Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Ghé thăm các Blogs: 31/05/2013


BLOG ĐÀO TUẤN
Tháng Năm 27, 2013 

Nhìn lại thông điệp đầu tiên của tân Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, cử tri và nhân dân nhớ ông đã hứa sẽ “rà soát” lại giá xăng, “cân nhắc” tới giá điện, và ưu tiên cho những khoản chi vì con người.

Ngay sau khi được bổ nhiệm, câu hỏi đầu tiên mà báo chí đặt ra đối với tân Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng xoay quanh 4 chữ “Túi tiền quốc gia”.

Nói ngay, đây là câu hỏi trúng vào vấn đề thời sự nhưng là một câu hỏi khó. Bởi nhìn “túi tiền quốc gia” năm 2011, đang được thảo luận tại Quốc hội- thì khoản vượt thu 126.804 tỷ đồng hầu hết là từ khách quan. Cụ thể, tăng thu do giá cả tăng, từ giá dầu thô, đào từ dưới biển lên bán- tăng, do tăng thuế nhập khẩu với một số mặt hàng. Bản chất của nguồn thu thể hiện sinh động qua chi tiết thu từ sản xuất kinh doanh, tức là từ hàng hóa và sức lao động, chỉ chiếm 20%.

“Túi tiền quốc gia đang hụt dần”- Lời chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng. Túi tiền quốc gia khó đến mức có đại biểu, chắc không buột miệng nói rằng nó chỉ có thể khác hơn “ngoại trừ có đột biến về giá dầu”. Và việc tính toán túi tiền quốc gia bỗng trở nên khó như giải bổ đề cơ bản với dữ liệu các DN đang nhiễm “dịch” ngừng hoạt động, phá sản (lời Ủy viên Ủy ban Kinh tế Trần Hoàng Ngân) mà chưa có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy dịch này sẽ chấm dứt. DN khó khăn, DN không có nguồn thu, tất nhiên, cũng chẳng còn lấy đâu ra thuế mà đóng. Nhớ khi QH thảo luận luật Thuế thu nhập Doanh nghiệp, ĐBQH Trần Du Lịch đã nói không ít ngậm ngùi là giờ DN không còn quan tâm đến thuế TNDN nữa. Bởi ngay tại đầu tàu kinh tế TP HCM, cũng chỉ còn chưa tới 30% DN còn có khả năng đóng thuế.

Muốn DN có tiền đóng thuế, trước tiên phải giảm thuế. Và việc ngân sách quốc gia phải đắn đo từng chục ngàn tỷ đồng với mỗi một % thuế, cho thấy nhiệm vụ của tân Bộ trưởng Tài chính là cực khó.

Phát biểu của tân Bộ trưởng về vấn đề túi tiền quốc gia có thể tóm tắt trong mấy chữ: Chống thất thu bằng việc xử lý trốn, nợ thuế, buôn lậu. Tiết kiệm chi. Tăng cường kích thích tiêu dùng. Kích thích sản xuất kinh doanh. “xem xét tỷ lệ động viên phù hợp để nuôi dưỡng nguồn thu, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo cân đối ngân sách”. Giải pháp của ông có thể nói là đúng, nhưng không mới. Đúng y như các giải pháp trong báo cáo Chính phủ. Không mới vì không nhìn thấy sự đột phá nào để tạo nguồn thu khi bản chất các giải pháp này là “cắt được cái gì phải cắt cái đó”.

Tất nhiên, trong nhiều thứ tuyên bố sẽ cắt, tân Bộ trưởng đã nói trúng suy nghĩ của cử tri và nhân dân. Chẳng hạn, ông nói sẽ cắt đúng vào những từ ngữ nhạy cảm và sẽ được lòng dân “mua sắm trang thiết bị”, “ô tô”, “hội nghị hội thảo”, “khởi công, khánh thành” “ 20% chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu”…trong khi tuyên bố sẽ “ưu tiên chi cho con người”, tức những khoản chi lương và có tính chất lương.

Cử tri sẽ nhớ. Nhân dân đang chờ Bộ trưởng thực hiện trong thực tế. Bởi điều này là không hề dễ dàng, bởi nhà nước đang nợ dân một lần tăng lương, bởi điều đó gắn với miếng cơm manh áo của họ.

Liên quan đến hai loại hàng hóa sát sườn nhất đối với người dân là xăng dầu và điện. Tân Bộ trưởng không nói gì cụ thể ngoài việc hứa “sẽ rà soát lại Nghị định 84”, rà soát lại “Quỹ bình ổn giá xăng dầu”. Còn giá điện thì “cân nhắc việc điều chỉnh dần theo cơ chế thị trường, tránh các cú sốc do điều hành chính sách, ảnh hưởng đến doanh nghiệp và người dân”.|

Rất kiệm lời, rất ít thông điệp, rất cẩn trọng trước một vấn đề nhạy cảm. Có lẽ, tân Bộ trưởng nhớ đến con số 1.671 tỷ đồng mà Petrolimex đang lỗ. Có lẽ, ông đã suy nghĩ trước những tuyên bố một thời của người tiền nhiệm. Nguyên văn: “Chúng tôi điều hành giá xăng dầu vì trách nhiệm với hơn 80 triệu người dân chứ không vì lợi ích của một bộ phận hay một doanh nghiệp nào cả. Nếu doanh nghiệp nào thấy lỗ quá không làm được thì rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu không làm được chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập tổng công ty khác. Nhà nước không dọa ai và cũng không ai dọa được Nhà nước”.

Báo cáo cuối cùng mà ông Bùi Tiến Dũng công bố với tư cách Tổng kiểm toán là vấn đề tài chính tại 271 DNNN với không ít những sự thật tồi tệ xung quanh sự thiếu hiệu quả, bết bát của những quả đấm thép. Nhưng sang trọng trách mới, ngồi một trong những cái ghế bộ trưởng quan trọng nhất trong Chính phủ, cũng là một cái ghế nóng, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cũng đổi vai để từ người đi kiểm tra, trở thành người bị kiểm tra bởi quốc hội, bởi nhân dân.

Chiều hôm 25.5, ĐBQH Võ Thị Dung đã dưng dưng nước mắt khi nói đến tình trạng sử dụng tiền của dân một cách thiếu trách nhiệm trong khi cả nền kinh tế và nhân dân đều đang cực kỳ khó khăn. Mong là tới kỳ họp sau, ĐBQH Võ Thị Dung sẽ lau khô nước mắt và là người đầu tiên đề nghị trao cho ông một tấm huy chương fields vì đã giải được bài toán túi tiền quốc gia với những mệnh đề thuế phí- giá cả, bởi đó cũng là bài toán lòng dân.


BLOG HIỆU MINH  

Hồi sang Ba Lan, rồi Bulgaria và sau này sang Mỹ, nhiều bạn bè có hỏi, tại sao nước anh bé thế mà thắng Mỹ.

Tôi kể rằng, thời đó, thấy ai chết vì bom đạn, vì đi chiến trường, chúng tôi gọi đùa là bị Mỹ “cắt hộ khẩu”. Hàng triệu người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Mấy hôm nay, tin blogger Trương Duy Nhất bị bắt, gây hiệu ứng dữ dội trong thế giới mạng. Nhưng tôi thì không ngạc nhiên vì chuyện đó. Tôi tin, anh Nhất cũng chẳng ngạc nhiên.

Là một blogger “nóng”, việc bị bắt có thể tiên liệu được, vấn đề là thời gian và xảy ra lúc nào thôi.

Trên thế giới, bloggers dính vòng lao lý vì nhiều lý do, do họ biết quá nhiều và viết quá nhiều liên quan đến hậu trường chính trị ở tầm cao.

Anh Duy Nhất bị bắt không phải là trường hợp duy nhất tại Việt Nam. Trước đó đã có mấy chục người. Sau anh sẽ còn nhiều người khác nữa. Hiệu Minh Blog có bị đóng cửa vì một lý do nào đó cũng là bình thường.
Nhân loại chứng kiến hàng ngàn bloggers bị giam cầm và hãm hại. Chuyện đó xưa như internet. Đối đầu với giới có quyền lực trong tay là trò chơi với lửa.

Nhưng không phải vì thế mà giới blogger, quyền lực của nhân dân, lại chấp nhận im lặng. Sự vận động của nhân loại là không ngừng, chỉ có điều nơi chậm, nơi nhanh.

Không hiểu sao anh Nhất lại lấy tên blog của mình là “Một góc nhìn khác”. Đã duy nhất thì không thể có cái thứ hai.

Anh sinh ra ở một đất nước mà đảng CS là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước. Anh Duy Nhất theo “góc nhìn khác” thì không thể được.

700 tờ báo đều duy nhất theo một hiệu lệnh, viết gì, đăng gì. Nhà báo không thể…nhìn khác và viết khác.
Còn rất nhiều cái duy nhất khác ở đất nước này.

Thời điểm anh Nhất bị bắt có nhiều điểm trùng hợp.

Cuộc “tắm rửa” nhằm làm trong sạch từ trung ương đến địa phương do TBT khởi xướng đã có những tín hiệu không vui sau hội nghị TW 7. Sắp tới là cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc hội.

Dã tâm lấn chiếm cả đất lẫn tư tưởng, Trung Quốc sẽ mừng thấy láng giềng càng yếu, càng dễ cai trị và dắt mũi.

Bộ Ngoại giao Mỹ vừa quyết định không đưa VN trở lại danh sách CPC. Thật ra, đòn này khá hiểm. Tưởng người ta không nói gì, cứ thế làm tới, là mắc bẫy cao bồi.

Phương Tây “rất vui” khi thấy đất nước rối ren, tham nhũng, lạm quyền tràn lan, Trung Quốc đang đe dọa biển đảo. Nhìn quanh chẳng có bạn hay đồng minh nào thật sự.

Sự bất bình trong dân chúng chính là đòn quyết định thay đổi, chứ không phải CPC hay sự can thiệp từ bên ngoài.

Obama từng ngồi xem mùa Xuân Ả Rập múa bụng. Trước đó là Nixon, Reagan ngồi trên lưng ngựa ngắm các cuộc cách mạng hoa.

Tuy nhiên ở ta, với hệ thống truyền thông một chiều, dân thường ít nhìn ra mặt trái. Phần đông vẫn thấy mọi việc đang ổn.

Tại kỳ họp Quốc hội, ông PGĐ CA Quảng Nam nhận xét rằng  “Người dân không quan tâm tên nước như thế nào”.

ĐB Đỗ Mạnh Hùng (Thái Nguyên) còn tự tin hơn “Nếu trưng cầu, một câu trả lời gần như chắc chắn là đa số người dân vẫn tin tưởng vào Đảng, chúng ta sẽ có kết quả tích cực về điều 4. Những xu hướng, tư tưởng khác, sẽ không còn lý gì để tranh luận”.

Không hiểu sao, tôi thấy không phải hai ông này nói không có lý.

Có lẽ đa số dân đọc báo mạng quan tâm đến chân dài, Lý Nhã Kỳ, Nick Vujicic,  Thái Nhã Vân nude với sư, hay các sao lộ hàng hơn là chuyện blogger bị bắt. Cứ xem “bài đọc nhiều nhất” trên các trang mạng sẽ rõ hơn.

Nhưng internet đã bạch hóa lịch sử rất nhiều và tiếp tục đóng vai trò chia sẻ thông tin, sẽ không còn vùng cấm nào mà không bị động chạm trên thế giới ảo.

Giới bloggers cũng đóng góp nhiều cho mục đích này. Lợi có, hại có, trong thế giới đa chiều phải chấp nhận những cái khác biệt. Nếu biết sử dụng thông tin, nó trở nên sức mạnh trong quản lý.

Dư luận tạo nên những “nồi áp suất” lên chính quyền. Nếu không được tháo van đúng lúc, mà cứ tiếp tục “đun sôi”  như đất đai bị chiếm dưới danh nghĩa phát triển, sự bất công trong xã hội tăng lên từng ngày, bắt bớ không có lý do, “tự tử” trong đồn công an, tòa xử kiểu kangaroo…rất có thể bị “nổ” ngoài ý muốn.

Thein Sein, Tổng thống Myanmar, và chính thể độc tài, từng ra lệnh giam giữ và thủ tiêu không biết bao nhiêu người dám trái ý.

Cuối cùng Thein Sein vẫn phải nhượng bộ. Báo chí tư nhân ra đời, không bị kiểm duyệt và tha hàng ngàn tù nhân chính trị.

Bởi không thay đổi thì dân Miến Điện sẽ không để yên dù họ theo đạo Phật hiền hòa.

Vừa nhậm chức kỳ hai hồi đầu năm 2013, Obama liền thăm Myanmar. Thein Sein vừa đến Nhà Trắng tuần trước.

Khả năng tự điều chỉnh của Myanmar là một ví dụ tuyệt vời khi lãnh đạo cấp cao kịp hiểu ra thời…phải thế.

Nhiều người hy vọng lãnh đạo VN cũng theo chiều hướng đó. Tuy nhiên, trong thời điểm này, mọi chỉ dấu cho thấy, họ chưa muốn cải tiến một khi chiến lược theo đuổi hiện nay vẫn OK.

Anh Trương Duy Nhất là con tốt trên bàn cờ. Cú ra đòn mang tính răn đe những kẻ dám nói trái chiều và sự thật. Và nó xảy ngay trước thềm cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc hội cũng là một tín hiệu gửi đi cho ai đó.
Họ sẽ bắt tiếp cho tới khi không còn bloggers để bắt chỉ vì dám…nghĩ khác.

Blogger vào tù phải quen như thời chiến “cắt hộ khẩu” thì xã hội sẽ dân chủ hơn.

Cũng hy vọng, nếu người có quyền lực hiểu rằng, cách đóng góp của bloggers chưa chắc đã hay, nhưng thay vì bắt bớ, họ có thể làm khác.

Hiệu Minh. 28-5-2013

Tặng anh Trương Duy Nhất và các bạn đọc blog mấy bông hồng chụp cuối tuần vừa rồi ở Virginia.


BLOG HUỲNH NGỌC CHÊNH
THỨ HAI, NGÀY 27 THÁNG NĂM NĂM 2013

Có lẽ tôi đang ở Đà Nẵng đúng vào lúc xảy ra sự việc bắt khẩn cấp blogger Trương Duy Nhất nên có vài đề nghị tôi bình luận về sự kiện đang nóng nầy. Tôi từ chối vì biết quá ít về anh. Tôi  chỉ gặp Trương Duy Nhất có một lần duy nhất trong đời tính đến ngày hôm nay (he he, không biết mai mốt có được gặp anh ở đâu nữa không) và trước đó cũng chưa hề giao du gì với anh, cả trên mạng lẫn qua điện thoại.

Tôi gặp anh một lần nhưng tôi lại có cảm tình với anh, ngược lại hẳn với trước đây, tôi rất không thích anh ta.
Lúc đó mới vừa có tin tôi có tên trong danh sách chín người trên toàn thế giới được đề cử để tranh giải Netizen do RSF và Google tổ chức.

Khi ấy Nhất có công việc vào Sài Gòn rồi được bạn bè Sài Gòn rủ rê đi nhậu, các bạn ấy rủ rê luôn tôi. Nhất đến sau khi mọi người đã đến đông đủ. Anh bước vào và đến thẳng chỗ tôi dù trước đó tôi với anh chưa hề gặp nhau, trịnh trọng bắt tay và nửa đùa, nửa thật tuyên bố: Xin được vinh dự bắt tay trước với người được giải thưởng lớn quốc tế.

Tôi vội đính chính: Mới được đề cử thôi còn phải qua bình chọn nữa, còn xa lắm mới đụng tay vào cái giải ấy. Rồi tôi cũng nửa đùa nửa thật nói tiếp: Anh em thấy mình già cả sống đủ rồi nên xô đại mình xuống hồ cá sấu để làm anh hùng cứu mỹ nhân đấy thôi.

Nhất có vẻ thích thú với lời nói đùa ấy nên trong bữa nhậu hay nhắc đi nhắc lại câu chuyện tếu nầy.

Bữa nhậu hôm đó có vài người viết blog và một số bạn khác không viết blog nhưng đều quen biết Nhất. Nhất nhỏ tuổi nhất trong đám nhưng cách nói năng rất ngang ngang và rất bằng vai phải lứa với mọi người. Điều ấy đã gây cho tôi một cảm giác là tay này hơi ngạo mạn và có chút phách lối. Tuy vậy đến cuối bữa tiệc, qua nội dung nói chuyện, Nhất đã không làm tôi ghét thêm mà còn xua tan đi những tình cảm khó chịu của tôi đối với Nhất trước đây. Tuy cũng hay đùa cợt nhưng Nhất luôn có thái độ chừng mực và cầu thị khi nói đến những việc nghiêm túc

Thật ra, nếu ai đã đọc Nhất nhiều rồi thì sẽ không thấy khó chịu lắm với cách nói ngang phè theo kiểu Quảng Nam của Nhất ngoài đời. Trong các bài viết của anh, anh "phang" như búa bổ vào đầu rất nhiều người, kể cả những người đang có chức vị cao nhất. Anh cũng không chừa những blogger và những người đấu tranh dân chủ mà anh không ưa. Do vậy mà một số bài viết của Nhất thường đưa đến những tranh luận gay gắt trên thế giới mạng.

Và cũng do vậy mà có nhiều luồng dư luận nghi ngờ Nhất là người của an ninh cài vào. Hầu như những lần tôi ra Đà Nẵng tôi đều nghe người nầy người nọ "khẳng định" với tôi Nhất là "hai fai". Những người "khẳng định" ấy là nhà báo hưu trí uy tín, là doanh nhân, là nhà báo đương việc, là văn nghệ sĩ, là thường dân... Trước những ý kiến như vậy tôi chỉ lặng im lắng nghe chứ không biểu lộ sự đồng tình hay phản đối.

Nhất là một blogger khá độc lập, ít khi nào thấy anh hùa theo số đông. Anh hầu như không tham gia vào việc ký các kiến nghị, kể cả kiến nghị rất chính đáng của 72 nhân sĩ trí thức về góp ý sửa đổi hiến pháp vừa rồi.
Qua các bài viết của Nhất, có thể thấy rằng anh luôn đứng trong hệ thống để phản biện. Những phê phán của anh thường nhắm vào các hiện tượng tiêu cực và nhằm mục đích mang lại sự tốt đẹp cho hệ thống.
Tuy nhiên cách phê thẳng thừng và nặng nề của anh khó lòng làm cho người ta tiếp thu nhất là người ta đang ở cương vị lãnh đạo, chưa nói là sẽ dấy lên sự thù oán với anh.

Trước và sau các sự kiện quan trọng của đảng và nhà nước, nhất là các sự kiện liên quan đến sắp xếp nhân sự, Trương Duy Nhất thường có bài bình luận mà mới đây theo Phạm Chí Dũng là "mức độ cập nhật thông tin của bài viết rất cao"  ý nói rằng anh có được những thông tin mà chỉ những người trong cuộc cấp cao mới có thể có.

Trước sự kiện ông Nguyễn Bá Thanh ra nhận chức trưởng ban nội chính, Nhất có nhiều bài tỏ ra ca ngợi nhân vật nầy. Nhưng mới đây, sau khi ông Thanh không vào được BCT, Nhất lại viết bài khuyên ông Thanh nên từ chức về vườn.

Trước khi diễn ra hội nghị TW 7, Nhất làm cho mọi người sửng sốt khi thẳng thừng "phang" hai ông tổng bí thư và thủ tướng là nên từ chức vì những lỗi lầm của họ gây ra khi lãnh đạo đảng và điều hành kinh tế.

Tôi cũng sửng sốt về bài viết nầy (pha lẫn sự khâm phục) và cả bài viết khuyên ông Thanh từ quan mới đây của Nhất, rồi không biết làm gì hơn nên đã pha trò chọc ghẹo Nhất trên facebook qua status "Đồng chí Trương Duy Nhất làm công tác tổ chức rất tốt... sắp tới đây ai lên thay các vị ấy thì đồng chí sớm cho biết kẻo nhân dân trông chờ". Nhất không ý kiến gì về chọc ghẹo của tôi. Có lẽ anh nghiêm túc trước những việc nghiêm túc, không có kiểu cái gì cũng ba lơn như tôi.

Phải chăng vì "mức độ cập nhật thông tin trong các bài viết rất cao" nên dư luận nghi ngờ rằng Nhất có trong đường dây theo phe phái nào đó trong cuộc chơi quyền lực đang diễn ra khá gay gắt hiện nay. Việc bắt khẩn cấp Nhất ngay trước khi diễn ra việc bỏ phiếu tín nhiệm ở quốc hội cũng là sự trùng hợp đáng suy gẫm.
Cô Thụy My của đài RFI khá nhạy bén khi mời blogger Phạm Chí Dũng bình luận về sự việc blogger Trương Duy Nhất bị bắt. Trước đây, Dũng cũng bị bắt khẩn cấp vì những bài báo có "mức độ cập nhật thông tin khá cao".

Nếu bị bắt vì lợi dụng dân chủ theo điều 258, thì sẽ có rất nhiều người bị bắt, hà cớ gì chỉ có mình Nhất? Game of thrones?

Tôi đang xem phim truyền hình nhiều tập "Game of Thrones" nên bỗng dưng nảy ra cái tựa cho có vẻ có chút tiếng Anh cho sang chứ chẳng có ý sâu xa gì. he he



BLOG NGƯỜI BUÔN GIÓ
Thứ tư, ngày 29 tháng năm năm 2013

Thương Nữ có người dịch là kỹ nữ, có người dịch là ca nữ, có người gọi là con hát. Có người bảo Thương Nữ là con gái nhà thương gia....

Nguyên văn câu thơ

Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.

Tôi nhớ Khương Hữu Dụng dịch rằng.

Con hát biết chi hờn mất nước
Cách sông còn hát Hậu Đình Hoa.

Kể về một giai thoại của thời Đường, giặc đã đến bên kia sông, bên này sông vua quan nhà Đường vẫn còn say sưa yến tiệc nghe ca hát.

Tôi vẫn thích ai đó dịch Thương Nữ là một người con gái đẹp, dễ thương. Từ kỹ nữ, con hát nghe khinh miệt quá. Một người con gái dễ thương, chỉ biết ca hát, không biết đến chuyện quốc gia đại sự, sơn hà nguy biến nghe dễ vào hơn. Phận đàn bà, con gái thường vẫn thế. Câu thơ hàm ý chê trách người con gái đang hát, nhưng nếu hiểu rõ chế độ phong kiến thì hiểu câu thơ là trách kẻ nghe hát chứ không phải người hát. Bởi kẻ nghe hát đây là cả một triều đình, vua chúa và lũ bầy tôi không màng đến vận nước suy vong cận kề. Những kẻ ngồi trên ngôi cao chỉ lo hưởng thụ, những kẻ có quyền bính trong tay, có trách nhiệm phải giữ gìn xã tắc... câu thơ mượn người con gái để trách, nhưng thực ra là trách bọn vua quan triều đình.

"Thương nữ bất tri vong quốc hận" trở thành một điển tích tiêu biểu của sự mất nước, vong quốc.

Một điển tích khác mà  nhiều người làm nghề sử chắc phải biết đó là điển tích Thôi Trữ giết vua.

Thôi Trữ giết vua Tề. Sử gia chép rằng Thôi Trữ giết vua. Thôi Trữ chém chết sử gia, cho người em sử gia chép sử, người em chép y nguyên vậy, bị chém chết, người em sau cũng vẫn chép vậy cũng bị chém chết. Đến người em thứ tư vẫn chép vậy, Thôi Trữ đành chấp nhận sự thật không giết sử gia nữa.

Hai điển tích này thì liên quan gì đến nhau?

Ở Việt Nam  thì có liên quan chút ít, bởi Việt Nam của chúng ta ngày nay có rất nhiều đàn bà, con gái phải vào chốn lao tù, chỉ vì họ nặng lòng với non sông. Họ không phải là kẻ bất tri với nỗi nhục vong quốc. Và  họ lần lượt  người này vào lao tù, người khác lại tiếp tục. Từ Phạm Thanh Nghiên đến Tạ Phong Tần đến Nguyễn Phương Uyên. Rồi còn bao nhiêu người con gái khác cũng tại chữ ''quốc '' mà chịu cảnh lao tù như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Hồ Thị  Bich Khương. Đỗ Minh Hạnh.

Đất nước nào trên thế giới này có số phụ nữ vào tù nhiều nhất vì tội danh chống chế độ? Có ai đặt ra câu hỏi đó chưa nhỉ? Người ta thường nói '' ôi trời, ở đâu cũng có ăn cắp, ở đâu cũng có giết người, Mỹ cũng thế, tư bản cũng thế''. Vậy bạn nào nói cho tôi là ''ối trời đâu cũng thế ở Xu dan, Sy Ry, Ả Rập, Mỹ cũng đầy bọn phụ nữ chống phá chế độ bị bắt bỏ tù''.

Khi viết bài này, tôi đã hỏi tổ chức ân xá quốc tế, tổ chức nhân quyền quốc tế, một vài tổ chức quốc tế khác theo dõi về vấn đề này. Để biết trong năm qua nước nào trên thế giới này có số phụ nữ bị vào tù nhiều nhất vì chống chế độ hiện tại ở nước họ. Câu trả lời thật buồn, không phải ở Xu Dan, Sy Ry, Mỹ...

Không nói chế độ sai, chưa nói những người phụ nữ chống chế độ là đúng. Nhưng một đất nước mà có quá nhiều phụ nữ phải vào tù vì chống cái chế độ đang cầm quyền đất nước ấy, thiết nghĩ những người có lương tri phải nên suy ngẫm. Vì phụ nữ xưa nay hiền lắm. Nhất là phụ nữ Việt Nam dịu dàng, nhẫn nhịn có truyền thống. Lịch sử chỉ cho thấy khi nào có ngoại xâm những người phụ nữ Việt Nam mới trở nên kiên cường, dũng cảm chấp nhận hy sinh, tù đầy để bảo vệ non sông đất nước.

Nếu chế độ  ngày nay đúng, những người phụ nữ bị bỏ tù kia là bởi họ sai. Có lẽ đây là lần duy nhất trong lịch sử là '' truyền thống '' của người phụ nữ Việt Nam đã không có đáp án trùng lặp. Lịch sử và truyền thống lẽ nào cũng có lúc sai?

Chúng ta thấy sự kiên định trong quan điểm Thôi Trữ giết vua, hẳn chúng ta cũng thấy cái kiên định của Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Đỗ Minh Hạnh  ở quan điểm của họ.

 Bất luận đúng sai thế nào thì những người con gái Việt Nam mềm yếu kia cũng đã vào tù vì chữ '' quốc ''. Không phải như thương nữ nhà Đường chỉ biết ca hát, chẳng màng '' vong quốc ''. Bất luận đúng sai thế nào thì họ cũng nối tiếp nhau kiên định với quan điểm của mình như những nhà chép sử thời Tề cách đây khoảng 2600 năm.

Trong những cuộc biểu tính phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam chúng ta thấy rất nhiều phụ nữ là bà già, là trung niên, là thanh nữ, là thiếu nữ.....

Những người phụ nữ đang ở trong lao tù kia , những người phụ nữ đang bị sách nhiễu hàng ngày và những người phụ nữ trong những tấm ảnh  này,chẳng phải họ đang biết đến hờn mất nước sao?

Nghĩ đến những người phụ nữ chân yếu tay mềm đang ở chốn lao tù. Rồi bỗng nghĩ đến bà Phó Doan phát biểu '' đất nước ta dân chủ gấp ngàn lần tư sản''.

Thấy bản dịch của những người dịch trên là đúng với câu thơ. Chỉ có mình đa sự bày đặt thương nữ, nữ thương này nọ.  Kỹ nữ hay con hát cũng thế mà thôi, chỉ có cái loại ấy mới ca ( hót ) được trong lúc nước mất nhà tan.


FACEBOOK NGƯỜI BUÔN GIÓ

Người Buôn Gió
 
đại ca ở lại bình an nhé
em té đây
ngày kia em đi Châu Âu
chả biết bao giờ về lại xứ Vệ này
 
06:22
Trương Duy Nhất
 
Ủa, ai cho đ đi?i mà
Đi được à?
 
06:22
Người Buôn Gió
 
Bộ công an thông báo cho đại sứ Đức'
là dỡ lệnh cấm rồi
đại sứ làm visa cho em và mua vé rồi 
 
06:23
Trương Duy Nhất
 
Ồ, chúc mừng nhé. Bình an!
 
06:23
Người Buôn Gió
 
 Cái ông quốc vụ khanh Đức hồi Tết sang đây họp nói gì ko biết
nên bọn nó cho em đi
em đi học ngoại ngữ thời gian
chắc cũng lâu
sau này về viết blog song ngữ luôn
 
06:25
Trương Duy Nhất
 
Hi, đã quá rồi
Tin bất ngờ đấy.
 
06:26
Người Buôn Gió
 
khi em đi rồi em mới thông báo lên trên FB
 
06:28
Trương Duy Nhất
 
Ngồi máy bay rồi, bay trên trời rồi mới chắc!
 
06:29
Người Buôn Gió
 
ko, cái này thì chắc rồi, xưa nay em có nói gì quá đâu
cái gì chắc chắn  em cũng chỉ nói đến 70% thôi mà
 
06:31
Trương Duy Nhất
 
Hi, bay trên trời rồi mới chắc
 
06:33
Người Buôn Gió
 
chỉ có đi hẳn hay đi được về thôi
còn ko có chuyện cấm đi nữa
 
06:34
Trương Duy Nhất
 
Chúc may mắn, bình an. Mình thoát chạy đã.
 
......................................................................................................
 
Trước khi đi mình đã có lời mong anh được bình an, chả dám khuyên anh vì ít tuổi hơn, chỉ dám mong anh bình an thế. Tự nhiên lúc đi có cảm giác anh Nhất là người sẽ có khả năng bị nguy hiểm nhiều nhất. Không phải cùng chí hướng với anh, nhưng cùng cảnh viết blog nên đồng cảm vậy.
 
trích bài Chúng Ta Đều Ở Trong Rọ/
 
Nhưng bỏ qua những cái chi tiết ly kỳ rẻ tiền mà bọn bồi bút kiếm chác cơm gạo. Chúng ta vẫn phải nhận ra rằng, Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ bị bắt vì những bài viết trước đó, và anh hoàn toàn bị bất ngờ vì không nghĩ rằng họ không bắt lúc anh mới đưa lên mạng. Mà đợi thời gian sau mới bắt, cũng như Điếu Cày, Ba Sài Gòn, Vi Đức Hồi... đều vậy.

Ai mà nghĩ được anh Điếu Cày bị bắt ngay sau khi kết thúc 30 tháng tù giam, vì những bài viết trước đó. Những bài viết mà nói thẳng ra trong số chúng ta chẳng ai có thể nhớ nội dung nó là gì dù có đọc.

Chúng ta, những người viết blog "lề bên trái" những người chưa bị bắt chỉ là "của để dành" khi người ta cần lập chiến công nhân dịp xét duyệt phong hàm, chức hay phục vụ quan hệ với một nước nào đó. Một sự thật phũ phàng có thể làm ai đó nhụt chí. Nhưng nhìn rõ vào sự thật để đón nhận nó không bị bất ngờ vẫn tốt hơn. Ít nhất chúng ta có thể soạn kịch bản cho mình, không phải thụ động cúi đầu đọc một cái kịch bản mà người ta đưa cho.

Vụ những thanh niên trong tổ chức Tuổi Trẻ Yêu Nước mà Phương Uyên bị bắt mới đây. Ít ai để ý là báo chí nói Phương Uyên cùng tổ chức với Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Thành. Mà Việt Khang, Anh Bình bị bắt trước đó cả năm, rồi đến trước đại hội Đảng TQ an ninh bắt tiếp Phương Uyên. Ngay sau khi vừa đưa Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình ra xét xử.

Biết trước không có nghĩa là để biết sợ mà tránh. Có những cái biết trước để chuẩn bị cho mình một tâm lý thanh thản, đi đến nơi biết trước là sẽ đến. Để những ngày tháng ở nơi đó mình sẽ sống thế nào để không uổng phí, biến một ngày mà người ta trừng phạt mình thành một ngày có ích cho mình sau này.
 
http://danluan.org/tin-tuc/20121105/nguoi-buon-gio-chung-ta-deu-o-trong-ro


Đinh Tấn Lực - Sáng Kiến Quản Lý Tổ Cuốc


Đinh Tấn Lực

“Sáng kiến là ý kiến vừa mới súc miệng buổi sáng”
(Lê Nan – tiên sư Lê Nin)

Đất nước chúng ta Đang Ổn Định.


Kinh tế vĩ mô chỉ suy thoái vừa phải (đạo) và không đi ngược xu thế/trào lưu suy thoái chung của thế giới. Lạm phát đã kịp xanh mặt trước dàn nội các siêu phàm của ta mà đạp thắng ở chỉ số 23%. Các quả đấm thép đã được dán keo bẫy chuột và mạ kền sáng choang bằng các gói kích (nhầm) cầu. Nợ công chưa quá mức gấp đôi tổng sản lượng nội địa. Giá xăng/điện/nước chỉ cần tăng chút đỉnh là đủ bù lỗ. Mặt trận (phá rừng) miền Tây vẫn yên tĩnh. Biển Đông chỉ thấp thoáng nhấp nhô bóng tàu hải giám đêm ngày tuần tra giữ biển trong mọi điều kiện thời tiết. Quân đội ta nhất quyết tận trung với đảng và tận hiếu với nhau. Ngư phủ ta đã sáng tạo phương cách chống phơi tàu, chống làm rẫy, và chống thất nghiệp, bằng giải pháp làm chui cho tàu cá nước ngoài. Công viên đã được chăng rào dây băng chuyên dụng ngăn chận mọi cuộc tụ tập nhếch nhác/nhì nhằng. Bờ hồ Gươm chỉ còn bọn đánh giày và bán vé số lai vãng. An ninh trên cạn liên tục đạt nhiều thành tích vang dội, đặc biệt thành công với biện pháp giải tỏa đám đông bằng kim tiêm thay dùi cui/roi điện. Phương thức hợp đồng tác chiến giữa trung ương với địa phương, hay hợp đồng tác chiến giữa công an với côn đồ/đầu gấu/dân phòng… đã được nâng cấp thành chiến lược nội an. An ninh mạng đã được tăng cường thành mũi nhọn tập trung 8 sư đoàn mệnh danh là lực lượng tiên phong bắng nhắng. Các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm được mở công khai ở nhiều vùng phong tỏa và sôi động như rạp xiếc ngoài trời. Giới doanh nhân vừa mới có được cơ hội học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm đặc biệt từ một diễn giả đặc biệt thỉnh giảng từ nước ngoài. Sự cố mất điện nửa nước được khắc phục nhanh chóng. Sự cố mất nước nửa tầm chưa hoàn toàn xảy ra hiện thực. Nền chính trị thượng tầng không hề có chỉ dấu phân rã nào xảy ra rõ rệt. Bộ tứ trên cùng vẫn kính mến nhau trong tình đồng chí ăm ắp yêu thương. Ban chấp hành trung ương vừa mới ban hành nghị quyết 7. Ban tuyên giáo trung ương vẫn tích cực làm việc với hiệu năng thường lệ. Dự thảo sửa đổi hiến pháp thắng lợi vượt bực với nhiều chục triệu ý kiến tán đồng. Quốc hội đang sôi nổi họp hành cũng trong chiều hướng gật gù tán đồng tương tự…

Nhìn chung, kết luận đúng đắn và đầy tự tin của mọi nghị quyết trước đây cũng như gần đây nhất là đất nước chúng ta Đang Ổn Định.

Tuy nhiên, nhân dân ta có lỡ mà chưa kịp giàu hay quốc gia chưa thành tiểu long/mãnh hổ… thì cũng chỉ vì hệ quả mấy mươi năm chiến tranh triền miên và khốc liệt trước đây.

Chính vì bài học trầm kha đó, và chính vì truyền thống cư an tư nguy, tức là khi ổn định phải lo điều bất ổn, cho nên, chúng ta cần phải biết điều mà né tránh chiến tranh bằng mọi giá.

Đây là một sáng kiến quản lý (là quản có lý) đất nước, hiện được đặt ngang tầm chiến lược.

Việt Nam anh hùng của chúng ta, dù đã vinh quang “xây xác quân thù” cả ba cường quốc sừng sỏ hàng đầu của thế giới, sẽ không bao giờ gây chiến/tuyên chiến/chủ chiến/hiếu chiến/quyết chiến… hay thậm chí, tạo điều kiện cho bất kỳ một nước lạ nào giải quyết tranh chấp với chúng ta bằng vũ lực chiến tranh; huống hồ là với nước lạ cùng một tôn giáo/chủ nghĩa/mục tiêu/lập trường/giai cấp mà chúng ta từng chịu ơn như một bầu bạn quốc tế trong bối cảnh nước xa lửa gần suốt nhiều chục năm chinh chiến.

Người Việt Nam can trường và trí tuệ của chúng ta, từ thủ tướng xuống tới tổng bí thư, hay từ chủ tịch nước xuống tới thằng xe tẹt bán nước, đều nhất dạ quán triệt như nhau và một lòng tâm nguyện như nhau, rằng chúng ta có được hạnh phúc đứng hàng thứ nhì thế giới ngày hôm nay là nhờ ơn huệ vô biên của chính quyền nước lạ, từng quyết chí chiến đấu “chống Mỹ cho tới người Việt Nam cuối cùng”, cho nên, chúng ta cần phải biết điều mà né tránh tội “xúc phạm lân bang”, nói rõ ra là không được nghĩ/nói/làm điều gì có thể gây mích lòng lân quốc, bằng mọi giá.

Chắc chắn chúng ta có đủ thông minh để hiểu rằng “chống Mỹ cho tới người Việt Nam cuối cùng” không phải chỉ là khẩu hiệu nhất thời của một triều đại. Cho dù hoàn cảnh Quốc Tế III có khác, dung nhan thế giới từ cuối thế kỷ 20 có khác, điều kiện giao hảo và giao thương hiện nay có khác… nhưng, chủ trương lớn của lân bang, về cái “người Việt Nam cuối cùng” đó, không khác; không chỉ từ bác Mao đến bác Tập, mà từ thời trụ đồng Mã Viện tới nay, nhất định không khác.

Chính vì thế, các điều luật 79, 88 của Việt Nam can trường và trí tuệ của chúng ta sở dĩ được áp dụng cật lực (trên cả mức yêu cầu và chỉ tiêu của lân quốc) là cũng chỉ nhằm bảo đảm cho lằn ranh biết điều/phải đạo đó; đồng thời, tích cực bảo vệ tình hữu nghị bốn tốt/bốn tương (Sơn thủy tương liên - Văn hóa tương thông – Lý tưởng tương đồng – Vận mệnh tương quan) đời đời bền vững của chúng ta với bầu bạn lân quốc; đặc biệt là bảo vệ mối liên hệ thứ tư đã leo lên tầm quan trọng thứ nhất: “Vận mệnh tương quan”, tính từ cuộc hội nghị Thành Đô. Tức là: Thiên triều mà nhỡ có bề gì thì hàng chư hầu chúng ta ở đây lấy đất đâu chôn?

Đó chính là nguyên ủy cốt lõi của những vụ bắt cóc khẩn cấp, đưa đến các phiên tòa xét xử khẩn cấp, bằng những bản án phản động đã khuấy động dư luận cả trong và ngoài nước trong nhiều thập niên qua. Từ thời của bậc thầy Hà Sĩ Phu cầm biển chỉ đường cho tới thời của những bậc thầy mặc áo trắng học trò Phương Uyên-Nguyên Kha, hay án phúc thẩm của các thanh niên Công Giáo-Tin Lành thuộc hàng bậc thầy dân trí và dân khí cực kỳ đáng kính tuần trước.

Cũng chính vì thế, và sâu hơn cả điều 79, 88 trong bộ luật hình sự Việt Nam, điều luật 258 đã dự phòng sẵn một tình huống phủ sóng cho bất kỳ người nào chân còn chạm đất trên phần lãnh thổ độc lập-tự do-hạnh phúc này, đặc biệt, sáng kiến quản lý tổ quốc này là một mẻ lưới nhắm vào những đối tượng biết chữ (rộng gấp vạn lần lưới bắt xe máy vi phạm giao thông):

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Thế nào là lợi dụng quyền tự do ngôn luận…?

Đó là khi người dân manh nha muốn tìm hiểu Sự Thật, cất công đi tìm hiểu Sự Thật, thích thú khi khám phá ra Sự Thật, rắp tâm loan truyền/quảng bá Sự Thật, khiến cho nhiều người khác biết đến Sự Thật, rồi đem Sự Thật soi rọi vào nhiều nơi tăm tối khác trong guồng máy cầm (nhầm) quyền, hoặc dùng Sự Thật để đánh động chút lương tâm còn sót lại của giới sai nha…

Trước đây đã có blogger từng va chạm vào Sự Thật có liên quan đến hàng thứ trưởng trong dàn nội các siêu phàm của ta.

Gần đây, lại có một blogger, nhân danh Một Góc Nhìn Khác, đã bắn tin Sự Thật về nhân sự cấp đỉnh của mọi đỉnh, trước khi cuộc họp trung ương bế mạc.

Trong một quốc gia mà hiến pháp đã ghi rõ danh tánh giới chức độc quyền Sự Thật, và độc quyền lựa chọn thời điểm cùng địa điểm ban phát Sự Thật, thì những vi phạm của các bloggers đó là một tội tày đình, nguy hiểm lâu dài, bất khả dung thứ, và không thể không bắt …khẩn cấp, một khi nó đã ăn lan ra gần khắp nước.
Đó là tội “Tự Ý Tháo Miếng Da Che Mắt”.

26-5-2013 – Kỷ niệm 116 năm ngày xuất bản quyển Dracula của tác giả người Ái Nhĩ Lan Bram Stoker

Blogger Đinh Tấn Lực

J.B Nguyễn Hữu Vinh - Không thể bỏ điều 4, nhưng có thể bỏ tất cả những điều còn lại


J.B Nguyễn Hữu Vinh

Từ đầu năm đến nay, sau khi nhà nước nổi hứng mở đợt Góp ý dự thảo sửa đổi Hiến Pháp, người dân khá ngỡ ngàng. Lạ thật, bản Hiến Pháp 1992 đang là một thứ bùa khá tốt, đảm bảo cho “Đảng ta” một vị thế mà có mơ bảy đời, thì Tổng thống Mỹ Obama cũng không bao giờ có được, có tu mười đời, thì Tổng thống Nga Putin cũng chẳng bao giờ dám mơ tới, chưa nói mấy ông tổng thống “lặt vặt” ở các nước nhược tiểu cỡ Thái Lan hoặc Australia… Tất cả là nhờ ở Điều 4 của cái gọi là Bản Hiến pháp 1992 mà một số tờ báo đã ghi sai chính tả thành Hiếp pháp.

Điều 4?

Điều 4 là gì mà quan trọng vậy? Nguyên văn Điều 4: “Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.


Chính điều này đã đảm bảo cho “Đảng ta” một vị thế vững và “chắc như cua gạch”, khi luật hóa một điều lạ lùng mà ở các nước khác không hề có. Điều này cũng giống như ở trong một làng, có bản Hương ước ghi rằng: Sau khi cướp được ngôi vị ở làng này, chỉ có một mình gia đình Đ. làm bố cả làng. Đ. là gia đình của trí tuệ, đạo đức và văn minh, là đại diện cho cả làng. Không ai được xúc phạm gia đình Đ, bảo gì phải nghe nấy, tích cực làm việc để cống nạp nuôi gia đình Đ. sống phong lưu. Ai chống lại gia đình Đ. có nghĩa là chống lại cả làng. Tất cả quân binh, lính lệ… đều chỉ trung thành tuyệt đối và bảo vệ gia đình Đ. Gia đình Đ. có quyền làm bất cứ việc gì cả làng không được thắc mắc, chỉ được nghe và làm theo. Gia đình thực hiện chính sách cha truyền rồi con nối để lãnh đạo làng. Nếu làm tốt thì gia đình được công, xấu thì cả làng phải chịu. Dù cho gia đình Đ. bố mẹ có dâm loạn, con cái chuyên trộm cướp cũng nghiến răng mà chịu, cũng phải im mà ca ngợi… và chỉ được ca ngợi mà thôi”.

Vậy còn đòi gì hơn nữa mà phải bày đặt? Nhiều người đặt dấu hỏi như vậy. Và họ tự tìm cách trả lời: Phải chăng, Đảng và Nhà nước ta đã nghĩ lại, đã nhìn thấy mình và hồi tâm, đổi tính để quyết định lần này thì thật sự trao lại cho nhân dân quyền của họ? Phải chăng, Đảng đang thực hiện một điều mà Đảng hô hào từ đời tám hoánh nào đó rằng:“Phải nhìn thẳng vào sự thật”, nhưng từ khi hô hào khản cổ điều này, thì có lẽ chưa bao giờ họ dám nhìn thẳng vào sự thật lần nào. (Nếu bạn không tin, hãy mở các báo cáo chính trị, nghị quyết ra mà đọc lại). Chẳng thế mà ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm UB Luật pháp Quốc hội đã khẳng định ngay từ đầu là việc góp ý “không có vùng cấm, kể cả góp ý về điều 4”.

Hưởng ứng hay phản ứng

“Được lời như cởi tấm lòng”, hàng vạn người đã nhiệt tình hăng hái đưa ra các ý kiến góp ý cho Bản dự thảo Hiến pháp mới với tất cả tâm huyết của mình, những dồn nén nay mới có dịp bung ra. Điển hình là 72 nhân sĩ, trí thức của đất nước, đã ngày đêm thao thức và đưa ra một bản Kiến nghị, góp ý về sửa đổi Hiến Pháp 1992 để gửi đến Quốc Hội. Bản văn này đã lập tức có tiếng vang lớn, hàng chục ngàn người đã lập tức ủng hộ và ký tên. Tiếp theo, đại diện của 8 triệu giáo dân Công giáo Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) cũng đã gửi một bản nhận xét và góp ý” về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Bản văn này đã được sự đón nhận hết sức mạnh mẽ và hào hứng, không chỉ với người Công giáo mà cả xã hội.

Những bản Góp ý tâm huyết không ngại “vùng cấm” nói trên, đã vạch ra rất rõ những bất hợp lý, những ý nguyện của người dân để mong xã hội tốt đẹp, đất nước phát triển… đã lập tức cho thấy rõ sự ngược ngạo của những điều vô lý còn tồn tại. Ở đó, người ta vạch rõ nội dung một số điều đã mâu thuẫn với nhau như nước và lửa, đồng thời yêu cầu có thay đổi. Một chế độ chính trị thật sự “của dân, do dân, vì dân” đã được đệ trình và vạch rõ qua các bản góp ý dự thảo Hiến pháp.

Hãy xem một đoạn trong bản Góp ý của HĐGMVN như sau:
“Dự thảo khẳng định quyền tự do ngôn luận (điều 26), quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật (điều 43), quyền tự do tín nguỡng, tôn giáo (điều 25). Tuy nhiên, ngay từ đầu, Dự thảo lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (điều 4). Như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi? Tương tự như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần? Phải chăng những quyền này chỉ là những ân huệ được ban cho nhân dân tùy lúc tùy nơi, chứ không phải là quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, và bất khả nhượng? Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân.

Trong thực tế, sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam. Ðây là một trong những lý do lớn, dẫn đến tình trạng trì trệ và chậm tiến của Việt Nam về nhiều mặt: giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật…”.

Rất nhiều văn bản, bài viết đã phân tích rất rõ: Chính nội dung điều 4 đã phủ nhận và chống lại nhiều điều khoản còn lại của bản Hiến pháp hiện nay và bản Dự thảo đã ban hành.

Không thể bỏ điều 4?

Ngay lập tức, dàn báo chí và các nhà lý luận đã được tung ra giải thích và khẳng định: “Không thể xóa bỏ điều 4” với muôn vàn lý do. Nhưng, lý do chủ yếu là do Đảng có công lao, đảng là duy nhất có năng lực, đạo đức… để lãnh đạo đất nước này mà thôi. Đọc những lời đó, người ta có cảm giác rằng từ khi khai sinh lập địa ra đất nước, dân tộc này, chỉ có một mình Đảng CS là có công, và hơn thế nữa, chỉ có mỗi Đảng CS là đạo đức, văn minh…

Những lý luận quanh co, những lập luận luẩn quẩn nói lấy được đó không làm người nghe hài lòng hoặc khâm phục. Chủ yếu là tiếng nói của những kẻ cầm súng hoặc dựa vào chiếc dùi cui. Người ta nói những lời đó với tâm trạng của kẻ “cả vú lấp miệng em”. Còn người nghe những lời đó với tâm trạng “chấp chi đám bồi bút”. Vấn đề cuối cùng là lòng dân vẫn hiểu, vẫn biết Đảng đang muốn gì.

Qua theo dõi mọi người đều thấy rằng, các văn bản Kiến nghị, góp ý để bản Dự thảo Hiến pháp thật sự đúng nghĩa của Hiến Pháp đã không hề yêu cầu xóa bỏ điều 4 trong bản Hiến Pháp. Còn cá nhân tôi, tôi khẳng định rằng không thể bỏ điều 4 trong một bản Hiến Pháp, bởi nhiều lý do rất thực tế.

Trong thực tế, nhiều nơi, nhiều nước đã kiêng con số 13. Theo lời giải thích là vì bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 môn đệ, tất cả có 13 người. Người thứ 13 đó là Giuđa Ixcariot đã phản bội mà bán Chúa Giêsu là thầy của mình lấy 30 đồng bạc. Vì thế, con số 13 là con số của kẻ phản bội nên bị kiêng. Thậm chí, có những ngôi nhà, cửa hàng, ghế máy bay không có tầng thứ 13, hàng ghế số 13 mà chỉ từ 12 rồi lên 14 hoặc đi qua 12B.

Với người dân Việt Nam ngày nay, con số 4 tương tự như con số 13 độc địa kia. Nhưng không thể vì mê tín mà đòi xóa bỏ điều 4 trong Bản Hiến pháp. Một bản Hiến pháp không thể nhảy cách dòng từ điều 3 lên điều 5 mà bỏ qua điều 4. Mặt khác một bản Hiến Pháp không thể chỉ có 3 điều để không có điều 4. Do vậy, vẫn phải có điều 4.

Vấn đề là ở chỗ, cần phải thay đổi triệt để, xóa bỏ nội dung điều 4 hiện tại để thay thế vào đó một điều tiến bộ hơn và là ý chí của toàn dân nhằm xây đựng đất nước vững mạnh, tiến bộ.

Nhưng, điều đó thì “Đảng ta” lại không muốn, thậm chí bằng mọi giá phải giữ bằng được những nội dung đó. Nghĩ cho cùng thì cũng đúng thôi, với uy tín của Đảng trong nhân dân cao vời vợi như hiện nay, với sự trong sạch, đạo đức của Đảng, khối đoàn kết nhất trí và sức mạnh của Đảng như hiện nay, nếu bắt phải bỏ những nội dung trong điều 4 thì có khác gì buộc Đảng tự sát tập thể. Mà chẳng ai muốn tự sát khi quyền lực đầy mình, của cải vô biên.

Đó mới là mâu thuẫn chính giữa Đảng và dân trong quá trình xây dựng Hiến Pháp ở Việt Nam.

Giải pháp nào?

Để xã hội không bị loạn lạc, vô kỷ cương và đất nước có thể tồn tại, không thể để chứa đựng những mâu thuẫn như nước với lửa trong bản Hiến pháp hiện nay. Cần tìm một giải pháp khả dĩ để loại trừ điều đó.

Thực ra, cũng có một giải pháp rốt ráo nhằm có một bản Hiến Pháp không chứa đựng mâu thuẫn đối kháng như hiện nay. Đó là:
- Hoặc thay đổi triệt để nội dung của Điều 4 Hiến pháp hiện hành, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân muốn xây dựng một xã hội tiến bộ, dân chủ, công bằng, văn minh. Nếu theo giải pháp này, sẽ rất cần phải mất công mất sức hoàn chỉnh luật lệ, hệ thống quyền lực, pháp lý… đáp ứng được nhu cầu xã hội

- Trường hợp không thể thay đổi nội dung điều 4. Thì giải pháp thứ hai nên bàn tới, đó là chỉ để mỗi nội dung điều 4 và bỏ hết tất cả những điều còn lại.

Xin đừng vội cho rằng điều này phi lý, thậm chí sẽ rất ưu việt là khác. Trước mắt là đối với nền kinh tế đang què quặt, ốm yếu và khủng hoảng hiện nay.

Khi đó, cả xã hội sẽ được điều khiển bằng Nghị quyết, bằng chỉ thị, bằng mệnh lệnh và nhiều khi bằng ý thích của một cá nhân nào đó có quyền lực trong Đảng. Điều này xã hội Việt Nam thừa sức thực hiện và đã được chứng minh qua thực tế một thời gian dài. Hiện nay, Bắc Triều Tiên hình như cũng đang thực hiện mô hình đó xuất sắc để đảm bảo vai trò “côn đồ quốc tế”.

Bởi hệ thống Đảng đã thành một bộ máy hoàn chỉnh, song trùng với hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tất cả đang hưởng lương từ túi người dân. Nếu theo giải pháp này, chúng ta có thể giải tán được tất cả mọi cơ quan thuộc chính quyền dân sự, các cơ quan mặt trận, đoàn thể, hội đoàn… là một bộ máy song trùng hoàn chỉnh thứ 2 cũng từ Trung ương đến địa phương và nuôi bằng ngân sách nhà nước.

Nếu theo đúng giải pháp này, lượng người ăn lương của Việt Nam sẽ giảm từ hơn 7 triệu hiện nay xuống chỉ còn gần 3 triệu người ngay lập tức. (Đơn giản là vì con số Đảng viên hiện nay chỉ có như vậy). Như thế, một lượng ngân sách khổng lồ đã được tiết kiệm cho nhân dân.

Về mặt xã hội, khi đó không còn bộ máy cồng kềnh và các công việc phức tạp. Hệ thống Pháp lý được giảm bớt khối lượng công việc khổng lồ. Việc xử án, điều tra hoặc truy tố, chẳng cần đến các bộ phận riêng rẽ như Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án. Đơn giản là chỉ cần Ban Nội chính họp một buổi là có án. Từ trước đến nay dù có ban bệ, cũng nội dung là thực hiện nghị quyết như vậy thô

Tương tự, cả xã hội sẽ được điều hành một cách ngăn nắp, trật tự và hoàn toàn đơn giản bởi bộ máy cảnh sát, công an…

Khi đó, sẽ không có cảnh chính phủ phải phát động những phong trào tốn kém mà mục tiêu lại hạn chế như “Trồng năm triệu ha rừng”. Bởi khi đó, cả nước sẽ là rừng bao phủ, ít nhất về mặt luật pháp.

Về mặt kinh tế, mọi cơ quan phức tạp sẽ được lược bỏ, chỉ cần cấp ngân sách xây thêm nhà tù.

Đó là những mối lợi lớn của giải pháp này cần nghiêm túc nghiên cứu cho hoàn chỉnh, hỡi các nhà lý luận.

Ngày 30/5/2013
J.B Nguyễn Hữu Vinh 

Thái Bá Tân - KHÔNG NƯỚC KHÔNG TRĂNG

By: Nhà thơ Thái Bá Tân

Ni-cô Chiyono học Thiền với thầy Bukko ở chùa Engaku. Trong một thời gian dài cô chăm chỉ thiền định mà không gặt hái được kết quả gì.


Ảnh sưu tầm trên internet

Một đêm trăng nọ, ni-cô đi lấy nước trong cái gàu cũ được néo bằng một thanh tre. Thanh tre gãy, chiếc gàu rơi, nước đổ lênh láng.

Đúng lúc ấy cô giác ngộ, và thấy tâm thức mình được giải phóng.

Sau đấy ni-cô đã viết một bài thơ thế này về sự kiện đó:
Tôi cố giữ chiếc gàu nước ấy.
Nhưng thanh tre gãy,
Chiếc gàu rơi.
Không còn nước trong gàu.
Không còn trăng trong nước.

Được một ông bạn già giới thiệu, thời gian gần đây tôi mê đọc các bài nói chuyện về Thiền của Osho. Câu chuyện trên về sự giác ngộ của ni-cô Chiyono mở đầu cho cuốn “Bài nói về các câu chuyện Thiền” cùng tên của ông, “Không nước, không trăng.”

“Không nước, không trăng, cậu hiểu chứ?” - ông bạn tôi sôi nổi nói - “Và ni-cô Chiyono đã giác ngộ, tâm thức được giải phóng đúng vào cái lúc không nước không trăng ấy...”

“Vì sao?”

“Vì thanh tre mục gãy làm chiếc gàu rơi xuống đất. Gàu rơi thì nước đổ. Nước đổ thì ánh trăng soi trong đó cũng không còn. Gàu và nước là lối tư duy dựa vào những gì mắt thấy tai nghe và sờ mó được. Lối tư duy sáo mòn, cũ kỹ của người đời, của tôi, của ông. Và nó chỉ cho ta thấy cái ảo là ánh trăng hời hợt trên bề mặt của nó.”

“Nhưng cái trăng soi mặt nước ấy cũng đẹp lắm. Và vô hại.”

“Đúng. Người ta tưởng thế, và đó mới thực sư là điều đáng lo ngại. Vì nó mà ni-cô Chiyono chăm chỉ thiền định mãi vẫn không gặt hái được kết quả gì. Vì nó mà tớ và cậu suốt ngày quẩn quanh than với thở như những lão già dở hơi. Suốt đời bám lấy cái trăng và nước ấy, mà trăng thì mờ, mà nước thì đục...”

Câu chuyện của Osho và những lời bạn nói khiến tôi suy nghĩ rất lung.

Quen nhau từ lâu, tôi đoán ông này đang có chuyện gì đó bức xúc lắm.

Một tuần sau ông lại đến. Vừa bước vào nhà, ông nói luôn:
“Cái gàu nước của tớ đổ rồi!”

Tôi chăm chú nhìn ông, chờ nghe tiếp.

“Tớ đã viết đơn xin ra khỏi đảng. Đơn đàng hoàng chứ không phải lẳng lặng bỏ sinh hoạt như khối đứa bây giờ.”

“Vậy nay không nước, không trăng, cậu có cái gì?”

“Tự do.”

Rồi ông nói thêm:
“Tức là tất cả!”.

Trịnh Kim Tiến - Im lặng hay là chết!


Trịnh Kim Tiến

Nói, nói nữa và nói mãi, tất cả sự phản đối dường như vô tác dụng đối với ngành tư pháp và công an Việt Nam trong vấn nạn công an sử dụng bạo lực với người dân.


Tôi, một người con có bố bị công an đánh chết, mọi người, những người quan tâm đến tình hình chung trong xã hội, đất nước, hay thậm chí là những người dân thường ngày đêm lo lao động kiếm sống đều biết được rằng sức mạnh của ngành công an trong xã hội  hiện nay lớn đến thế nào. Chế độ này đang dần trở thành chế độ công an trị, họ có thể làm những gì họ thích bởi quyền hạn của họ ngày một nhiều, dường như  không có một sự chế tài thực sự nào dành cho  họ.

Những bản án bất công liên tiếp, những cách xử lý có tính chất bao che đã  chứng minh một điều rằng tội ác của lực lượng công an đã được cả ngành tư pháp, bộ máy pháp luật Việt Nam dung túng. Trong khi  đó người dân chỉ cần cự cãi lại công an rất dễ bị ghép cho tội danh chống người thi hành công vụ và phải lĩnh án nhiều tháng, năm tù.  

Tôi cứ đếm rồi lại đếm, đăng rồi lại đăng  ngày càng nhiều tin tức người dân bị công an bạo hành trên facebook của mình. Một lần đăng là một lần rớt nước mắt, cũng là một lần đau xót khi biết được rằng những chuyện đó vẫn tiếp diễn hằng ngày và đang trở thành những câu chuyện hết sức bình thường trước phản ứng bất lực vì sợ hãi của người dân.

Tôi nên làm gì, chúng ta nên làm gì khi mà sự bất công đến hồi man rợ?  
Khi mà thượng sĩ công nổ súng giết người  sau khi đã còng tay nạn nhân chỉ phải lĩnh án 2 năm tù giam. Sự phi nghĩa đang diễn ra một cách công khai và trắng trợn nhất  mà chúng ta có thể thấy.  Sự việc xảy ra vào ngày 10/12/2012, ông  Bùi Văn Lợi  (45 tuổi) đi xem đá  gà trên sới gà tại Bắc Giang và sau đó kết quả là ông đã bị tên công an giết người Nguyễn Duy Tùng  nổ súng bắn chết sau khi đã bị còng tay.  Sau hơn 6 tháng quên lãng, vụ án được  đem ra xét xử và kết thúc là bản án 2 năm tù giam cho kẻ sát nhân. Một lần nữa, bộ mặt của Tòa án Bắc Giang, cũng như cả ngành tư pháp Việt Nam tiếp tục bị những kẻ  nắm quyền lực, mang danh thi hành pháp luật phỉ nhổ vào. 

Tôi nói là một lần nữa bởi đây không phải lần đầu  Tòa án Việt Nam kết luận ra được những bản án đáng kinh tởm đến như vậy về những sự vụ công an lạm quyền đánh chết dân. Và câu hỏi đặt ra cho chúng ta bây giờ là chúng ta có thể làm gì để ngăn chặn tình trạng này tiếp diễn?

Chúng ta không thể làm gì vì chúng ta là dân đen, sẽ có rất nhiều người suy nghĩ như vậy. Và chúng ta sẽ thực sự không thể  nào thay đổi được hiện trạng này nếu chúng ta tiếp tục nghĩ như vậy.  Điều chúng ta cần phải làm hiện nay là lên tiếng để bảo vệ quyền lợi và tính mạng của bản thân, cũng như những người xung quanh.  Với diễn biến thực tế, tình trạng này sẽ còn diễn ra và diễn ra mạnh.

Ngày hôm nay có thể là gia đình chúng tôi, ngày mai  nỗi đau đó có thể rơi vào gia đình các bạn. Có ai muốn điều đó xảy ra với bản thân mình, tôi chưa từng nghĩ điều đó sẽ xảy đến với gia đình tôi, nhưng khi nó đến, tôi phải học cách chấp nhận và đối mặt. Đừng ngồi im và để sự mất mát đó tìm đến với gia đình mỗi chúng ta trong sự vô cảm của chính mình.

Có vô số những gia đình đã và đang trải qua đau đớn bởi vấn nạn này gây ra. Những vụ án công an giết người rõ ràng nhưng lại bị gắn mác tự tử, tự thương. Và sự im lặng, quên lãng đáng sợ của dư luận khiến nỗi đau chồng chất lên nỗi đau. Chúng ta  phải lên tiếng và không chỉ là sự lên tiếng suông được nữa, thật khó để chúng ta còn tin vào những gì họ nói là “vì dân”.  Chúng ta cần phải làm gì đó để phản đối những bản án bất công của ngành tư pháp Việt Nam đối với những nạn nhân bị công an lạm quyền đánh và đánh chết. Chúng ta cần phải nói tiếng nói của mình, chúng ta không cam chịu bất công, và yêu cầu đòi hỏi những quyền chính đáng là tính mạng và nhân phẩm của người dân cần phải được tôn trọng.  Vậy chúng ta có thể làm gì khi chúng ta không có quyền trong tay?Chúng ta có quyền biểu tình phản đối, đó là quyền quy định trong Hiến Pháp.

Khi tôi đề cập đến chuyện biểu tình ở đây không có nghĩa là tôi cổ súy cho việc thể hiện bức xúc bằng hành động gay gắt như la hét, ném đá, sử dụng vũ lực, bạo động...  Ý tưởng biểu tình ở đây là sự liên kết bằng những hành động cụ thể cùng những bước chân đồng hành với chúng tôi bằng sự cảm thông, chia sẻ và tâm tình mong muốn sự  đổi thay.

Chúng tôi cần mọi người đi cùng chúng tôi, ủng hộ chúng tôi trong lúc này.

Chúng ta phải có hành động phản đối cụ thể để yêu cầu luật pháp hiện hành trả lại công lý cho người dân.

J.B Nguyễn Hữu Vinh - Tên nước và cái máng lợn ăn sứt mẻ của ông lão đánh cá


J.B Nguyễn Hữu Vinh

Như vậy, cuối cùng thì cái gọi là Quốc hội Việt Nam vẫn quyết định không thay đổi tên nước, vẫn là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vấn đề này, cuối cùng thì nói theo cách nói dân gian “mèo vẫn hoàn mèo” hoặc nói cách khác là lại “trở về cái máng lợn ăn sứt mẻ” trong câu chuyện Người đánh cá và con cá vàng.

Cái tên

Thông thường, theo Từ điển Tiếng Việt, “tên” ngoài các nghĩa khác thì có một nghĩa là “Từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một cá nhân, cá thể, phân biệt với những cá nhân, cá thể khác cùng loại”. Tên nước thuộc loại này, nghĩa là từ hoặc nhóm từ chỉ một đất nước để phân biệt với các nước còn lại.


Nếu như cái tên người, thường người đó không được chủ động đặt tên và cái tên được đặt khi còn nhỏ, với mong muốn của bố mẹ, của người lớn cho đứa bé những điều tốt đẹp. Thế nên, khi lớn lên nhỡ có không đẹp, không tốt như cái tên, thì cũng đành chấp nhận. Chẳng hạn, có thể đặt tên Bạch Tuyết cho một cô gái mà khi lớn lên thì da đen nhẻm. Hoặc đặt tên Dũng cho một cậu bé mà khi lớn lên lại nói lời trước, nuốt lời sau, chẳng thấy dũng chút nào. Có người mang tên là Minh Triết mà chẳng thấy “minh” cũng không thấy “triết” ở đâu, thậm chí cứ mở mồm là làm trò cười cho thiên hạ. Có sao đâu, thay đổi cái tên người không phải đơn giản và dễ dàng.

Thế nhưng, để phân biệt rõ hơn từng con người cụ thể, người ta thường kèm theo cái tên đó chức danh, nghề nghiệp hoặc đặc điểm cá nhân. Chẳng hạn, Giáo sư Ngô Bảo Châu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, rồi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Dũng Râu lẩu dê, Hoàn Béo bia hơi, Chó Chị Dậu, Minh Râu Lẩu Dê…

Và tên nước cũng tương tự. Thông thường tên nước được đặt bằng một cụm từ nào đó để chỉ chế độ chính trị, xã hội của đất nước đó kèm với cái tên gốc ít thay đổi. Do chế độ chính trị xã hội có thể thay đổi, nên tên nước rất có thể đổi thay theo từng thời kỳ phát triển khác nhau. Chẳng hạn, Vương quốc Campuchia đã thay đổi tên nước ba lần trong vòng có 14 năm. Từ Cộng hòa Nhân Dân Campuchia, rồi Nhà nước Campuchia và bây giờ là Vương quốc Campuchia.

Thế nên, việc thay đổi tên nước, thường người ta phải căn cứ vào chế độ chính trị và bản chất xã hội cụ thể của đất nước đó tại thời kỳ đó. Việt Nam, cũng từ cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi thành Cộng Hòa XHCN Việt Nam. Nghĩa là nước Việt Nam với chế độ Cộng hòa XHCN.


Cụm từ Dân chủ, Cộng hòa là thông thường, phổ thông, có thể ở những mức, những trình độ khác nhau nhưng còn có thể hình dung ra để mà đặt tên. Riêng cái Xã hội Chủ nghĩa là một trạng thái hết sức mơ hồ và ảo tưởng. Ảo tưởng đến mức, gần cả hai phần ba thế kỷ, người dân Việt Nam được phát động đủ mọi cuộc cách mạng XHCN, phong trào XHCN, xây dựng con người XHCN, tự hào với chế độ XHCN… Thậm chí ngay cả người dân còn buộc phải “Yêu nước là yêu CNXH”, chùa chiền còn xác định là “Đạo pháp – Dân tộc – CNXH” hẳn hoi. Thế mà đến khi hỏi cái CNXH nó là gì, mặt mũi nó ra sao? Ngay cả ông trùm cộng sản là Tổng bí thư cũng đều tá hỏa tam tinh thú nhận là không biết nó thế nào, mà chỉ là “sẽ dần dần sáng tỏ”. Sáng tỏ đâu chẳng thấy, chỉ thấy càng ngày người ta càng sáng ra rằng đó là cái tranh vẽ thật đẹp, càng ngày mưa gió càng bóc đi những mảng sơn phết lên đó lòi ra sự ảo tưởng và vô vọng, không có thật.

Thế thì, khi gắn tên nước với một trạng thái không có thật, ảo tưởng vô vọng, người ta nghĩ gì và giải thích ra sao? Các nhà “ný nuận” và lập pháp ra sức bảo vệ cái không ai không thấy là vô lý đó một cách rất hài hước nhưng rất quyết liệt. Hài nhất là những lý luận, nghe rất cùn và rất… ngây thơ. Họ không hề sợ tiết lộ bí mật quốc gia là trình độ cùn của các ông nghị nhà ta hết sức cao vời.

Tôi lại nhớ câu chuyện cách đây 4 năm. Một sĩ quan An ninh khá cao cấp mời tôi đến một quán café khi để tranh luận một số vấn đề nhằm khai hóa cho tôi. Câu chuyện khá dài và nhiều chi tiết, trong đó có một chi tiết như sau:
Tôi nói: - Ngay cả cái tên nước là Cộng hòa XHCN là sự mạo danh, không chính đáng, ở ta đã là CNXH hay chưa?

- Bây giờ VN chưa phải là CNXH, nhưng sẽ tiến đến CNXH, đó là mục tiêu sẽ hướng đến nên đặt tên nước ghi như vậy là đúng chứ sao lại sai.

- Nếu bây giờ một cậu bé phấn đấu để sau này làm Thủ tướng, mục đích của nó rất rõ ràng nhưng nó đang là học sinh, vậy nó có thể in danh thiếp là “Thủ tướng nước Việt Nam Trần Văn Quai” để giao dịch với mọi người được không? 

- Như thế thì không được, anh đang là học sinh, là công nhân hay nông dân thì chỉ ghi đúng như vậy thôi chứ, chắc gì anh ta đã làm được thủ tướng.

- Nhưng mục đích, mục tiêu của nó là sẽ làm thủ tướng, cũng như Việt Nam có mục tiêu là CNXH, sao nước ta chưa đến CNXH lại ghi là CNXH được mà nó lại không được ghi danh thiếp là Thủ tướng? Thôi, cứ cho là có thể nó không được làm thủ tướng đi, vì nó khó, nhưng chắc chắn nó sẽ làm được điều này, là nó sẽ chết. Vậy danh thiếp nó có thể ghi là “Hồn ma Trần Văn Quai” để đi giao dịch được không?

Anh ta bối rồi rồi im lặng.

Ngụy biện… cùn của các ông nghị

Hôm nay, nghe các đại biểu của dân lại tiếp tục giọng điệu như anh sĩ quan an ninh kia cho nhân dân cả nước, nghe mà oải.

Ông Phan Trung Lý trình bày trước Quốc hội rằng thì là “việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm tiếp tục khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng và phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm tính ổn định, tránh việc phải thay đổi về quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên các văn bản, giấy tờ. Hơn nữa, trải qua 37 năm, tên gọi này đã trở nên quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế”. Còn Thượng tướng Lê Hữu Đức, ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền, Đặng Đình Luyến, Lê Đắc Lâm, Nguyễn Xuân Tỷ, Huỳnh Văn Tí… cũng dứt khoát quan điểm: “Không đổi tên nước”. Bởi một mặt người dân, tổ chức quốc tế, bạn bè thế giới đã quá quen thuộc với quốc hiệu nước ta; hàng triệu, hàng triệu người dân với biết bao thế hệ đã và đang tự hào với tên nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mặt khác, nếu đổi tên nước như một số đề xuất thì vô cùng lãng phí, tốn kém mà không mang lại ích lợi gì cho nhân dân”.

Nghe những cách giải thích này, người ta có cảm giác họ đang coi nhân dân Việt Nam như đàn bò, bảo sao nghe vậy, chỉ đằng nào thì đi đằng đó?

Nếu các ông nghị cho rằng cái tên nước hiện nay “người dân, tổ chức quốc tế, bạn bè thế giới đã quá quen thuộc với quốc hiệu nước ta; hàng triệu, hàng triệu người dân với biết bao thế hệ đã và đang tự hào với tên nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thì tự các ông ấy đã vả vào mồm “đảng ta” đã chủ trương thay đổi tên nước từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành CHXHCNVN vào năm 1976. Chỉ vì cái tên đó còn nổi tiếng hơn bây giờ là cái chắc. Khi đó Việt Nam vừa mới “đánh thắng hai đế quốc to” vừa mới “lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu”, đến mức “người nước ngoài mơ rằng “sau một đêm ngủ dậy được trở thành người Việt Nam”… chứ đâu phải như bây giờ nghe nói đến Việt Nam chỉ nghe nói đến nghèo đói, tham nhũng và suy thoái, tệ nạn.

Nếu các ông nghị cho rằng “nếu đổi tên nước như một số đề xuất thì vô cùng lãng phí, tốn kém mà không mang lại ích lợi gì cho nhân dân”.

Vậy thì sao các ông không nói thật to, thật rõ cho dân nhờ khi Quốc hội giơ tay để biểu quyết mở rộng Thủ đô.

Sao các ông không gào lên thật lớn khi nhà nước chi hàng ngàn tỷ đồng vào Đại lễ Ngàn năm Thăng Long mà đến giờ chưa ai biết con số tổng kết là bao nhiêu, chỉ biết là rất lớn? 

Sao các ông không kêu to lên, khi đảng ta chủ trương đập phá cả Hội trường Ba Đình mặc dù đã có nhiều tiếng nói can ngăn mà mấy ông nghị vẫn câm như hến?

Việc đổi tên nước có tốn kém bằng “Chủ trương lớn của Đảng” ở Bauxite Tây Nguyên hoặc Dung Quất hay không? Sao các ông nghị sợ tốn kém tiền dân khi đó trốn đâu mất dạng mà không lên tiếng ngăn cản?

Thực ra, tất cả chỉ là ngụy biện, một sự ngụy biện trơ trẽn và rất… cùn. Thưa các ông nghị.

Tôi không khâm phục lý luận của các vị “đại biểu nhân dân”. Nhưng tôi khâm phục sự cùn và trơ trẽn, nói không hề biết ngượng đó của quý vị.

Thực chất

Thực ra, điều cốt yếu để cuối cùng, ván bài sửa hiến pháp lại trở về “cái máng lợn ăn sứt mẻ” chính là chỗ này: “tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đúng. Song việc chọn tên nước là vấn đề nhạy cảm, trong đó quan trọng nhất là phải tránh sự xuyên tạc. Vì thế cần giữ nguyên tên nước là CHXHCN Việt Nam". - Cao Sỹ Kiêm, Đại biểu Thái Bình.

Có một điều mà gần dây đảng và nhà nước hay lo sợ bị xuyên tạc, song ai xuyên tạc nổi nếu có chính nghĩa trong tay? Câu của cổ nhân dạy rằng “cây ngay không sợ chết đứng” là vậy, chưa chi đã sợ chết đứng, chỉ vì tự biết mình không ngay mà thôi.

Thực ra, vở kịch sửa đổi Hiến pháp vừa qua, có mục đích mà nhà báo Huy Đức đã nhìn ra và đặt câu hỏi từ rất sớm là “Sửa Hiến pháp hay xây lô cốt”? Có xây xong cái lô cốt Chủ nghiã Xã hội, thì đó mới là thành trì cho thể chế “Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện”. Nếu không có mô hình quái gở đó, lấy đâu mô hình cho việc một đảng tự nhiên nhảy lên đứng trên đầu, trên cổ dân tộc để tự khẳng định mình là quang vinh, là trong sạch vững mạnh và chỉ có mình mới được lãnh đạo đất nước, dân tộc này, chỉ có mình mới đủ khả năng và tài đức lãnh đạo, dù trong đó có cả bầy sâu.

Nhưng, lòng dân thay đổi, người dân biết mở miệng, khi đó vở kịch có nguy cơ bị cháy.

Khi vở kịch đã có nguy cơ bị cháy, người ta cố bằng mọi cách đẩy nó về “cái máng lợn ăn sứt mẻ”.

Điều đó cũng không có gì lạ. Nhưng ai mà đoán biết, cái lô cốt đó tồn tại được bao lâu nữa?

Ngày 28/5/2013
J.B Nguyễn Hữu Vinh

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Nguyễn Hưng Quốc - ‘Khựa’ và ‘Đi chết đi’

Nguyễn Hưng Quốc


Hai biểu ngữ được viết bằng máu trên tấm vải trắng:
“Đi chết đi ĐCS VN bán nước” và “Tàu khựa cút khỏi Biển Đông” (ảnh: Danlambao) 

Nguyễn Phương Uyên bị kết án sáu năm tù giam và ba năm quản chế chỉ vì “tội” tuyên truyền chống lại Trung Quốc và nhà nước Việt Nam. Bằng chứng là một số truyền đơn, và quan trọng nhất, hai biểu ngữ được viết bằng máu trên tấm vải trắng có nội dung như sau:

“Đi chết đi ĐCS VN bán nước”
“Tàu khựa cút khỏi Biển Đông”

Với câu trên, Phương Uyên bị buộc tội “phỉ báng đảng Cộng sản Việt Nam”; với câu dưới, nói những điều “không hay về Trung Quốc”.

Nhìn hai tấm biểu ngữ, được treo trên một hàng rào ở một nơi nào đó, ngay sau lưng Phương Uyên, tôi cứ băn khoăn. Cả hai đều khá lớn; mỗi chiều ít nhất cũng 60-70cm. Nét chữ cũng lớn. Để viết được chừng ấy chữ với kích thước như vậy, cần một lượng máu (dù pha nước đi nữa) khá nhiều. Không thể là máu của chỉ một mình em được. Thế nhưng cách diễn đạt trong hai biểu ngữ ấy lại có vẻ như được trào ra một cách tự phát và đầy cảm tính, của một người không quen sử dụng ngôn ngữ một cách chuyên nghiệp, dù trong lãnh vực tuyên truyền. Kiểu nói “Đi chết đi”, vốn xa lạ với mọi loại văn viết, chỉ thường được nghe trong các lời chửa rủa, có khi là vợ chửi chồng, chồng chửi vợ hoặc cha mẹ chửi con cái. Đó là một lời xua đuổi. Người ta chỉ xua đuổi cái gần mình, vốn gắn liền với mình. Không ai xua đuổi một người lạ hay ở xa. Bởi vậy, lời chửi rủa ấy thường được dùng trong phạm vi gia đình hơn là ngoài xã hội. Cũng bởi vậy, gần đây, nó được dùng như một câu nói có tính chất hài hước, trong các câu chuyện phiếm, thậm chí thành đề tài của hài kịch (do Hoài Linh đóng).

Với câu biểu ngữ “Đi chết đi ĐCS VN bán nước”, Phương Uyên và các bạn của em không hề có ý chống hay tiêu diệt đảng Cộng sản. Họ chỉ muốn nó biến đi cho khuất mắt. Họ đã chán nó đến tận cùng. Chán vì cái khúc “bán nước” ở cuối.

Câu “Tàu khựa cút khỏi Biển Đông” cũng vậy. Nó chả có gì không hay về Trung Quốc cả. Nó chỉ ghi nhận một thực tế: Trung Quốc đang chiếm cứ Biển Đông. Phương Uyên và các bạn chỉ muốn xua đuổi chúng đi.

Hay nhất trong câu ấy là chữ “Tàu khựa”.

Chắc chắn chữ “khựa” là một từ mới, chỉ xuất hiện trong vài năm gần đây. Trước, chưa hề có. Tôi cũng không hiểu ai đã đặt ra từ ấy và nó có ý nghĩa gì. Vào Google, thấy có nhiều người bàn, nhưng không ai đưa ra được một lời giải đáp nào có sức thuyết phục cả. Về phương diện ngữ nghĩa, “khựa” chưa hề có lịch sử hay tiền sử trong tiếng Việt. Về phương diện ngữ âm, nó gần với hai từ: “khứa”, chỉ một gã nào đó với hàm ý khinh thị (khứa lão) và “bựa”, một tính từ chỉ sự nhếch nhác và thiếu tư cách. Từ “khựa”, bất kể xuất phát từ đâu, đều có âm vang xấu từ hai từ ấy. Hơn nữa, theo Nguyễn Tuân, phần lớn những từ có phụ âm “KH” đều “nhắc đến gọi đến những vật những việc những trạng thái không được vừa mắt, vừa mũi, vừa tai, không được vừa lòng; nó khiến người ta trông thấy nghe thấy, rờ phải ngửi phải nếm phải, đều phải thấy không đẹp lòng, phải thấy khó chịu, đều phải phản đối bằng… một số từ mở ra bởi phụ âm kép KH rất chi là chối cho những cặp tai sành thẩm âm. Có thể nói như thế này được không: những phụ âm kép KH đó báo cáo những cái không hay…” (Chuyện nghề, nxb Tác Phẩm Mới, Hà Nội, 1986, tr. 143-7).

Nguyễn Tuân nêu nhận xét trên trong một bài viết từ năm 1972. Lúc ấy, Nguyễn Tuân chưa hề biết đến chữ “khựa”. Bây giờ đọc lại những nhận xét của ông, chúng ta thấy tất cả đều đúng. Và đúng nhất khi ứng dụng vào chữ “khựa”: Chúng ta không biết nghĩa nó là gì, nhưng nghe cái âm vang nó gợi ra, chúng ta đều cảm thấy khó chịu, hơn nữa, kinh tởm. Nó gợi liên tưởng đến những khai, những khẳm, những khẳn, những khét, những khú, những khạc, những khò khè, khù khờ, khừ khừ, khùng khùng, khô khốc, khấp khểnh, khệnh khạng, những khèng khẹc, những khắt khe, những khốn khổ, những khủng khiếp…

Ngày xưa, trong văn hóa chính thống, hình như lúc nào người Việt cũng phục Tàu, xem Tàu như mẫu mực để học tập và mô phỏng. Cha ông chúng ta học chữ Tàu, học lịch sử, triết học và văn chương Tàu. Từ lễ nghi trong triều đình đến tập tục trong xã hội đều cố gắng làm cho giống Tàu. Lâu lâu, họa hoằn mới có những chủ trương “đánh để dài tóc”, “đánh để đen răng” như thời Quang Trung. Nhưng đánh thắng Tàu rồi thì đến trường, vào lớp, vẫn phải ngoác mồm ra ra rả đọc mấy câu mật ngữ “Tử viết” hết năm này đến năm khác.

Trong văn hóa dân gian, đặc biệt, trong ngôn ngữ thì khác, có vẻ như người Việt không tôn trọng Tàu mấy. Họ thờ Khổng Tử, Lão Tử cũng như các cao đồ của hai ông; nhưng với con cháu của hai ông, những người đương thời, thì họ vẫn gọi là “chú”: “Chú ba Tàu” hay “Chú Chệc”. “Chú” có thể là vai em của ba; nhưng “chú” cũng có thể là vai em của mình: “chú em”. Không biết người Việt dùng theo nghĩa nào, nhưng có điều chắc chắn, những cách gọi ấy, thân mật thì có thân mật, còn tôn trọng thì không. Năm 1945, lính Tưởng Giới Thạch, dưới quyền của Lư Hán, vào miền Bắc để giải giới quân Nhật, được/bị dân chúng gọi là “Tàu phù”. Phù tức là phù thũng, một chứng bệnh phổ biến của lính Tàu lúc ấy. Cách gọi như thế, đầy tính chất mỉa mai, thể hiện sự rẻ rúng của người Việt. Nhưng bây giờ, với chữ “Tàu khựa”, nó không còn là mỉa mai hay rẻ rúng nữa: Nó biến thành một sự ghê tởm và khinh bỉ.

Có thể nói, chưa bao giờ người Việt lại ghét Tàu và khinh Tàu đến như vậy.

Dĩ nhiên, cần lưu ý, khái niệm Tàu ở đây không đồng nghĩa với người Hoa. Có lẽ người Việt chưa đến mức kỳ thị người Hoa. Tàu khựa chỉ là bọn Tàu cầm quyền. Chứ không phải là người Tàu nói chung. Phương Uyên cũng như các bạn của em và phần lớn người Việt có lẽ không có ý định xua đuổi người Hoa ra khỏi Việt Nam như chính quyền Việt Nam đã từng xua đuổi Hoa kiều ra khỏi Việt Nam vào những năm 1978-79. Các em chỉ đòi bọn “Tàu khựa cút ra khỏi Biển Đông”. Vậy thôi.

Các công tố viên ở Long An buộc Phương Uyên tội nói những điều “không hay về Trung Quốc”. Cái gọi là “không hay” ấy nằm ở đâu trong câu biểu ngữ “Tàu khựa cút khỏi Biển Đông”? Có lẽ không phải ở nhóm động từ “cút khỏi Biển Đông”. Bởi đó chỉ là sự kiện. Cái “không hay” có lẽ nằm ở danh từ “Tàu khựa”: Nó thể hiện sự khinh bỉ.

Với chính quyền Việt Nam, chữ “khựa” là một chữ húy. Ngay cả chữ “Tàu” cũng là một chữ húy. Tàu Trung Quốc (hay tàu của Tàu, theo cách gọi dân gian) đánh chìm tàu đánh cá Việt Nam hay bắt bớ hoặc giết chết ngư dân Việt Nam thì được gọi là “tàu lạ”.

Với chữ “Tàu”, còn thế, huống gì là “Tàu khựa”.

Tuy nhiên, điều thú vị là khi vào Google, tìm chữ “khựa”, tôi mới phát hiện ra, một số cây bút Việt Nam thỉnh thoảng cũng chơi trò du kích, đánh lén Tàu khựa trên cả báo chí chính thống.

Tôi bắt gặp hai lần như thế. 

 Một lần, trong một chuyện có nhan đề “Sự lên gân của Khựa” đăng trên báo Pháp Luật ngày 1/6/2011. Chuyện kể: Khựa là hàng xóm của Hai Lúa. Khựa hay qua ao nhà Hai Lúa trộm cá. Lúc đầu, ăn trộm, sau, nó cấm cả nhà Hai Lúa bắt cá ở ao nhà của họ. Tức quá, Hai Lúa chửi um lên. Khựa có thấy nhục không? Không. Tác giả, Người Sành Điệu, viết: “Khựa đâu cần quan tâm mấy lời chửi đó. Tổ tông nhà Khựa bao đời nay vốn vậy nên máu mủ trong người Khựa cũng vậy. Nghe đâu Khựa còn tự đắc là mình ngày càng đa mưu túc trí.”

Một lần khác, trong bài “Ba Khựa và món giỗ cha” của Thái Sinh trên báo Nông Nghiệp Thứ Sáu 14/12/2012. Đó là một câu chuyện phiếm có hai nhân vật chính: Thảo Dân và Ba Khựa. Hai người là láng giềng của nhau. Ba Khựa, làm nghề đồ tể, chuyên câu trộm cá ở ao nhà Thảo Dân. Thảo Dân trách, nó cứ chối. Một hôm, Ba Khựa mời Thảo Dân sang nhà ăn giỗ. Trong đám đồ cúng trên bàn thờ có một cái lưỡi bò bên cạnh một con dao nhọn buộc chỉ đỏ. Ngày hôm sau, Ba Khựa phát hiện cái lưỡi bò bị mèo tha mất nên tức giận quát tháo om sòm. Kết thúc câu chuyện có ý nghĩa: Mèo, thật ra, là Mẽo. Và Mẽo là Mỹ. Ý của tác giả rất rõ: Chỉ có Mỹ mới cắt được con đường lưỡi bò!

Như vậy, đâu phải chỉ có Nguyễn Phương Uyên và các bạn của em đòi đuổi đám Tàu khựa ra khỏi Biển Đông?

Buộc tội cho em như thế là oan.

Hơn nữa, còn làm cho chữ “Tàu khựa” đi vào lịch sử.

Tony Judt - “Mày giả vờ làm việc, tao giả vờ trả lương!”


Tony Judt
Phan Trinh dịch


Giới thiệu của người dịch:
Đây là đoạn cuối Chương 18 cuốn Post War của Tony Judt. Sau khi bàn về trí thức Tây Âu và Đông Âu, tác giả nói về nền kinh tế bế tắc và vờ vịt tại Đông Âu, bối cảnh của những biến động chính trị và xã hội dẫn đến cách mạng 1989 lật đổ cộng sản.


Nếu nghịch lý là gốc của cái hài thì nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có thể được xem như một vở kịch khôi hài đen, dù đỏ ngầu. Trong những vở đỏ đen nhiều tập kia, Tony Judt nhắc đến hai quái tật chết người của chế độ, ở Đông Âu trước đây, và cũng không khó thấy ở cả Việt Nam lâu nay, có thể tóm tắt nôm na như sau:
1. Lỗ vẫn làm: Thay vì kinh tế định đoạt chính trị như người cộng sản vẫn nói, chính trị cộng sản lại xúi bậy kinh tế. Kinh tế không xuất phát từ nhu cầu người tiêu dùng mà từ ý chí chủ quan của bề trên. Trên bảo sao dưới nghe vậy, làm khác là mất việc, phản biện thì phớt lờ, phản đối thì bỏ tù. Hậu quả là lỗ vẫn làm. Ở Việt Nam, những vụ như Boxit, Vinashin, rừng phòng hộ, điện hạt nhân, đường sắt cao tốc, 16 chữ… là những ví dụ của lỗ vẫn làm, càng làm càng lỗ, hoặc thấy lỗ mà/là cứ đâm đầu vào. Không chỉ lỗ tiền, còn lỗ cả mạng người, môi trường, lãnh thổ, cả sinh mạng Đảng.

2. Sai không sửa: Tất cả những thất bại, vờ vịt của nền kinh tế kia Đảng biết cả nhưng vẫn im lặng, như một nấm mồ. Đảng không dám phẫu thuật, chỉ dám dùng thuốc giảm đau tại chỗ. Thực ra, khi kinh tế đã đan xen vào chính trị thành một “khối thống nhất” thì đứt dây động rừng, sửa sẽ sụp. Học thuật thì nói như Tony Judt: Giữa hai cái xấu, Đảng chọn cái xấu ít hơn. Huỵch toẹt thì cũng có thể nói rằng: Đảng rất hiểu cố đấm ăn xôi là xấu, nhưng vẫn đỡ xấu hơn, đỡ đau hơn và khó chết hơn là thực tâm thay đổi. (Chẳng lạ, bao nhiêu kiến nghị, phản biện, góp ý của trí thức Đảng cứ giả vờ như không có. Hóa ra, những kiến nghị kia không đánh thức được Đảng mà đánh thức xã hội dân sự.) Nhưng, cũng như ung thư không chữa, Đảng đang sống ở giai đoạn cuối, Judt gọi là mượn thời gian để sống, được ngày nào hay ngày ấy, dân gian gọi là chờ chết.


Tiến là thoái

Đề tài mà các trí thức phản kháng ít bàn tới chính là kinh tế. Điều này cũng là một phản ứng thực tế. Kể từ thời Stalin thì tăng trưởng kinh tế, hay đúng hơn là tăng trưởng công nghiệp, vừa được xem như mục tiêu vừa được xem như thước đo mức thành công của chủ nghĩa xã hội. Kinh tế, như trình bày trong Chương 13 cuốn sách này, là ưu tiên hàng đầu của thế hệ trí thức cải cách thời kỳ đầu: nó phản ánh nỗi ám ảnh của chế độ cộng sản và một quan điểm, được cả người theo lẫn không theo chủ nghĩa Marx đồng tình, rằng mọi động thái chính trị chung quy cũng chỉ là vì kinh tế mà thôi. Vì vậy, có thể nói trong giai đoạn 1956-1968 lúc Đông Âu loay hoay tìm cách tự cải tổ, phản biện để cải cách kinh tế chính là hình thức đối lập tốt nhất có thể có, dù là đối lập trong vòng “lễ giáo”.

Nhưng đến giữa thập niên 1970, những người thông thạo tình hình đã không còn dám hy vọng nền kinh tế khối Xô-viết có thể tự cải tổ từ bên trong, và lý do không chỉ vì lý thuyết kinh tế Mác-xít đã sụp đổ sau nhiều thập niên bị lạm dụng tàn tệ, mà còn vì nguyên nhân khác. Từ năm 1973, nền kinh tế các nước Đông Âu thụt lùi rất xa so với Tây Âu, không bằng cả mức tăng trưởng chậm lúc suy thoái của Tây Âu. Ngoại trừ Liên Xô có nhiều mỏ dầu mang lại ngoại tệ, nhất là khi dầu tăng giá, thì nạn lạm phát trên thế giới vào thập niên 1970 và việc “toàn cầu hóa” thương mại và dịch vụ vào thập niên 1980 ở phương Tây đã đẩy nền kinh tế các nước khối Xô-viết vào thế bất lợi không thể khắc phục. Nếu vào năm 1963 hoạt động ngoại thương của các nước Khối Comecon (Đông Âu) đạt mức 12% tổng lượng ngoại thương toàn cầu, thì đến năm 1979 con số này lại rớt xuống chỉ còn 9% và còn nhanh chóng sụt giảm hơn nữa.[i]

Các nước khối Xô-viết không thể cạnh tranh về chất lượng với các nền kinh tế phương Tây. Cũng không nước nào, ngoại trừ Liên Xô, có nguồn nguyên liệu thô ổn định để bán cho phương Tây, vì vậy, họ không thể cạnh tranh cả với những nước kém phát triển nhưng giàu tài nguyên trên thế giới. Tính khép kín của khối Comecom còn khiến các nước này không thể tham gia những mạng lưới thương mại mới hình thành của Tây Âu, hoặc tham gia Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Họ cũng không thể điều chỉnh nền kinh tế cho phù hợp với giá cả thị trường thế giới mà không làm người tiêu dùng trong nước phải nổi đóa (như đã xảy ra tại Ba Lan năm 1976).

Ý thức hệ xúi dại

Khuyết điểm làm lụn bại các nền kinh tế cộng sản lúc này chính là sự bất lực thâm căn do ý thức hệ xui khiến mà ra. Vì duy ý chí, quyết liệt tập trung sản xuất sản phẩm công nghiệp cơ bản nhằm đáp ứng công cuộc “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, khối Xô-viết đã bỏ lỡ chuyến tầu đưa nền kinh tế từ sản xuất hàng loạt qua sản xuất chuyên sâu giá trị cao, vốn đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo các nền kinh tế phương Tây vào thập niên 1960 và 1970. Họ cố bám vào mô hình kinh tế đã quá cũ kỹ, nhìn là nhớ đến Detroit hoặc Ruhr vào thập niên 1920, hoặc thậm chí cả Manchester cuối thế kỷ 19.

Vì vậy Tiệp Khắc, nước có rất ít quặng sắt, vào năm 1981 vẫn phải trở thành quốc gia đứng thứ ba thế giới (tính theo đầu người) về xuất khẩu thép. Đắng hơn nữa là Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) lúc đó cũng đang lên kế hoạch sản xuất lớn những sản phẩm công nghiệp nặng đã hoàn toàn lỗi thời. Chẳng khách hàng đủ tỉnh táo nào lại muốn đi mua thép Tiệp Khắc hoặc máy móc Đông Đức, trừ khi được trợ giá cực rẻ, nên rút cuộc các sản phẩm này càng sản xuất, càng bán, càng lỗ vốn. Hậu quả là các nền kinh tế kiểu Xô-viết thay vì tạo ra giá trị thặng dư, lại tạo ra giá trị âm trừ. Thật vậy, nguyên liệu thô mà họ nhập khẩu hoặc khai thác từ lòng đất có giá trị còn cao hơn thành phẩm được làm từ nguyên liệu thô.

Ngay cả trong các lĩnh vực có ưu thế cạnh tranh, cách làm kinh tế kiểu Xô-viết cũng gây thiệt hại lớn. Trong khi Hungary được Comecon chọn là nơi sản xuất xe tải và xe buýt, Đông Đức vào thập niên 1980 được phân công sản xuất máy vi tính. Nhưng, khôi hài không chỉ ở chỗ máy vi tính do Đông Đức sản xuất không đáng tin cậy và cổ lỗ sĩ về chất lượng, hệ thống kinh tế tập trung còn khiến họ không thể sản xuất đủ số lượng. Trong năm 1989, Đông Đức (dân số 16 triệu) chỉ sản xuất được số máy vi tính bằng 1/5 số máy sản xuất tại Áo (dân số 7,5 triệu), trong khi Áo cũng chỉ là một đối thủ hạng ruồi trên thị trường sản xuất máy vi tính quốc tế. “Ưu thế cạnh tranh” ở đây rất tương đối: Đông Đức chi hàng triệu Đức-mã cho việc sản xuất những sản phẩm chẳng ai muốn dùng, trong khi thị trường thế giới đang có những sản phẩm tương tự với chất lượng tốt hơn và giá rẻ hơn.

Vâng ý trên

Thủ phạm gây ra tất cả những yếu kém này chính là quy hoạch tập trung, vốn chứa đầy khuyết tật bẩm sinh. Cuối thập niên 1970, Gosplan (Ủy ban Kế hoạch Nhà nước), cơ quan hoạch định kinh tế trung ương của Liên Xô, có đến 40 ban ngành kinh tế khác nhau và 27 ủy hội kinh tế hoạt động riêng biệt. Các quan chức đã bị con ngáo ộp chỉ tiêu ám ảnh nặng đến nỗi họ luống cuống đưa đại ra những chính sách nghe là cười. Giáo sư Timothy Garton Ash, chuyên nghiên cứu Đông Âu, nhắc đến chuyện khôi hài này tại Đông Đức: Trong “Kế hoạch Kinh tế Nhân dân Quận Prenzlauer Berg”, khi nói về chỉ tiêu trong việc cải tổ thư viện, người ta đã hồ hởi quy hoạch rằng “Số lượng sách lưu trữ trong các thư viện phải tăng lên từ 350.000 đến 450.000 quyển, và số lượt mượn sách phải tăng lên 108,2%”.[ii]

Hệ thống giá cả cố định cũng khiến không thể xác định được đâu là giá đúng, đâu là mức cầu, đâu là chỗ cần điều chỉnh khi tài nguyên thiếu hụt. Quản lý các cấp đều sợ rủi ro, sợ sáng tạo vì sợ không đạt chỉ tiêu trước mắt. Thực ra, họ cũng chẳng có động lực nào để làm khác đi: họ biết dù bất lực đến đâu, họ vẫn sẽ ngồi ở vị trí đang có, nhờ chủ trương nổi tiếng “ổn định cán bộ” (áp dụng từ 1971 về sau) được Brezhnev rất ưa thích. Trong khi đó, để đảm bảo chỉ tiêu bề trên định sẵn, các đốc công và giám đốc nhà máy sẵn sàng che giấu thông tin về vật liệu và lao động dự trữ trước mắt chính quyền. Phí phạm và khan hiếm, tưởng như đối nghịch, đã trở thành một cặp bài trùng dung dưỡng nhau.

Nịnh hót lên ngôi

Một hệ thống như thế rõ ràng không chỉ khuyến khích sự trì trệ, yếu kém, mà còn thúc đẩy một vòng quay tham nhũng liên hoàn không thể ngừng. Đây là một trong những nghịch lý của chủ nghĩa xã hội khi cho rằng chỉ có tư sản mới nhiều tham nhũng. Quyền lực, chức vụ và đặc quyền đặc lợi tuy không thể mua bán trực tiếp nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào mối quan hệ trao đổi qua lại giữa chủ và khách. Quyền hạn do luật pháp quy định bị gạt qua một bên, thay vào đó là sự nịnh hót, và kẻ nịnh hót lại được tưởng thưởng bằng công việc ổn định và cơ hội tiến thân. Chỉ để có được những thứ bình thường và hợp pháp như thuốc men trị bệnh, nhu yếu phẩm, quyền đi học, người dân cũng buộc phải bẻ cong luật pháp bằng hàng loạt chiêu trò, tuy nhỏ nhặt nhưng rất xúc phạm nhân cách.

Hậu quả là cách ứng xử vừa bất tín vừa bất cần gần như trở thành chuẩn mực trong những năm này. Một ví dụ tiêu biểu: Các xí nghiệp sản xuất máy kéo hoặc xe tải đã không quan tâm sản xuất cho đủ phụ tùng, đơn giản vì họ có thể nhanh chóng đạt chỉ tiêu khi sản xuất các cỗ xe to lớn kia hơn. Bi kịch là khi những cỗ xe này hư hỏng thì không tìm đâu ra phụ tùng thay thế. Những con số chính thức được công bố chỉ nêu ra tổng số máy móc các loại được sản xuất trong một lĩnh vực nhất định, chứ không chú ý đến chuyện còn bao nhiêu máy móc chạy được. Thông tin trên giấy thì mập mờ, chỉ hỏi công nhân mới biết thật mọi chuyện.

Làm giả, lương giả, chợ giả

Thay cho những khế ước xã hội đường hoàng, ở đây lại là sự đồng lõa xã hội xã hội chủ nghĩa, và tình trạng này được diễn tả qua câu châm biếm cay độc: “Mày giả vờ làm việc, tao giả vờ trả lương”. Nhiều công nhân, nhất là lao động chân tay, cũng có lợi trong tình trạng này, vì họ được hưởng những khoản an sinh xã hội trong khi chẳng cần làm việc bao nhiêu. Cuốn Tự điển Chính trị Bỏ túi của Đông Đức đã mô tả tình trạng vừa kể một cách vô tình nhưng thật mỉa mai qua câu sau đây: “Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sự khác biệt giữa giờ làm việc và giờ rảnh rỗi, vốn gay gắt trong xã hội tư bản, không còn nữa.”

Hai lãnh vực duy nhất tương đối có hiệu quả, trong một nền kinh tế cộng sản tiêu biểu, tính đến năm 1980, là công nghiệp quốc phòng kỹ thuật cao và cái được gọi là “nền kinh tế thứ hai” – tức các loại chợ đen cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Tầm quan trọng của nền kinh tế thứ hai này, tuy không hề và không thể được nhà nước công nhận, là bằng chứng cho thấy tình trạng bi thảm của nền kinh tế chính thức. Tại Hungary, vào đầu thập niên 1980, ước tính có tới 84.000 lao động lành nghề các loại hoạt động thuần túy trong khu vực tư nhân, đáp ứng đến gần 60% tổng nhu cầu về dịch vụ tại địa phương, từ nhu cầu sửa chữa ống nước cho đến nhu cầu mua dâm.

Thêm vào hoạt cảnh vừa kể một bên là việc canh tác nhỏ lẻ trên thửa đất gia đình của nông dân, và một bên là các xí nghiệp tư, hoạt động được nhờ công nhân tuồn nguyên liệu từ xí nghiệp nhà nước (gạch, dây đồng, chữ đúc…) rồi phù phép “chuyển đổi” cho sản xuất riêng, thì có được bức tranh tổng thể về chủ nghĩa cộng sản kiểu Xô-viết – rất gần với chủ nghĩa tư bản Ý – tức là chỉ tồn tại được nhờ nền kinh tế ngoài luồng.[iii] Đây là một mối quan hệ cộng sinh: nhà nước cộng sản chỉ duy trì được sự độc quyền trong khu vực công bằng cách chuyển qua khu vực tư tất cả những hoạt động và nhu cầu mà nhà nước không thể phủ nhận hay đáp ứng; trong khi đó, nền kinh tế ngoài luồng lại lệ thuộc vào khu vực công để có nguyên liệu, và cần hơn nữa chính là nhờ khu vực công bất lực nên khu vực tư mới có một thị trường béo bở, với những giá trị và lợi nhuận thổi phồng.

Ít con, nhiều rượu, chóng chết

Nền kinh tế tù đọng chính là lời nguyền rủa vận vào chủ nghĩa cộng sản vốn cho rằng mình hơn hẳn chủ nghĩa tư bản. Và nếu không là chất xúc tác cho hành vi đối lập, thì nền kinh tế kia cũng là nguồn gốc tạo nên bất mãn. Với hầu hết người dân dưới chế độ cộng sản thời Brezhnev, từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1980, cuộc sống tuy không đậm màu sợ hãi hay đàn áp nhưng lại là những chuỗi ngày xám xịt và buồn tẻ. Các cặp vợ chồng ngày càng sinh ít con hơn, nhưng họ lại rượu chè nhiều hơn – lượng rượu tiêu thụ tính theo đầu người tại Liên Xô tăng bốn lần trong những năm này – và chết sớm hơn. Những khu nhà tập thể trong các xã hội cộng sản không chỉ xấu xí về mỹ thuật, mà còn tồi tệ về chất lượng và gây khó chịu khi sử dụng. Nói cách khác, nhà tập thể nhếch nhác là chiếc bóng của nhà nước toàn trị tồi tệ đã tạo ra nó. Một tài xế taxi ở Budapest có lần vừa chỉ tay về những dãy nhà tập thể cao tầng ẩm thấp, bẩn thỉu, nằm xấu xí ở ngoại ô thành phố, vừa nói với người viết rằng: “Chúng tôi sống ở đó, trong mấy cái nhà đúng kiểu cộng sản kia kìa – hè thì nó nóng, đông thì nó rét.”

Như mọi thứ khác trong khối Xô-viết, nhà tập thể thường có giá rẻ (giá thuê trung bình khoảng 4% thu nhập một gia đình bình thường ở Liên Xô), cũng vì nền kinh tế không do giá cả mà do sự khan hiếm điều phối. Điều này có lợi cho nhà cầm quyền – việc phân phối độc quyền những mặt hàng luôn khan hiếm giúp duy trì sự thúc thủ của quần chúng – nhưng cũng chứa một rủi ro nghiêm trọng mà hầu hết giới lãnh đạo cộng sản đều hiểu rất rõ. Đến cuối thập niên 1960, khi mọi sự đã rành rành là những hứa hẹn về một tương lai “xã hội chủ nghĩa” rạng rỡ không đủ sức dụ dỗ dân chúng trung thành với chế độ nữa, các nhà lãnh đạo cộng sản đã đổi chiều, xem dân chúng như những người tiêu dùng và tìm cách thay thế xã hội không tưởng (xã hội chủ nghĩa) của ngày mai bằng những sung túc vật chất của ngày hôm nay.

Sao cũng được

Đó là chọn lựa rất có tính toán. Vasil Bil’ak, nhân vật bảo thủ có công cõng rắn cắn gà nhà đưa quân Xô-viết xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968, trong lần phát biểu với Ban Tuyên giáo Đảng vào tháng Mười 1970 đã nói rằng: “Lúc đó (năm 1948), ta treo tranh cổ động ở cửa hiệu vẽ vời chủ nghĩa xã hội sẽ đẹp đẽ ra sao và quần chúng cứ thế tin như in. Nhưng đó là cơn lên đồng của một thời xưa rồi. Bây giờ, không thể cứ treo bánh vẽ nói về chủ nghĩa xã hội sau này nữa mà cửa hàng hôm nay phải chứa cho đầy hàng, để ta ghi vào thành tích là ta đang tiến tới chủ nghĩa xã hội, là ta đang có chủ nghĩa xã hội ngay tại đây.”[iv]

Rõ ràng nhà nước đã làm điều ngược ngạo là cố khuyến khích dân chúng xem chủ nghĩa tiêu thụ như thước đo thành công của chủ nghĩa xã hội. Điều này dĩ nhiên khác hẳn với nội dung của “cuộc tranh luận trong bếp” đình đám giữa Tổng Bí thư Liên Xô Khrushchev với Phó Tổng thống Mỹ Nixon vào năm 1959, khi Khrushchev nói với Nixon rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ qua mặt chủ nghĩa tư bản chẳng trong bao lâu nữa. Bil’ak – cũng như Kádár tại Hungary – không ảo tưởng như vị Tổng Bí thư kia. Ông hài lòng chấp nhận chủ nghĩa cộng sản là một bản sao mờ nhạt của chủ nghĩa tư bản, chừng nào có đủ hàng hóa làm người tiêu dùng hài lòng. Erich Honecker tại Đông Đức – lên làm lãnh tụ năm 1971, thay thế Walter Ulbrich, kẻ ra đi không ai thương tiếc – cũng vậy, ông chỉ hứa hẹn mang lại cho dân Đông Đức một phiên bản thu gọn của “phép lạ” kinh tế diễn ra tại Tây Đức vào thập niên 1950.

Phồn vinh giả, mệt thật

Chiến lược này thành công vừa phải trong một thời gian. Mức sống tại Tiệp Khắc, Hungary và Ba Lan được cải thiện trong thập niên 1970, ít nhất là khi đo bằng mức tiêu thụ hàng hóa bán lẻ. Số xe hơi và tivi, hai mặt hàng tiêu dùng tiêu biểu của thời kỳ này, tăng lên đều đặn: tại Ba Lan, số xe hơi tư nhân, tính bình quân đầu người trên toàn dân số, tăng bốn lần từ 1975 đến 1989. Đến cuối thập niên 1980 tại Hungary, trung bình cứ 10 người thì có 4 chiếc tivi; ở Tiệp Khắc cũng có số tương tự. Nếu người mua chấp nhận chất lượng kém, kiểu dáng nghèo nàn và không nhiều chọn lựa, họ có thể tìm được những gì mình muốn, không có ở cửa hàng nhà nước thì ra chợ đen. Tuy nhiên, ở Liên Xô, hàng hóa “ngoài luồng” khó tìm và tương đối đắt đỏ hơn.

Với nhu yếu phẩm, tình trạng cũng vậy. Vào tháng Ba 1989, một người tiêu thụ tiêu biểu ở Washington DC sẽ cần làm việc 12,5 giờ để mua một giỏ hàng nhu yếu phẩm chuẩn (gồm xúc-xích, sữa, trứng, khoai tây, rau củ, trà, bia,…). Một giỏ hàng tương tự sẽ tốn 21,4 giờ làm việc tại London, nhưng lại ngốn tới 42,3 giờ làm việc tại Moscow, mặc dù nhà nước đã trợ giá rất nhiều.[v] Chưa hết, người tiêu thụ ở Liên Xô và Đông Âu còn phải tốn nhiều thời giờ để tìm kiếm, chờ đợi mua thức ăn và những mặt hàng khác. Nếu không đo bằng đồng rúp [Nga], đồng crown [Tiệp Khắc] hay đồng forint [Hungary], mà đo bằng thời gian và công sức, thì có thể thấy đời sống dưới chế độ cộng sản vừa đắt đỏ vừa mệt mỏi.

Việc định nghĩa thành công của chủ nghĩa cộng sản bằng khả năng thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người tiêu dùng cũng không dễ dàng, vì như trình bày ở trên, toàn bộ nền kinh tế đã được cài đặt để sản xuất lớn máy móc công nghiệp và nguyên liệu thô. Ngoại trừ thức ăn, các nền kinh tế cộng sản đã không sản xuất ra được những sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn (ngay sản xuất thức ăn họ cũng không hiệu quả bao nhiêu – Liên Xô từ lâu đã trở thành nước nhập khẩu gạo, đưa tổng số thực phẩm nhập khẩu tăng lên ba lần từ năm 1970 đến 1982). Cách duy nhất vượt qua trở ngại này là nhập khẩu hàng tiêu dùng từ nước ngoài, nhưng phải trả bằng tiền theo giá thị trường. Tiền chỉ có nhờ xuất khẩu, nhưng, ngoại trừ Liên Xô có dầu hỏa, thị trường thế giới chẳng quan tâm gì đến sản phẩm của khối xã hội chủ nghĩa, trừ khi chúng được bán với giá rẻ bèo, nhưng ngay cả khi bán với giá bèo, vẫn có trường hợp không ai mua. Cách thực tế nhất, cách duy nhất để các cửa hiệu có đủ hàng hóa cho người tiêu dùng tại phương Đông là vay tiền từ phương Tây.

Tư sản nuôi vô sản

Phương Tây đương nhiên sẵn sàng ra tay giúp đỡ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới và những ngân hàng tư nhân đều rất vui lòng cho các nước khối Xô-viết vay tiền, vì lý do: Hồng quân Liên Xô là bảo chứng đáng tin cậy cho ổn định lâu dài, thêm vào đó, quan chức cộng sản cũng đã biến hóa các số liệu về năng suất và tài nguyên nghe rất thuyết phục.[vi] Chỉ tính trong thập niên 1970, nợ nước ngoài của Tiệp Khắc đã tăng lên 12 lần. Tại Ba Lan, nợ nước ngoài tăng đến 3000% sau khi Tổng Bí thư Gierek và tay chân cho nhập ào ạt hàng hóa được trợ giá từ phương Tây, cùng lúc thực hiện các chương trình bảo hiểm xã hội mới rất tốn kém dành cho nông dân, và cho kềm giá thực phẩm ở mức giá năm 1965.

Thật khó lòng kiểm soát khi nợ lên đến mức vừa kể. Năm 1976, Gierek cho tăng giá thực phẩm tại Ba Lan thì bạo loạn giận dữ đã nổ ra nhưng lập tức bị dẹp tan, và chế độ đã không còn con đường nào khác ngoài tiếp tục vay mượn: từ năm 1977 đến 1980, 1/3 tiền Ba Lan vay từ nước ngoài được dùng để trợ giá cho hàng tiêu dùng trong nước. Các kinh tế gia cộng sản tại Praha, Tiệp Khắc, cũng khuyến cáo nên bỏ dần bao cấp và chấp nhận giá “thật”, nhưng các lãnh tụ chính trị của họ sợ hậu quả khó lường của biện pháp này nên cũng chỉ chọn cách vay mượn nhiều hơn nữa. Và, tương tự như những năm giữa hai thế chiến, lại một lần nữa các quốc gia nhỏ và dễ vỡ tại Đông Âu phải vay vốn từ phương Tây để vực dậy nền kinh tế tự cấp, và cũng để tránh né những chọn lựa còn khó khăn hơn nhiều.

Ngập nợ

Miklós Németh, thủ tướng cộng sản cuối cùng của Hungary, vài năm sau đó cũng phải công nhận những điều vừa kể. Khoản vay một tỉ Đức-mã từ Bonn, được chấp thuận vào tháng Mười 1987 và được các chính khách Tây Đức mô tả như một đóng góp cho công cuộc “cải cách” kinh tế của Hungary, thực ra đã không được dùng để cải cách kinh tế. Németh công nhận: “chúng tôi dùng 2/3 số tiền này để trả lãi, và phần còn lại dùng để nhập thêm hàng tiêu dùng, cho khủng hoảng kinh tế nhìn bớt xấu xí.” Năm 1986, thâm thủng thương mại của Hungary được nhà nước công bố là 1,4 tỉ đô-la Mỹ mỗi năm. Từ 1971 đến 1980, nợ nước ngoài của Ba Lan đã tăng từ 1 tỉ lên 20,5 tỉ đô-la Mỹ, và sau đó còn lên cao hơn nữa. Chính Đông Đức cũng tự nhận rằng trong những năm cuối cùng của chế độ họ đã dùng trên 60% tiền lãi nhờ suất khẩu hàng năm để trả lãi tiền vay của phương Tây (dù lãi suất đã được phương Tây cắt giảm rất hào phóng). Yugoslavia, một khách hàng thường được chiều chuộng (từ 1950 đến 1964, Mỹ đã bao trả đến 3/5 thâm thủng hàng năm của Belgrade) thì luôn nhận được những khoản cho vay rộng rãi và những cam kết hỗ trợ tức thời, tất cả đều dựa trên những số liệu khống, không có bất cứ liên hệ gì với thực tế.

Gộp chung, nợ nước ngoài của Đông Âu ở mức 6,1 tỉ năm 1971, đã tăng lên 66,1 tỉ vào năm 1980, và lên tới 95,6 tỉ đô-la Mỹ vào năm 1988[vii]. Con số vừa kể không bao gồm số liệu từ Rumani – vì Ceaușescu đã trả hết nợ vay nước ngoài nhờ đè đầu cỡi cổ vắt kiệt dân nước mình trong nhiều năm trời; con số cũng có thể cao hơn nếu Hungary không có những nhượng bộ về giá cả trong thập niên 1970. Nhưng ý nghĩa của tình trạng này thật rõ ràng: hệ thống cộng sản không chỉ vay tiền để sống, mà còn vay mượn cả thời gian. Không sớm thì muộn, chế độ cần phải thực hiện những điều chỉnh kinh tế, tuy sẽ đau đớn và làm xáo trộn xã hội.

Không thể sửa

Nhiều năm sau này, ông Markus Wolf, trùm gián điệp Đông Đức, có thể tự hào rằng vào cuối thập niên 1970, mình là người dám khẳng định Đông Đức đã “hỏng rồi”. Cũng không chỉ mình Wolf thấy điều này. Những nhà kinh tế như Tamás Bauer tại Hungary, và đồng nghiệp Ba Lan Leszek Balcerowicz, cũng rất hiểu tòa nhà cộng sản xây trên cát đang lung lay đến mức nào. Nhưng, chừng nào những nhà tư bản còn bảo kê nó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn tồn tại. “Thời kỳ trì trệ” (nói theo Gorbachev) dưới triều Leonid Brezhnev đã tạo ra rất nhiều ảo tưởng, và không chỉ là trong các nước cộng sản. Năm 1978, khi Báo cáo của Ngân hàng Thế giới khẳng định rằng Đông Đức có mức sống cao hơn cả Anh Quốc, thì có lẽ cả thằng Cuội trên cung trăng cũng phải lăn ra cười sặc sụa.[viii]

Nhưng, những người cộng sản hiểu nhiều điều mà các nhà tài chính ngân hàng phương Tây không tưởng tượng được. Cải cách kinh tế trong khối Xô-viết không phải là bị trì hoãn, mà là không thể được. Như Amalrik dự đoán trong cuốn Liệu Liên Xô có tồn tại đến năm 1984?, giới lãnh đạo cộng sản “thấy chế độ hiện tại tệ hại, nhưng vẫn đỡ tệ hại hơn là phải đau đớn thay đổi nó.” Cải cách kinh tế, dù chỉ là những điều chỉnh cục bộ nhất, mang lại hiệu quả nhỏ nhất, cũng sẽ đứt dây động rừng, có ảnh hưởng chính trị lập tức. Những sắp xếp kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tạo ra những khu vực độc lập mà đan xen chằng chịt vào nhau tạo thành cả một hệ thống chính trị.

Không phải vô tình mà các nước chư hầu Liên Xô tại Đông Âu đều được cai trị bởi những ông trùm già, bảo thủ và cơ hội. Vào thời đại mới của chủ nghĩa thực dụng, những vị như Edward Gierek ở Warsaw (sinh 1913), Gustáv Husák ở Praha (sinh 1913), Erich Honecker ở Bá Linh (sinh 1912), János Kádár ở Budapest (sinh 1912) và Todor Zhivkov ở Sofia (sinh 1911) – chưa kể các vị Enver Hoxha ở Tirana (sinh 1908), và Josip Broz Tito ở Belgrade (sinh 1892) – đều là những vị có tính thực tế ở mức thượng thừa. Giống như Leonid Brezhnev – sinh 1906, bảy lần nhận Huân chương Lênin, bốn lần nhận danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô-viết, đoạt Giải Hòa bình Lenin, Tổng Bí thư, và từ 1977 kiêm luôn Chủ tịch Nước – các ông trùm này cũng chỉ già đi theo kiểu rất thường dân: Họ không có động cơ gì để tự làm khổ mình, ngược lại, họ có đủ ham muốn để được chết trên chiếc giường hiện có. [ix]

Chưa thể sụp

Mặc dù “chủ nghĩa xã hội trên thực tế” đã chứng tỏ sự bất lực và mất uy tín toàn diện nhưng điều này vẫn chưa làm chế độ sụp đổ. Aleksandr Solzhenitsyn, trong diễn văn nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1971 (diễn văn được đọc thay, vì ông vắng mặt), nói một cách hùng hồn rằng “một khi dối trá bị lật tẩy, bạo lực trần trụi sẽ lộ nguyên bộ mặt thô bỉ của nó, và rồi bạo lực, khi ấy đã đuối sức, sẽ sụp đổ tan tành.” Nhưng nhận định này đã không hẳn đúng. Sự trần trụi của bạo lực Xô-viết đã hiện nguyên hình từ rất lâu – và còn bị phơi trần lần nữa trong cuộc xâm lăng đầy thảm họa vào Afghanistan năm 1979 – bên cạnh đó, những dối trá của chủ nghĩa cộng sản cũng đã từng bước bại lộ và được giải mã vào những năm sau biến cố 1968.

Tuy vậy, chế độ cộng sản vẫn chưa sụp đổ. Có thể nói, đóng góp nổi bật của Lenin cho lịch sử Châu Âu là ông đã bắt cóc tinh thần cấp tiến của châu Âu, vốn có tính chia rẽ ly tâm, và biến nó thành một thứ quyền lực chính trị với một hệ thống kiểm soát độc quyền rất sáng tạo: thu gom thô bạo mọi quyền hành về một mối và dùng bạo lực quyết liệt để duy trì nó tại một chỗ. Hệ thống cộng sản có thể bị bào mòn vô hạn định ở ngoại vi [Đông Âu], nhưng yếu tố khiến nó cuối cùng sụp đổ chỉ có thể đến từ trung tâm của quyền lực [Moscow]. Trong câu chuyện về ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản, những hoạt động đối lập mới, nở rộ trong giới trí thức tại Praha và Warsaw, có thể xem là đoạn kết cho một khởi đầu mới. Còn nhân tố lãnh đạo vừa xuất hiện tại Moscow mới chính là khởi đầu cho đoạn kết.[x]

Nguồn: Post War, Tony Judt, NXB Penguine Books, 2006, trang 577-584. Tựa và tiêu đề là của người dịch.

Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra



[i] Suốt thập niên 1980, Ba Lan và Tiệp Khắc rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng (“tăng trưởng” âm) – nền kinh tế các nước này thu nhỏ lại. Nền kinh tế của chính Liên Xô cũng đã co cụm lại từ năm 1979. (TG)
[ii] Timothy Garton Ash, The Uses of Adversity (NY, 1989), trang 9. (TG)
[iii] Trong nông nghiệp, phần lớn Liên Xô, Hungary, Rumani một lần nữa lại gợi nhớ tới tình trạng các đại trang trại vào thế kỷ 19: giới lao động nông nghiệp bị trả lương bèo bọt, làm việc cầm chừng, thiếu thốn dụng cụ nên chỉ làm tối thiểu cho những ông chủ vắng mặt, còn để dành sức cho công việc thật tại các thửa đất riêng của gia đình. (TG)
[iv] Xin cảm ơn Tiến sĩ Paulina về trích dẫn này. (TG)
[v] Dưới thời Brezhnev, một pound (khoảng nửa ký) thịt bò tốn 3,5 rúp để sản xuất nhưng chỉ được bán với giá 2 rúp. Cộng đồng Châu Âu cũng trợ giá cho người chăn nuôi, với tỉ lệ gần như tương tự. Sự khác biệt nằm ở chỗ Tây Âu có Chính sách Nông nghiệp Chung, trong khi Liên Xô thì không. (TG)
[vi] Hungary gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 1982, cả hai đều phấn khích chúc mừng nhau. Chỉ đến năm 1989, người ta mới biết chính quyền Hungary đã cố tình hạ rất thấp mức nợ trong và ngoài nước của thập niên trước đó. (TG)
[vii] Jeffrey D. Sachs, cố vấn kinh tế của chính phủ Ba Lan hậu cộng sản và nhiều nước trên thế giới, chủ trương rằng: Kinh tế các nước hậu cộng sản sẽ khó lòng phục hồi nếu cứ phải trả các khoản nợ do chế độ cũ để lại. Với nỗ lực vận động và tư vấn của Sachs, Thủ tướng Đức Helmut Kohl đã giúp xóa 50% nợ cho Ba Lan, tương đương 15 tỉ đô-la Mỹ, vào đầu thập niên 1990. Lý do để Thủ tướng Kohl thay đổi, từ phản đối qua đồng ý xóa nợ, là vì nước Đức cũng từng được đồng minh xóa những khoản nợ vay trước Thế chiến II. Chuyện xóa nợ được kể lại trong Chương “Poland’s Return to Europe” (Ba Lan trở về với Châu Âu) trong cuốn The End of Poverty (Chấm dứt nghèo đói), của Jeffrey D. Sachs, NXB Penguine Books, 2006. (ND)
[viii] Nguyên văn “Prince Potemkin must surely have smiled in his far-off grave” (Hoàng thân Potemkin có nằm trong mộ ở nơi xa lắc cũng phải mỉm cười). Potemkin (1739-1791) – nhà quý tộc, chính khách, nhà quân sự Nga, được phong tước Hoàng thân Đế quốc Nga – được nhắc đến ở đây như một kẻ phỉnh phờ, do giai thoại ông cho xây một ngôi làng giả tạo nhưng đẹp đẽ để gây ấn tượng khi Nữ hoàng Catherine II đến thăm. (ND)
[ix] Hơn nữa, cũng như Brezhnev, các vị này là những người tiêu dùng hàng đầu của thời đại họ đang sống. Một truyện tiếu lâm Xô-viết cùng thời kể rằng: Vị lãnh tụ Liên Xô một hôm khoe với mẹ các dacha [nhà nghỉ dưỡng ở đồng quê], biệt đội xe hơi, và các dãy nhà lưu trú mùa săn bắn của mình. Mẹ lãnh tụ khen: “Tuyệt đấy, Leonid!” Nhưng rồi bà lại lo: “Nhưng nếu bọn cộng sản trở lại nắm quyền thì sao con?” (TG)
[x] Tony Judt viết đoạn cuối này để dẫn nhập vào Chương 19 “The End of the Old Order” (Kết thúc trật tự cũ), chương nói về những yếu tố khác dẫn đến sự sụp đổ của cộng sản, trong đó nổi bật là vai trò của Gorbachev, vai trò của Giáo hoàng John Paul II, Công đoàn Đoàn kết, vụ Liên Xô sa lầy ở Afghanistan (khiến sau đó Liên Xô phải bỏ hẳn chủ trương xua quân sang Đông Âu, dù để cứu các chế độ chư hầu đang lâm nguy), thảm họa nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, những biến chuyển ở Kremlin, phản ứng của phương Tây… Chương 19 cũng nói về diễn tiến cách mạng 1989 tại các nước Đông Âu, trước khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô năm 1991. (ND)