn Học. Và khi thấy màu trắng trên hàng rào nọ, tiềm thức tôi dẫn tôi  đến Văn Học và Nguyễn Mộng Giác. Và cái ý nghĩ mà tôi tưởng là không có một ý niệm nào rõ rệt chính là một giây, một thoáng hụt hẫng, ngỡ ngàng. Cái hụt hẫng, ngỡ ngàng của  người xô cánh cửa nhìn vào một căn phòng mà người đó biết rằng trong đó có nhiều đồ vật, hình ảnh quen thuộcnhưnglại chỉ thấy một căn phòng trống rỗng.

Bạn tôi ra đi thật rồi.

Trúc Chi
7/12



(1) Trong bài Gửi Trương Tửu, Nguyễn Vỹ viết:
“…..Và nhìn chúng mình hì hục viết
      Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết….”
(2) “…parce que c’est lui,parce que c’est moi
( de l’amitié )

Nguyễn Xuân Hoàng - Giác & tôi


Nguyễn Xuân Hoàng

Tính đến ngày 7/7/2012 khi đứng trước một Nguyễn Mộng Giác đang nằm im lặng trong nhà quàn Peek Family ở Quận Cam, tôi nhận ra chúng tôi đã thân nhau hơn một phần tư thế kỷ trên đất Mỹ. Tôi nói hơn một phần tư thế kỷ trên đất Mỹ bởi vì từ trước năm 1975 ở Việt Nam, tôi và Giác, đã từng gặp nhau, nhiều lần trò chuyện với anh như hai người bạn cầm bút. Tháng 4, 1975 trong cái không gian u ám và ngột ngạt chúng tôi thỉnh thoảng gặp nhau, nói về những suy nghĩ trong không khí đầy hoài nghi, hoang mang và sợ hãi. Đôi khi kín đáo hơn chúng tôi nói về một chuyến vượt biên. Sau cùng Giác đã đến được Mỹ trước tôi. 


Nhà văn Nguyễn Mộng Giác (Hình: Bình Hoàng)

Mãi đến năm 1985 từ trại Bataan Phi luật tân qua, chúng tôi mới gặp lại nhau ở Quận Cam. Mới đó vậy mà giờ đây đã là 26 năm. Nếu làm bài toán chia, tôi có 2 giai đoạn thời gian bằng nhau sống ở hai miền Nam và Bắc Cali: 13 năm ở Quận Cam và 13 năm ở Thung lũng điện tử. Trong suốt 26 năm đó chúng tôi không ngừng nghe tiếng nói của nhau.

13 năm ở Quận Cam… 

Đó là thời gian không Chủ Nhật nào là tôi không 

đến nhà Giác. Nhà của Diệu Chi và Giác là một nơi đón nhận bạn bè trong một không khí đầm ấm và thân ái. Chúng tôi gặp nhau nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, chuyện về đời sống, về công ăn việc làm, và tất nhiên là không thiếu chuyện báo chí sách vở. Một truyện ngắn vừa đọc, một bài thơ của ai đó trên Văn Học, rồi Văn, Thế Kỷ 21 hay Hợp Lưu, Khởi Hành….Hay đôi khi, lúc mọi người đã ra về hết, chỉ còn hai đứa, đó là khoảng thời gian chúng tôi im lặng hơn là nói. Giác vốn là người ít nói, từ tốn, mực thước, thâm trầm, kín đáo. Chúng tôi để chuyện sách vở qua một bên, nói về con người, đặc biệt về những bạn bè cầm bút: Những người bạn và những người tưởng là bạn. Những người vừa tuần qua cùng ngồi ở đây – trên chiếc ghế này, ở chiếc bàn này, uống rượu từ chiếc ly này,… đã nói với mình những lời lẽ này, và vẫn người bạn đó, hôm nay ở một nơi nào đó – không xa nơi chốn mình đang ngồi - đã nói về mình bằng những lời trái ngược. Trắng và đen: một nghịch lý khá lớn giữa những điều họ viết ra và thái độ của chính họ trong đời sống bạn bè…. Đó là những lúc tôi nghe Giác thở dài. Và nhiều lần trước khi chia tay, anh thường hỏi tôi: Tại sao? Tại sao? Tôi không có câu trả lời, bởi vì chính tôi cũng rơi vào trường hợp giống như Giác. 

Và 13 năm ở San Jose 

13 năm sau tôi rời Quận Cam, dọn lên miền bắc Cali, vùng đất người ta vẫn gọi là Thung Lũng Hoa Vàng, một nơi có khác với Quận Cam đôi chút: thành phố hiền lành, con người hiền lành, và tôi có thêm vài người bạn mới. Nhưng sao tôi vẫn cảm thấy thiếu vắng Nguyễn Mộng Giác. Những ngày Chủ nhật tôi thường ngồi ở một quán cà phê hơi xa sở làm, đó là nơi tôi có thể gặp một vài người bạn mới quen và có thể chia xẻ đôi điều về đời sống. Nhưng rồi tôi khám phá ra cũng giống như ở phía nam, những người mới quen đó thật ra cũng chỉ là những người mình tưởng là bạn thôi. Tôi nhớ lại câu chuyện vẫn thường trao đổi với Giác. Tôi quyết định chọn một quán Starbucks gần sở làm, cho tiện, dù cà phê ở đây phải nói là khá nhạt nhưng còn hơn một thứ tình bạn nhạt hơn... Những lúc đó tôi thường gọi điện thoại thăm Giác. Chúng tôi không nói nhiều, phần lớn chỉ hỏi thăm sức khoẻ của anh. Thỉnh thoảng Giác kể một vài chuyện về người và việc và bao giờ anh cũng kết thúc bằng một câu hỏi cũ: Tại sao? Tại sao? về những người mà Giác và tôi vẫn thường hỏi/nói: Tưởng là bạn!

Mấy năm sau cùng Giác thường ra vào bệnh viện, tôi ít khi được dịp nói chuyện với Giác. Cho đến khi Giác vào hẳn bệnh viện. 

Về phần tôi, vì nhiều lý do, thời gian sau này tôi rất ít có dịp về lại Quận Cam. Nhưng qua điện thoại, Diệu Chi cho tôi biết sức khoẻ của Giác đã ngày càng yếu hơn và bắt đầu đi đứng khó khăn. 

Một lần sau cùng, tôi gọi thăm anh. Diệu Chi là người bắt máy và nói Giác đang mệt lắm, đang nằm nghỉ. Tuy vậy, chị nói để chuyển máy cho Giác. Tôi nghe tiếng Giác, giọng yếu hẳn… Và, bỗng nhiên Giác nói với tôi về một người tưởng là bạn, nhưng, khi kết thúc câu chuyện tôi không nghe tiếng Giác thở dài, mà là một tiếng cười. Thôi kệ! Hẹn ông hôm nào xuống Quận Cam? Tôi nhớ tiếng cười của Giác sau tiếng Thôi kệ! Tôi thấy lòng mình bình an, chính là nhờ tiếng Thôi kệ của Giác.

Hơn một phần tư thế kỷ trên xứ người, Nguyễn Mộng Giác đã cho tôi một tình bạn ấm áp. 

Tôi muốn nói lời cám ơn Giác. 

Thôi kệ! Ngủ yên nghe Giác.

Trước sau gì thì bọn mình cũng sẽ gặp nhau thôi.

NXH

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Ngô Nhân Dụng -Người Việt ở Mỹ nghèo hơn và học thấp hơn


Ngô Nhân Dụng

Chắc nhiều người Việt ngạc nhiên khi nghe một cuộc nghiên cứu tìm trong các số thống kê thấy rằng người Mỹ gốc Việt thua kém các sắc dân gốc Châu Á khác, về hai mặt, lợi tức và trình độ học vấn. Dù ngạc nhiên hay không, chúng ta cũng nên chú ý đến kết luận này, và thử tìm hiểu nguyên do. Nhất là khi, mới đầu tuần này, chúng ta đặt cho nhau câu hỏi: Có hãnh diện làm người Việt Nam hay không?


Ðã nhiều người nghiên cứu về di dân Châu Á ở nước Mỹ. Mới nhất, là hai giáo sư phân khoa Xã hội học thuộc Ðại Học Brown (Brown University). John R. Logan và Weiwei Zhang đã đặt tựa cho công trình khảo cứu của họ là “Tách biệt nhưng Bình đẳng” (Separate but Equal). Hai tác giả được lợi hơn những nhà nghiên cứu đi trước; vì họ có thể sử dụng và so sánh các dữ liệu mới, thu thập được sau ba cuộc kiểm kê dân số ở Mỹ, 1990, 2000 và 2010. 

Trong các tài liệu mới, người ta không gom tất cả các di dân từ Châu Á vào một nhóm, mà phân tách ra các nguồn gốc quốc gia khác nhau. Nhờ thế, người nghiên cứu không những có thể phân biệt và so sánh người di dân gốc Á với các thành phần khác trong xã hội Mỹ mà còn phân biệt kỹ hơn, thí dụ sẽ thấy người Việt Nam khác với người Trung Hoa hoặc Hàn Quốc.

Chính vì vậy, đọc trong bài khảo cứu của Logan và Zhang, chúng ta sẽ biết nhiều điểm riêng biệt trong lối sống người Việt ở Mỹ, mà khi nhà quan sát coi tất cả các di dân từ Châu Á giống nhau thì không thấy được. Khi biết người Việt có những điểm tương đồng hoặc khác biệt với các di dân Châu Á khác, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về cộng đồng người Việt ở nước Mỹ. Nhân đó, chúng ta sẽ tìm hiểu xem nguyên do nào đã gây ra những khác biệt giữa người Việt và các cộng đồng di dân Châu Á khác.

Hai tác giả chọn sáu sắc dân Châu Á đông nhất ở Mỹ, là Trung Hoa, Ấn Ðộ, Phi Luật Tân, Hàn Quốc, Việt Nam, và Nhật Bản. Di dân Châu Á tại Mỹ là nhóm “thiểu số” gia tăng nhanh nhất ở Mỹ, tăng 250% giữa hai cuộc kiểm tra 1990 và 2010; tổng cộng hiện nay lên tới 18 triệu người; vào năm 1990 số người nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanics) cũng chỉ chừng đó. Trong số người gốc Á Châu, tăng nhanh nhất là người Ấn Ðộ, lên gấp bốn lần trong 20 năm đó. Nhưng tổng số người Ấn Ðộ hiện chỉ có 3.2 triệu người, còn thua người gốc Trung Hoa (4 triệu) và Phi Luật Tân (3.4 triệu).

Có nhiều điểm tương đồng giữa người gốc Việt và các sắc dân Châu Á khác. Di dân Á Châu tương đối khá giả hơn các dân Mỹ khác không da trắng; thí dụ chỉ có 6% sống dưới “mức nghèo khó” trong khi tỷ lệ lên tới 15% khi tính chung tất cả những người gốc di dân. Người Á Châu nói chung tương đối có lợi tức ngang bằng hoặc cao hơn người Mỹ da trắng. Nhưng dù là người Việt hay người Trung Hoa, họ cũng giống người Mỹ gốc Phi Châu hoặc gốc nói tiếng Tây Ban Nha, là thường sống gom lại gần nhau hơn là hòa nhập vào xã hội người Mỹ da trắng. Các khu Little Sài Gòn cũng như các phố Tàu, là trung tâm thu hút những người cùng tổ tiên. Khi nói đến tình trạng quy tụ, tập trung sống với nhau, của người Mỹ da đen (gốc Phi Châu) hoặc nói tiếng Tây Ban Nha, thì lý do chính thường vì họ đều sống trong những khu nghèo. Nhưng người gốc Châu Á quy tụ lại không phải vì lợi tức thấp, mà vì lý do văn hóa.

Phần lớn họ sinh ra ở quê cũ, nên vẫn giữ các phong tục cũ. Chỉ trong đám người gốc Nhật là số người sinh ra tại Nhật Bản có tỷ lệ thấp nhất, chỉ chiếm khoảng 35% vào năm 1990 và tăng lên thành 40% vào năm 2010. Tỷ số thấp của người gốc Nhật trong hiện tượng này có lý do dễ hiểu. Họ là lớp di dân Á Châu đến nước Mỹ sớm nhất, đặc biệt đến nước Mỹ làm công nhân từ thế kỷ 19. Ngoài ra, có một thời gian chính phủ Mỹ kỳ thị, không chấp nhận di dân gốc Nhật. Còn người gốc Việt và gốc Hàn Quốc thì có tới 80% sinh ở chính quán; chỉ có 20% sinh ra ở Mỹ.

Nếp sống của họ khác người Mỹ cho nên tự nhiên họ cũng muốn sống gần gũi hơn với những người cùng chia sẻ các tập quán, thức ăn, và nhất là tiếng nói. Nhiều người không sinh ở Mỹ gặp khó khăn suốt đời khi muốn nói đúng tiếng Anh. Dù sao, yếu tố chính thu hút người di dân gốc Á quy tụ lại chính là văn hóa chứ không phải kinh tế. Các cuộc nghiên cứu trước đây tại New York và Los Angeles đã thấy những di dân khá giả gốc Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Ðộ, và Phi Luật Tân đều thích sống trong các khu đông người cùng gốc.

Người Mỹ gốc di dân Ấn Ðộ có trình độ học vấn cao nhất, trong bình có 15.5 năm học, tức là tốt nghiệp đại học. 

Vì thế, lợi tức những người này cũng cao hơn người Mỹ trắng trung bình, chừng 35,000 đô la một năm. Ðứng hàng thứ nhì là người Phi Luật Tân.

Tất cả các di dân gốc Á Châu có số năm học chính thức trung bình cao hơn người Mỹ gốc da trắng, trừ người gốc Việt. Người gốc Việt Nam có lợi tức thấp hơn cả và số năm học chính thức ngắn hơn so với các sắc dân Châu Á khác, cũng như người gốc Hàn Quốc. Lợi tức bình quân những di dân Nhật Bản và Trung Hoa nằm vào khoảng giữa hai nhóm trên.

Nhiều chỉ số xã hội kinh tế khác cho thấy người Việt Nam lép vế. Ðó là sắc dân có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn cả, tỷ lệ số người sống dưới mức nghèo cao hơn, và tỷ số người nhận trợ cấp xã hội cũng cao hơn các sắc dân Châu Á khác. Tuy lợi tức thấp nhất trong nhóm này nhưng người Việt trung bình cũng xấp xỉ bằng người Mỹ gốc da trắng mà không gốc nói tiếng Tây Ban Nha. Hai tác giả bài nghiên cứu giải thích tình trạng kinh tế xã hội thấp của người Việt Nam là vì đại đa số họ là những người tị nạn chính trị chứ không phải di dân bình thường.

Người Việt Nam có lẽ hiểu rõ tình trạng này hơn. Hàng triệu người Việt sang nước Mỹ và các nước Tây phương với hai bàn tay trắng. Không riêng gì những thuyền nhân chạy trốn cộng sản từ 1975 cho đến 1990, ngay cả các người sang Mỹ đoàn tụ hoặc định cư với lý do nhân đạo (HO) cũng tới Mỹ để bắt đầu cuộc đời mới. Những di dân tị nạn này tới nước Mỹ khi đã lớn tuổi, từ 50 tuổi trở lên, và nhiều người không nói một tiếng Anh; nếu may mắn lắm thì họ cũng chỉ kiếm được những việc làm lương thấp.

Ðiều khiến nhiều người Việt kinh ngạc là tại sao số năm học của di dân gốc Việt lại thấp hơn các sắc dân Châu Á khác? Bởi vì muốn so sánh trình độ học vấn cho đúng nhất thì phải so sánh giữa các người gốc Châu Á thuộc thế hệ thứ hai trở đi. Số người Việt và người Hàn Quốc sinh ở nước tổ cao hơn cho thấy đa số là các di dân đời thứ nhất.

Nói chung, người gốc Châu Á có lợi tức và số năm học cao hơn người Mỹ da trắng trung bình. Hai sắc dân có trình độ học vấn cao nhất là Ấn Ðộ và Phi Luật Tân. Chúng ta biết rằng đại đa số người gốc Ấn Ðộ sang Mỹ sau khi đã tốt nghiệp đại học bên xứ họ, vì nước Ấn Ðộ sản xuất nhiều kỹ sư hơn khả năng tiếp nhận của công nghiệp nước họ; những người Ấn Ðộ học thấp hơn bậc đại học có thể là vợ con, cha mẹ của các di dân này. Ða số người Phi Luật Tân được di cư sang Mỹ vì họ làm những nghề mà dân Mỹ đang thiếu. Họ là các y tá, chuyên môn săn sóc người già và người bệnh. Những nghề đó đều đòi hỏi bằng cấp bậc đại học. Vì số người đó chiếm đa số cho nên họ cũng nâng số lợi tức trung bình của tất cả các di dân gốc Phi Luật Tân. Mặt khác, số người gốc Phi Luật Tân ở Mỹ tụ tập ở quần đảo Hawaii rất đông; và họ đã tới nơi này từ nhiều đời. Do đó, nếu tài sản và lợi tức bình quân của họ cao hơn các sắc dân khác cũng dễ hiểu. Các sắc dân như Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản thì đa số cũng đến vùng đất mới này sớm hơn cộng đồng người gốc Việt và họ ra đi với họ được chuẩn bị về cả nghề nghiệp và vốn liếng trước khi ra đi; khác với những người liều chết ra biển đi tìm tự do.

Cuối cùng, bài nghiên cứu của John R. Logan và Weiwei Zhang kết luận rằng người di dân gốc Châu Á ở Mỹ có thể coi là ngang hàng, hoặc có trình độ cao những người Mỹ tới khai phá đất này sớm nhất, là những người gốc da trắng. Người gốc Việt Nam có thể coi là ngang hàng, vì lợi tức bình quân chỉ kém người Mỹ da trắng khoảng 300 đô la một năm, và số người tốt nghiệp đại học cũng chỉ thấp hơn 2% mà thôi. Với tất cả những thiệt thòi của những người chạy khỏi quê hương đi tị nạn, tình trạng đó cũng đáng coi là một điều đáng hãnh diện.

Lê Xuân Khoa - Một số nhận định về cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang


Lê Xuân Khoa


Mười chín ngày sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đọc bài diễn văn Shangri-La xoay chuyển chính sách ngoại giao Việt Nam sang phía Hoa Kỳ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Bắc Kinh hội đàm với Chủ tịch nước Tập Cận Bình về hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai quốc gia. Ngay sau đó, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký kết 10 văn kiện hợp tác, gồm có:
1. Chương trình hành động giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc về việc triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc.

2. Thoả thuận hợp tác biên phòng giữa hai Bộ Quốc phòng.

3. Thoả thuận giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc về việc thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển.

4. Hiệp định khung giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi (cho Dự án hệ thống thông tin đường sắt) trị giá 320 triệu Nhân dân tệ.

5. Bản ghi nhớ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc về việc thành lập Trung tâm văn hoá tại hai nước.

6. Điều lệ công tác của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

7. Thoả thuận giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Tổng cục Giám sát chất lượng, kiểm nghiệm, kiểm dịch Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu.

8. Kế hoạch hợp tác giữa giữa Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc giai đoạn 2013-2017.

9. Hiệp định vay cụ thể tín dụng người mua ưu đãi cho Dự án Nhà máy Đạm than Ninh Bình trị giá 45 triệu đôla Mỹ.

10. Thoả thuận sửa đổi lần thứ 4 giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Tổng công ty Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc liên quan tới Thoả thuận thăm dò chung trong khu vực thoả thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ.

Chuyến đi được kết thúc bằng một bản tuyên bố chung 8 điểm dài khoảng 5.000 chữ. Điểm số 1 nói về mục đích cuộc hội đàm thượng đỉnh song phương là “làm sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung” đã được thảo luận và ký kết từ trước. Điểm 2 xác nhận “tiếp tục kiên trì phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt” trong quan hệ phát triển lâu dài giữa hai nước.

Dựa trên cơ sở của hai điểm 1 và 2, điểm số 3 quan trọng nhất vì nó tóm lược 13 lĩnh vực hợp tác giữa các bộ, ngành của Chính phủ được ấn định trong “Chương trình hành động triển khai Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc”. Chương trình này được “khẩn trương bàn bạc” (bản tin TTXVN) trong phiên họp lần thứ 6 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương tại Bắc Kinh ngày 11.5.2013, và bản dự thảo chương trình được chính thức ký kết thành Văn kiện số 1 trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Đây là văn kiện cơ bản thể hiện “tiếp tục phát triển hợp tác theo chiều sâu” nhằm “đẩy quan hệ Việt-Trung lên tầm cao mới” là mục tiêu chính của cuộc hội đàm giữa lãnh đạo của hai nước. Chín văn kiện còn lại là những thể hiện chi tiết về hợp tác giữa các bộ, ngành trên mọi lĩnh vực.

Cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang có một số sự kiện cần được xem xét kỹ:
1. Mục tiêu “tiếp tục phát triển hợp tác theo chiều sâu” và “đẩy quan hệ Việt-Trung lên tầm cao mới” đều được Chủ tịch nhà nước Việt Nam và Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội nhấn mạnh trong hai cuộc phỏng vấn riêng biệt của báo chí Trung Quốc (với Chủ tịch Trương Tấn Sang) và báo chí Việt Nam (với Đại sứ Khổng Huyễn Hựu) ngay trước chuyến đi Trung Quốc của nhà lãnh đạo Việt Nam. Rõ ràng đây là một sự đáp trả mạnh mẽ đối với bước ngoặt về đối ngoại của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong bài diễn văn Shangri-La ngày 31.5. Các văn kiện được chuẩn bị từ trước ngày họp của Đối thoại Shangri-La đều là kết quả đúc kết mau chóng từ những thoả thuận đã có trong những phiên họp của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương và Hội thảo lý luận giữa hai đảng trong nhiều năm qua. Văn kiện số 1 được “khẩn trương bàn bạc” trong phiên họp của Ủy ban Chỉ đạo ngày 11.5 cho thấy Bắc Kinh đã được báo cáo mật về sự xoay trục sang Hoa Kỳ của ông Nguyễn Tấn Dũng nên họ quyết định phải sớm có hành động đối phó bằng cách liên kết với phe chống Nguyễn Tấn Dũng ở trong nước.

2. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được biết là người chống chính sách bá quyền của Bắc 

Kinh. Khi nhậm chức vào tháng Bảy 2011, ông Sang đã tuyên bố trước Quốc hội là ông quyết tâm bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền của đất nước. Chuyến công du ngoại quốc đầu tiên của ông là đi Ấn Độ vào tháng Mười 2011 trong khi Tổng Bí thư lên đường sang Trung Quốc. Mới hai tháng trước, ông Sang ra thăm ngư dân đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi, giúp đỡ nạn nhân bị tàu Trung Quốc tấn công và khuyến khích ngư dân “yên tâm bám biển, đoàn kết tương trợ nhau để tránh thiên tai, địch hoạ”. Cho đến nay, hai năm sau ngày nhậm chức, ông mới có chuyến công du đầu tiên sang Trung Quốc. Sự kiện này có thể được hiểu là Tập Cận Bình, muốn ngăn chặn Nguyễn Tấn Dũng chuyển hướng đối ngoại sang phía Mỹ, cần phải trấn an Trương Tấn Sang và ủng hộ ông ta trong cuộc tranh giành quyền lực với Nguyễn Tấn Dũng. Tập Cận Bình không mời Nguyễn Phú Trọng vì ông này thân Trung Quốc quá lộ liễu và vì, trong trường hợp này, quan hệ Việt-Trung nên được giải quyết giữa hai Chủ tịch nước. Trong khi đó, dù không ưa Trung Quốc, Trương Tấn Sang vẫn cần phải dựa vào cường quốc này để bảo vệ Đảng và chế độ. Do đó, hai bên đã cố gắng giảm bớt căng thẳng, gia tăng hợp tác với kết quả là đôi bên cùng có lợi.

3. Một kịch bản khác là, trước nguy cơ Đảng suy sụp vì xung đột nội bộ và trước xu hướng 

chung của quốc tế là phải kiềm chế chính sách bành trướng ngang ngược của Trung Quốc, lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam có thể đã đạt được đồng thuận giữa các bên là cân bằng lại chính sách ngoại giao để không còn nghiêng về Trung Quốc. Bởi thế, trong khi tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác với Bắc Kinh, Hà Nội cũng gia tăng hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ và một số cường quốc khác. Chính sách đu dây này không có vấn đề gì đối với Hoa Kỳ vì nước này không có tham vọng xâm phạm chủ quyền lãnh thổ hay lãnh hải của một nước nào trong khu vực, nhưng Trung Quốc từ mấy ngàn năm nay không bao giờ từ bỏ ý đồ thôn tính và Hán hoá Việt Nam. Vì vậy chính sách cân bằng đối ngoại của Việt Nam rất khó tồn tại lâu dài trước mối đe dọa thường trực của Trung Quốc, nếu không có sự đảm bảo của quốc tế hay của một đối tác hợp tác chiến lược quốc phòng như trường hợp Hoa Kỳ đối với Nhật bản hay Đài Loan. Ngoài ra, kịch bản đồng thuận này của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chỉ là một giả định, chưa có gì là chắc chắn.

Trở lại quan hệ Việt Nam-Trung Quốc sau cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang, sự phát triển hợp tác theo chiều sâu và đẩy lên một tầng cao mới được thể hiện trong bản Tuyên bố chung với 10 Văn kiện cụ thể của “Chương trình hành động triển khai Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc”.

Ngoài việc phân tích những yếu tố chính trị đưa đến cuộc hội đàm Bình - Sang, cần xem xét kỹ lưỡng 10 văn kiện đã ký để nhận ra những điểm lợi hại cho Việt Nam trên từng lãnh vực hợp tác. Vì chưa được đọc các văn kiện và vì giới hạn của một bài báo, tác giả chỉ có thể đưa ra một số nhận định tổng quát về cơ sở và kết quả của cuộc hội đàm thượng đỉnh song phương này:
1. Cuộc hội đàm được diễn ra trên cơ sở của phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt là một cơ sở quá cũ đã được chứng tỏ là Việt Nam bị Trung Quốc lường gạt bằng những lời hoa mỹ. Thực tế là Trung Quốc đã sử dụng “sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền” đúng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ám chỉ trong bài diễn văn Shangri-La. Lẽ ra, mục đích cuộc hội đàm phải là cải thiện quan hệ hợp tác giữa hai nước bằng những cam kết ngưng tất cả mọi hành động áp đặt, đối xử bất bình đẳng, không tôn trọng nhân đạo và luật lệ quốc tế. Bản Tuyên bố không nhắc gì đến Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC) là một thiếu sót do cố ý, rất hại cho Việt Nam và các nước ASEAN.

2. Một số thoả thuận có tính tích cực như thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển, hợp tác kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu, cho vay tín dụng người mua ưu đãi cho dự án nhà máy Đạm than Ninh Bình. Vấn đề là việc thi hành có được đảm bảo về hiệu quả hay không.

3. Thoả thuận có thể gây tranh cãi là mở rộng khu vực thăm dò chung về dầu khí trên Vịnh Bắc Bộ. Cần xem xét lợi hại thế nào cho Việt Nam.

4. Văn kiện số 4 nói về tín dụng ưu đãi cho Dự án hệ thống thông tin đường sắt. Thật ra thì đây là Dự án giao thông đường bộ cao tốc Bằng Tường - Lạng Sơn - Hà Nội. Đường cao tốc nối liền Bằng Tường (tỉnh Quảng Tây) với Hà Nội có lợi ích kinh tế nhưng cũng có thể nguy hiểm cho Việt Nam nếu chẳng may xảy ra xung đột quân sự giữa hai nước.

5. Văn kiện số 5 về giao lưu văn hoá Việt - Trung, với những Trung tâm văn hoá nước này ở nước kia, có thể là con dao hai lưỡi nếu được Trung Quốc sử dụng như một phương tiện đồng hoá dân tộc Việt.

Tóm lại, kết quả cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang có bề ngoài làm giảm căng thẳng và gia tăng hợp tác giữa hai nước, nhưng vẫn ngầm chứa ý đồ của Trung Quốc lấn chiếm Việt Nam. Trong khi đó, lãnh đạo Việt Nam cứ lúng túng giữa một bên là ý muốn bảo vệ đảng và chế độ và một bên là lòng bất mãn của nhân dân yêu nước và khát khao dân chủ đang lên cao. 

Lãnh đạo cộng sản Việt Nam cần nhận biết rằng, thay vì theo sau Trung Quốc, nếu họ chọn con đường dân chủ hoá trước Trung Quốc thì, với sự ủng hộ của nhân dân và thế giới dân chủ, họ sẽ thành công trong sứ mệnh bảo vệ và phát triển đất nước. Hãy hoà giải với những người bất đồng chính kiến, hãy lắng nghe và hợp tác với trí thức. Trung Quốc, nếu cũng tự thay đổi chế độ từ độc tài sang dân chủ, sẽ không bị cô lập và được thế giới đón nhận như một siêu cường. Khi đó họ cũng sẽ được sự kính trọng và ủng hộ của các nước Á châu. Biển Đông sẽ êm lặng. Thế giới sẽ hoà bình. Đây là cái message cần được gửi đến lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc.

California, 26 tháng 6/ 2013

L.X.K.
Nguồn: Bauxite Việt Nam

Phạm Thảo Nguyên - Nguyễn Trãi (1380-1442), Tâm sự Nguyễn Trãi khi đất nước bị giặc Minh chiếm đóng, (trước khi gập Lê Lợi).


Phạm Thảo Nguyên

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, nguyên quán làng Nhị Khê, tỉnh Hà Đông. Cha là Nguyễn Ứng Long, sau đổi thành Nguyễn Phi Khanh. Mẹ là Trần thị Thái, công chúa nhà Trần, con quan tư đồ, hoàng thân Trần Nguyên Đán. Nguyễn Phi Khanh học rất giỏi, trước làm gia sư dậy con gái quan tư đồ, sau đỗ bảng nhãn, nhưng bị triều đình nhà Trần kết tội là thầy lấy học trò, không cho làm quan, phải về quê dạy học. 

Nguyễn Trãi sinh ra tại Thăng Long, sống với mẹ nơi dinh ông ngoại. Vào năm 1385, khi vua nhà Trần quá tin Hồ Quý Ly, để họ Hồ chuyên quyền, Trần Nguyên Đán can ngăn không được, xin cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn, huyện Chí Linh, Hải Dương. Mẹ con Nguyễn Trãi về theo. Sau khi mẹ mất 1390, rồi ông ngoại mất, 1395, Nguyễn Trãi về Nhị Khê học với cha.


Năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, lập nhà Hồ. Nguyễn Phi Khanh ra làm quan. Nguyễn Trãi 21 tuổi, thi đỗ thái học sinh (tiến sĩ, khoá thi đầu của nhà Hồ), giữ chức Ngự sử đài Chánh chưởng. Năm 1407 giặc Minh mượn cớ giúp nhà Trần, mang quân sang đánh chiếm Việt Nam. Quân nhà Hồ chống cự không nổi, bị tiêu diệt. Giặc Minh liền chia nước ta thành quận huyện của Tầu với những tên gọi mới. Trong thời gian này, nước Đại Việt bị vùi dập, dân chúng bị chèn ép rất hà khắc. Tai hại nhất là chúng thu góp sách vở văn chương Việt mang hết về Kim Lăng, thay thế bằng những tài liệu của nhà Minh. Văn học chữ Nôm bị đốt sạch, xoá đi hết văn hoá riêng của dân Việt. Chúng bắt Hồ Quý Ly và một số quan chức mang về Tầu, trong số đó có Nguyễn Phi Khanh. Nguyễn Trãi định theo hầu cha, nhưng Nguyễn Phi Khanh khuyên con ở lại tìm đường cứu nước vì “Trãi con ơi, tận trung là tận hiếu… Về ngay đi rồi chí toại công thành” (thơ Hoàng Cầm). Giặc Minh bắt được Nguyễn Trãi, Vương Thông dụ hàng không được, định mang ra chém. Nhưng Hoàng Phúc xin chỉ giam lỏng ở Đông Quan (Thăng Long, doTầu đổi tên). Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu vài bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Trãi trong lúc nước nhà bị giặc Minh chiếm đóng và ông chưa gập được Lê Lợi. Thời kỳ này chia làm hai phần: Nguyễn Trãi bị quản thúc ở Đông Quan, và Nguyễn Trãi trốn thoát khỏi Đông Quan đi tìm minh chúa:

I) Nguyễn Trãi ở Đông Quan
Những ngày buồn khổ, có ba bài thơ tiêu biểu:

1) KÝ CỮU DỊ TRAI TRẦN CÔNG
寄舅易齋陳公 
兵餘親戚半離零 .萬死殘軀偶一生
 往事空成槐國夢 別憐誰寫渭陽情
不來自擬同王式 避亂終當學管寧
欲問相思愁別處 孤齋風雨夜三更

Binh dư thân thích bán ly linh, 
Vạn tử tàn khu ngẫu nhất sinh 
Vãng sự không thành Hòe quốc mộng 
Biệt liên thùy tả Vị Dương tình 
Bất lai tự nghĩ đồng Vương Thức,
Tỵ loạn chung đương học Quản Ninh 
Dục vấn tương tư sầu biệt xứ 
Cô trai phong vũ dạ tam canh.

Thơ dịch: 
Thư gửi cậu Dị Trai Trần Công

Gia đình thời loạn nửa chia phôi
Tưởng chết may sao sống sót đời
Việc cũ Nam Kha ôi giấc mộng 
Nhớ thương cậu cháu chẳng nên lời
Theo người tỵ nạn, không hàng phục
Chẳng thể về thăm, gửi chữ thôi
Cậu hỏi nỗi buồn ly biệt xứ?
Phòng trai, mưa gió, suốt đêm côi

Bình Chú:
Thi nhân gửi thư cho cậu Trần Công Dị Trai, em họ của mẹ, còn ở quê hương.
Ông chia sẻ cùng cậu nỗi đau cả đại gia đình điêu linh tan tác. 

Ta thấy những sự kiện lịch sử hiện lên trong những câu thơ :
Câu 2: Tưởng chết vạn lần, sống sót thật do may mắn.

Câu 3: Cuộc đời trước (khi nước nhà còn độc lập) thật đúng như giấc mộng Nam Kha. (Nay tỉnh dậy rồi, ta mất nước rồi).

Câu 4: Xa nhau thương nhớ, ai tả được cái tình cậu cháu. 

Theo Kinh Thi, Vị Dương là chỗ Tấn Khương Công tiễn người cậu là Tấn Trùng Nhĩ. Cho nên Vị Dương biểu hiệu tình cậu cháu. 

Câu 5: Nguyễn Trãi bị bắt, bị giam lỏng tại Đông Quan nhưng không chịu hợp tác với quân Minh. Theo tích Quản Ninh: Kẻ sĩ thời Tam Quốc, tránh loạn 37 năm ở Liêu Đông, được Văn Đế rồi Minh Đế cho mời ra làm quan đều từ chối.

Câu 6: Nguyễn Trãi không về thăm cậu được nên viết thư thay, giống như Vương Thức. 

Vương Thức dạy Xương Ấp vương, sau bị phế vì vô độ. Khi người hỏi: “Sao không can gián” Vương Thức trả lời: “Đã nói qua sách vở rồi”. 

Tất cả những đau đớn đó không có gì sâu xa chua xót bằng nỗi đau “biệt xứ” thật ra là “mất nước” (Nguyễn Trãi đang ở ngay Đông Quan ,chính là Thăng Long, mà nói rằng mình bị “biệt xứ”) đang dầy vò tâm hồn Nguyễn Trãi như câu thơ cuối:
Nằm một mình trong phòng trai vắng vẻ, trong khi mưa gió vần vũ suốt đêm dài.

2) Thanh Minh 
Tiết Thanh Minh thời xưa vào tháng 3 âm lịch, mọi gia đình đều đi thăm mộ tổ tiên, anh em họ hàng hàn huyên sum họp … Đó là tập quán sâu nặng của Á đông, nên nhiều tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đều có thơ tâm sự vào tiết Thanh Minh. Nỗi buồn cô đơn, xa nhà trong tiết Thanh Minh có khi còn nặng hơn là trong ngày Tết Nguyên Đán nữa.

清明 
一從淪洛他鄉去, 
屈指清明幾度過。 
千里墳塋違拜掃, 
十年親舊盡消磨。 
乍晴天氣模稜雨, 
過半春光廝句花。 
聊把一杯還自彊, 
莫教日日苦思家。 

Nhất tùng luân lạc tha hương khứ
Khuất chỉ Thanh Minh kỷ độ qua
Thiên lý phần doanh vi bái tảo
Thập niên thân cựu tận tiêu ma
Sạ tình thiên khí mộ lăng vũ
Quá bán xuân quang tê cú hoa
Liêu bả nhất bôi hoàn tự cưỡng
Mạc giao nhật nhật khổ tư gia

Thanh Minh
Từ buổi lìa quê lưu lạc xa
Bấm tay đếm những Thanh Minh qua
Tổ tiên ngàn dậm mồ không viếng
Thân thích mười năm chết hết nhà
Trời nắng chợt mưa xoay gió chuyển
Xuân qua quá nửa, nhạt phai hoa, 
Sầu ơi, cố uống trôi ly rượu
Để bớt ngày ngày khổ nhớ nhà.

Bình chú
Vào tiết Thanh Minh, thi nhân rất buồn khổ vì xa quê, không được tảo mộ tổ tiên dòng họ. Một mình trơ trọi, gia đình tan nát, bao người thân đã chết hay bị đi đày xa xôi cách trở.

Câu thứ 2 có hình ảnh “bấm tay” đếm số năm qua đi “ một hai ba…”, diễn tả khoảng thời gian quá dài ông đang phải sống giam lỏng trong lòng giặc. Đó là một hình ảnh thật, rất quen thuộc của thời xưa cũ với những năm tháng tên là tý, sửu, dần, mão… con người không có con số trước mắt, nên thường đếm trên đầu ngón tay. Nó gợi lại biết bao vang bóng thời xưa..… Ngày nay còn rất ít người đếm như thế.

 Đó cũng là một nét đặc biệt riêng của thơ Nguyễn Trãi. Trong thơ ông thường viết ra những cử chỉ, hành động, cảm xúc của mình như: ủ tay, ngâm khẽ, ngồi giường thiền thấy lạnh, cúi đầu nhìn đất, tựa ghế nhìn trời, chống gậy, dắt tay, ngồi ôm chăn không ngủ, gối đầu trên đá…tia sáng xuân chạm mắt…, cho nên người đọc có cảm giác gần gụi, hiểu ông hơn những tác giả sáu trăm năm cũ khác.

Câu 8, với 5 chữ “nhật nhật khổ tư gia” =” Ngày ngày khổ nhớ nhà”, hai chữ “ngày ngày”, có dụng ý nối kết ý nội tại với từng năm đếm trên ngón tay ở câu 2: Khi quá đau khổ, ta nhìn năm tháng qua đi vùn vụt: vừa 1 năm, kìa đã 2 năm, đã 10 năm rồi … nhưng cùng lúc, ta sống với đau khổ trong lòng từng ngày, từng ngày dài lê thê…

Cho nên thi nhân phải cố gượng (tự cưỡng) uống trôi chén rượu, để quên nỗi buồn nhớ thương nhà (theo bài thơ viết ra), nhưng chưa hẳn thế.

3) Thính Vũ *

聽  雨

寂寞幽齋裏      終宵聽雨聲
蕭騷驚客枕      點滴數殘更
隔竹敲窗密      和鐘入夢清
吟餘渾不寐      斷續到天明

Tịch mịch u trai lý
Chung tiêu thính vũ thanh
Tiêu tao kinh khách chẩm
Điểm tích sổ tàn canh
Cách trúc sao song mật
Hoà chung nhập mộng thanh
Ngâm dư hồn bất mị 
Đoạn tục đáo thiên minh

Nghe Mưa
Phòng trai tịch mịch tối
Suốt đêm nghe mưa rơi
Khẽ lay động gối khách
Tí tách điểm canh dài
Cách trúc gõ cửa mật
Cùng chuông ngân mộng ai
Ngâm thơ rồi chẳng ngủ
Chập chờn tới sáng mai

Bình Chú
Trong phòng tối, quạnh quẽ, Nguyễn Trãi nằm nghe tiếng mưa đêm.Đây là một bài thơ “Nghe mưa”, nên sau hai câu mở đề, mỗi câu thơ đều tả tiếng mưa rơi 

Từ xa tới gần, từ ngoài vào trong tâm tư tác giả đang nghe mưa.

 Bài thơ đã tiến tới sự kín đáo tinh vi sâu thẳm của ý thức, vô thức… của một vị trí thức cao tuyệt của Đại Việt cổ đại. Ta hãy lắng nghe … hãy lắng nghe:
Thoạt đầu tiếng mưa nhẹ nhàng thanh tao khẽ lay động gối thi nhân, như nhủ như gọi.

Từng giọt nước thánh thót đều đều điểm canh, canh tàn, canh mới…đi sâu dần vào đêm. 

Tới câu 5, bất ngờ tiếng mưa đi sâu nữa, sâu nữa… tới chữ “mật” kỳ đặc, gõ vào nơi những niềm u uẩn hãy còn giữ kín chưa hề ngỏ. Câu thơ của Nguyễn Trãi thật đẹp:
 Cách trúc sao song mật   (密 = mật= giữ kín, đông đúc, dày đặc)

Cách trúc gõ cửa mật

Cửa sổ, “song mật” của Nguyễn Trãi, không phải cửa thường, nơi đó chính là cõi lòng thi nhân, là tâm hồn thi nhân. 

Nhưng tại sao muốn gõ vào được chiếc cửa đóng nghiêm mật đó, chạm được tới những niềm u uẩn giữ kín trong đáy lòng người viết đó, giọt mưa phải “qua trúc”? Bởi vì mưa chỉ là vật chất, làm sao động được tới, gõ được đến “cửa mật” là tinh thần! Cho nên mưa phải nhờ “trúc” ở giữa làm giao môi. Trúc ở đây không mang tính cách trang trí cho câu thơ, mà xây dựng cho sự hoàn mỹ của ý tưởng.

Câu 6 tiếp theo: 
Hoà chung nhập mộng thanh – Cùng chuông ngân mộng ai

Cũng vậy muốn vào được, xâm nhập được giấc mộng thi nhân, tới tận miền vô thức, giọt mưa phải hoà vào tiếng chuông, cùng chuông mang âm thanh nhập vào vô thức mộng.

Thế là từ những tiếng mưa rơi phơn phớt bên ngoài gối, làm quen với người, thi nhân đã để hạt mưa rì rầm đi sâu dần vào tâm tình sâu kín của mình, ông mở tung cõi lòng cho mưa ngao du tới cả giấc mộng ngoài ý thức trong bốn câu thơ tả tiếng mưa.

Hình như nói ra được niềm u uẩn khó nói xong, người thơ cảm thấy nhẹ lòng, trở dậy ngâm thơ không ngủ. 
Thế là từ nghe mưa, Nguyễn Trãi chuyển sang ngâm thơ trong tiếng mưa, hoà mình vào tiếng mưa, không còn phân biệt chủ thể hay khách thể, là người nghe mưa hay giọt mưa rơi nữa.

Cho nên câu cuối thi nhân không xác định chủ ngữ: Hai chữ đứt nối (đoạn tục) vừa cho người chập chờn thức ngủ, vừa cho hạt mưa rơi rơi tạnh tạnh…  suốt đêm. 

Thời gian ở Đông Quan này là thời kỳ rất đau buồn của Nguyễn Trãi, khi nước mất nhà tan, cha, em đang sống đày ải trên đất giặc, riêng ông bị giam lỏng giữa quân thù.

 Nhìn quê hương đang bị đô hộ dưới “gót giầy của những kẻ xâm lăng”, nhưng nhà thơ không được nói ra nỗi đau của mình. Giữa quân thù, ông phải chôn dấu tâm sự, dấu cái đau mất nước đi, vì phải nhớ:”Không bao giờ được chết”, phải giữ thân còn, để phục thù.

Trong bài Thanh Minh, có thể nào Nguyễn Trãi cố uống trôi chén rượu Thanh Minh chỉ để quên nỗi nhớ nhà? Trong lúc hận nước đang sâu nặng hơn bao giờ, đang bàng bạc trong từng lời thơ, đau nhức trong từng sự việc không được đi tảo mộ tổ tiên, và cả gia đình thân thiết đều chết sạch? Không, chắc chắn thi nhân đang dấu kín tâm sự thật của mình dưới “nỗi nhớ nhà”

Trong bài thơ Thính Vũ, thi nhân đã cất dấu tất cả trong “song mật” kín đáo vô song. Bài thơ này có thể nói, tinh tế, sâu thẳm và buồn da diết nhất của ông.

Thế rồi Nguyễn Trãi tìm được cách trốn khỏi Đông Quan, chúng ta không có tài liệu nào về việc này, nhưng mừng thay, ông đã thoát cũi sổ lồng:

II) Thoát khỏi Đông Quan

Sau mười năm sống dưới nanh vuốt của giặc, Nguyễn Trãi tìm được tự do, ông về thăm ngay Côn Sơn, lòng tràn đầy cảm xúc. Côn Sơn là đất vua nhà Trần xưa phong cho ông ngoại của Nguyễn Trãi, đại tướng vương gia Trần Nguyên Đán, vì chiến công lớn trong chiến thắng chống giặc Nguyên xâm lấn nước ta thế kỷ trước. Thuở nhỏ Nguyễn Trãi sống với mẹ và ông ngoại ở Thăng Long, rồi Côn Sơn, tới khi ông ngoại mất. Suốt mười lăm năm trẻ dại được ông ngoại yêu thương dậy dỗ, do đó Nguyễn Trãi ngoài văn chương chữ nghĩa vượt bực còn thêm sự hiểu biết uyên bác về binh pháp. Thi nhân yêu quý Côn Sơn, quê hương tâm linh của mình với phong cảnh núi rừng tuyệt thú.

1)  Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác 
亂後到崑山感作
一別家山恰十年           歸來松菊半翛然 
林泉有約那堪負                塵土低頭只自憐 
鄉里纜過如夢到         干戈未息幸身全 
何時結屋雲峰下                    汲澗烹茶枕石眠

Nhất biệt gia sơn kháp thập niên, 
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên.  
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ, 
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên 
Hương lý tài qua như mộng đáo,   
Can qua vị tức hạnh thân tuyền (toàn)
Hà thời kết ốc vân phong hạ, 
Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên.
Trở về Côn Sơn sau loạn cảm tác
Mười năm xa nước non nhà
Trở về tùng cúc hoang vu nửa rồi
Hẹn suối rừng, đành phụ thôi
Cúi nhìn đất cát, hỡi ơi, thương mình
Thăm quê hương, như mộng hình
Chưa xong giặc giã, phước lành còn ta
Khi nao dưới núi dựng nhà
Đầu kê gối đá, trà pha nước nguồn?

Bình Chú:
Về Côn Sơn lần này, núi nhà hoang vắng, cây cỏ điêu tàn, người thân thiết chẳng còn một ai. Xưa kia đã ước hẹn về đây sống, nhưng vẫn phải dứt áo ra đi.

Ông viết những câu tâm sự thật sâu:  
Câu 4: Trần thổ, đê đầu chỉ tự liên. Cúi nhìn đất cát, đó là nhìn gốc rễ đất nước của mình, còn trong tay giặc, thi sĩ thấy thương thân phận mình, thương dân mình thấm thía. 

Câu 5: Về thăm nhà, chỉ đi thoáng qua như trong mộng, (rồi lại lên đường lo phục quốc) 

Câu 6: Giặc giã chưa hết, chúng còn đang dẫm nát đất nước, may phước mà ta còn thân này (để chiến đấu ).

Không biết bao giờ lấy lại được đất nước cha ông. Khi đó, dựng nhà chân núi, gối đầu lên đá ngủ, lấy nước suối pha trà ... 

Nghe danh Lê Lợi ở Thanh Hoá Nguyễn Trãi dùng thuyền đi về phía nam trên hệ thống sông ngòi dầy đặc của Bắc Việt và biển Đông, vì trên bộ quân thù chiếm đóng. Thuyền  qua Thần Phù, Lâm Cảng rồi Long Đại Nham.  Dấu vết còn trong thơ ông:

2) Thần Phù Hải Khẩu  
      神符海口 
故國歸心落雁邊, 
秋風一葉海門船。 
鯨噴浪吼雷南北, 
槊擁山連玉後前。 
天地多情恢巨浸, 
勳名此會想當年。 
日斜倚棹滄茫立, 
冉冉寒江起暮煙。 
Cố quốc quy tâm lạc nhạn biên
Thu phong nhất diệp hải môn thuyền
Kình phun lãng hống lôi nam bắc
Sóc ủng sơn liên ngọc hậu tiền
Thiên địa đa tình khôi cự tẩm
Huân danh thử hội tưởng đương niên
Nhật tà ỷ trạo thương mang lập
Nhiễm nhiễm hàn giang khởi mộ yên

Cửa biển Thần Phù

Lòng quê theo cánh nhạn chân trời
Cửa biển gió dồn chiếc lá bơi
Kình quẫy sóng gầm nam bắc sấm
Núi bầy sóc ngọc trước sau ngời
Vịnh sâu mang nặng tình trời đất
Thuở ấy nêu danh, tưởng tới thời.
Chiều lạnh tựa thuyền, ôi bát ngát
Khói sông ngùn ngụt bốc mù khơi

Bình Chú:
Nguyễn Trãi đi chiếc thuyền nhỏ qua cửa biển Thần Phù, một hải khẩu thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. 

Nhìn nhạn cuối chân trời xót thương đất nước. Thi nhân đứng trên đất nước mình, mà nhớ thương nước cũ (cố quốc):
Ngoài biển, cá kình bơi nhẩy, sóng dậy ầm ầm hùng vĩ như sấm động khắp nơi. 

Núi chìa ra những cột đá nhọn như ngọn giáo bằng ngọc khoe nơi hiểm yếu.

Trời đất cho ta vịnh to núi lớn, mênh mông…

Ngày xưa Ngô Quyền, rồi Trần Hưng Đạo … đã nêu danh lập công đuổi giặc, tưởng tượng giờ đây cũng làm được như vậy, cũng diệt được quân thù.

Ôi cửa biển bao la bát ngát trước mắt, khói chiều sông lạnh đang ngùn ngụt bốc lên hun đúc chí khí anh hùng.


Thế rồi, Nguyễn Trãi thấy Núi Chứa Rồng:

3)   LONG ĐẠI NHAM
龍 袋 岩
去年虎穴我曾窺 ….龍袋今觀石窟奇
鱉負出山山有洞   …..鯨遊 塞海海為池
壺中日月天難老   ….世上英雄此一時
黎范風流嗟漸遠   …..青苔半蝕壁間詩
Khứ niên hổ huyệt ngã tằng khuy, 
Long Đại kim quan thạch quật kỳ. 
Ngao phụ xuất sơn, sơn hữu động, 
Kình du tắc hải, hải vi trì. 
Hồ trung nhật nguyệt thiên nan lão, 
Thế thượng anh hùng thử nhất thì. 
Lê, Phạm phong lưu ta tiệm viễn
Thanh đài bán thực bích gian thi.

Núi Long Đại
Năm xưa hổ huyệt trộm tìm coi
Long Đại nay hang động lạ đời
Ngao đội núi lên, núi chứa động
Kình bơi ngoài biển, biển ao khơi
Bầu trời, nhật nguyệt không già lão
Cõi thế anh hùng một thuở thôi
Lê Phạm tiếng thơm xa đó nhỉ
Bài thơ trên vách, nửa rêu rồi.

Bình chú:
Hổ huyệt: ý nói chỗ quân Minh đóng quân ở Đông Quan, chắc chắn là chúng không muốn ai dòm ngó, vì vậy Nguyễn Trãi đã phải do thám “trộm nhìn” (窺=khuy) từ trước

Long Đại: Núi rồng=núi chứa rồng=núi Hàm Rồng ở Thanh Hoá, ý nói chỗ khởi nghĩa của Lê Lợi. 

Nguyễn Trãi tìm hiểu đất đai vùng Nuí Hàm Rồng. 

Có trời trăng chiếu dọi, anh hùng sẽ thành công.

Hai câu kết: Nguyễn Trãi muốn nhắc dân chúng: Bây giờ là lúc: “Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung”: 
Những chuyện phong lưu nổi tiếng cũ của Lê Quát và Phạm Sư Mạnh, hai học trò rất giỏi của Chu văn An, đã qua rồi, thơ phú viết trên tường chỉ để rêu mọc thôi.
Lịch sử viết tiếp rằng: Nguyễn Trãi cùng em họ là Trần Nguyên Hãn đến núi Lam Sơn Thanh Hoá gập Lê Lợi. Ông dâng cuốn Bình Ngô Sách, kế hoạch diệt giặc Minh của mình. Lê Lợi vui mừng đón nhận. Nguyễn Trãi trở thành người quân sư quan trọng nhất, người có công đầu trong cuộc chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh.

Cuộc khởi nghĩa Lê Lợi, Nguyễn Trãi thành công vẻ vang năm 1427.
P.Thảo Nguyên