Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Thụy Khuê - Phan Khôi (1887 - 1959)




Thụy Khuê

(Tiếp theo và hết)

Ba năm ở ẩn Cà Mau 1922-1925
Một dấu hỏi: Tại sao khoảng 1921-1922, Phan Khôi ở Hà Nội, có việc làm: dịch Kinh Thánh và viết báo Hữu Thanh (1) và Thực Nghiệp Dân Báo, lại bỏ vào Sài Gòn? Vậy Phan Khôi vào Sài Gòn là có "nhiệm vụ" gì, hay chỉ tình cờ? Nhất là vào Sài Gòn rồi phải trốn xuống Cà Mau. Về việc này, Phan Thị Nga viết: "Gặp hồi chưa có việc ông dùng thì giờ rỗi để học, ông ở tại đồn điền của một bạn ở Cà Mau, đồn điền ấy hẻo lánh quá, không có ai nói chuyện cho vui, ông vụt cầm bút viết bức thư thứ nhất, bức thư chữ Tây cho ông Dejean. Rất ngạc nhiên và khen bức thư của ông viết trôi chảy, ông Dejean bảo ông có thể dạy ông Phan trong 6 tháng, ông ta có thể viết được báo chữ Tây. Từ đó về sau ông Phan thường dịch các bài của ông Dejean viết ở các báo Tây.


Lối học của ông Phan hồi ấy là gặp chữ chi khó là hỏi, hỏi rồi tra tự vị lại cho chắc chắn và biên vào sổ con, gặp bài gì thích thì dịch" (2).

Phan An, Phan Cừ viết: "Do một sự việc gì đó, ông bị Pháp tình nghi và đe doạ, nên phải chạy về Cà Mau ẩn náu nơi nhà người bạn làm chủ đồn điền" (3).

Phan Thị Mỹ Khanh viết: "Rồi nhân có một vụ việc gì đó xẩy ra ở thành phố, ông bị mật thám tình nghi, đe dọa, phải chạy xuống Cà Mau tạm trú tại nhà một người quen thân làm chủ đồn điền tại đây. Thời gian ở ẩn ăn không ngồi rồi khá lâu, mất đến gần 3 năm, nhưng cha tôi biết tận dụng nó để làm một việc có ích là tiếp tục học tiếng Pháp bằng cách trao đổi thư từ, bài tập qua đường bưu điện với một nhà báo người Pháp ở Saigòn, tên là Dejean..." (4).

Những thông tin trên đây đưa đến một số câu hỏi:
1- Nếu không có nhiệm vụ gì, tại sao đang có việc ở Hà Nội, Phan Khôi lại vào Sài Gòn?
2- Phan làm gì mà bị Pháp tình nghi, phải chạy xuống Cà Mau ở ẩn trong ba năm?
3- Phan vào Nam, phải chăng vì đã nhận được thông điệp của Phan Châu Trinh từ Pháp? Vào Nam để bắt liên lạc với Nguyễn An Ninh? Người đầu tiên trong nhóm Ngũ Long vừa từ Paris về nước năm 1922, đang sửa soạn phát hành báo La Cloche fêlée? Việc ở ẩn ba năm tại Cà Mau, trong bài chỉnh huấn ông sẽ giấu chính quyền cộng sản. 
4- Việc Phan Khôi học tiếng Pháp với Dejean de La Bâtie, chứng tỏ ông có liên lạc với nhóm Chuông Rè (5).

Trong thời gian ở ẩn tại Cà Mau 1922-1925, không những Phan Khôi học tiếng Pháp hàm thụ với Dejean de la Bâtie mà còn tiếp tục việc dịch Kinh Thánh. Sau này, có thể người ta đã chắp nối hai sự kiện: quen với Tây (Dejean de la Bâtie) và làm việc cho Mỹ (dịch Kinh Thánh cho Hội Tin Lành) để xuyên tạc Phan Khôi làm bồi Tây, bồi Mỹ.

1925, viết sách về Phan Châu Trinh
Tài liệu 241 của sở mật thám Nam Kỳ, mật báo của P. Arnoux ngày 1/6/1926, gửi thống đốc Nam Kỳ và Phủ toàn quyền Hà Nội, ghi: 
"Tú tài Phan Khôi mà tôi đã báo Ngài cách đây mấy tháng như là một đồ đệ của Phan Châu Trinh, đã viết một tác phẩm mang tên đơn giản là "Phan Châu Trinh" tôi đã có trong tay tập sách đó với 94 trang đánh máy (...) Kèm theo tiểu sử của Phan Châu Trinh, tác phẩm này chứa đựng các bình luận về đời sống chính trị, tư tưởng, các dự án và công việc tuyên truyền ở Đông Dương, ở Pháp và ở nước ngoài, những quan điểm chính trị của con người được dân An Nam coi là nhà đại ái quốc. Nếu được in ra, chắc chắn sách này sẽ được hoan nghênh và kích động những người An Nam đọc chống đối chính phủ bảo hộ (...)

Phan Châu Trinh đã cho gọi tú tài Phan Khôi vào Nam Kỳ với ý đồ cho y viết tác phẩm này và nhiều tác phẩm chính trị khác. Nhưng tình hình sức khoẻ không cho ông ta thực hiện hoàn toàn ý đồ đó. Phan Khôi đang soạn thảo ra một tác phẩm theo dạng đó với những thông tin do các bạn cũ thân cận của Phan Châu Trinh cung cấp, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng. Phan Khôi tính dựa vào nhà in "Bảo Tồn thư xã" đang chuẩn bị ra đời để xuất bản tác phẩm của y (...) Phan Khôi ở nhà họa sĩ Ky đường Martin des Pallières. Y quan hệ thường xuyên với Nguyễn Pho và Dejean de la Bâtie" (6).

Theo mật báo này, ý đồ tiếp tục sự nghiệp của Phan Châu Trinh khá rõ. Từ 1925 đến 1928, Phan Khôi viết cho Thần Chung, Đông Pháp, Văn Học ở Sài Gòn và gởi bài cho Đông Tây ở Hà Nội. Hiện nay chưa in sưu tập các bài Phan Khôi viết trong thời gian này. Đây là giai đoạn Pháp đã bình định nền cai trị, với những yếu tố quan trọng:
- Đám tang vĩ đại của Phan Châu Trinh, mà Phan Khôi đã tham gia tổ chức và viết bài Hiệu triệu quốc dân.

- Phan Bội Châu bị bắt, nhưng Pháp không áp dụng án tử hình, xử vắng mặt trước đó, chỉ đem về quản thúc tại Huế: về việc này, Nguyễn Thế Truyền đã góp phần quan trọng, cổ động trên báo La Paria và vận động Hội Nhân Quyền tại Pháp.

- Sự tung hoành của ngòi bút Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường trên các báo La cloche fêlée và L'Annam, tại Nam Kỳ.

- Sự vận động của Phạm Quỳnh qua các bài diễn thuyết tại các trường lớn, trong chuyến đi Pháp 1922 dẫn đến việc Pháp cải cách giáo dục: bỏ ý định Pháp hoá người Việt (thay chữ Hán bằng chữ Pháp). Lần đầu tiên mở cấp sơ học ở Trung và Bắc, năm 1924, dậy tiếng Việt cho học trò từ nhỏ - Sẽ nói rõ hơn trong chương Vụ án Nam Phong.

Dường như những yếu tố quan trọng này đã khiến Phan Khôi thấy sức mạnh của ngòi bút, ông chuẩn bị bước vào giai đoạn nòng cốt: Phụ Nữ Tân Văn. 

1928-1932: Thời kỳ Phụ Nữ Tân Văn.
Từ năm 1928 đến 1932, ngòi bút Phan Khôi tả xung hữu đột trong tất cả các "mặt trận" tranh đấu xã hội và văn hoá. Hầu như ông chỉ ở trong Nam, thỉnh thoảng có viết bài cho báo Bắc, nhưng Nam Kỳ vẫn là đất chính. Lập luận đấu tranh dựa trên khí giới: phê bình.

1928: Phê bình Trần Huy Liệu trên báo Đông Pháp. Đặt vấn đề: Phải viết sử cho đúng. 

1929: Phê bình Khổng Giáo ở Thần Chung. Tranh đấu nữ quyền và Đòi hỏi phải viết tiếng Việt cho đúng trên Phụ Nữ Tân Văn.

1930: Tranh luận với Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim trên Phụ Nữ Tân Văn.

1931: Phê bình cuốn Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh trong bài Cái cười của con rồng cháu tiên trên PNTV. Đây là bài phê bình văn học đầu tiên viết theo lối hiện đại.

1932: Công bố Một lối "thơ mới" trình chánh giữa làng thơ và bài Tình già, cả hai được coi là bản tuyên ngôn của Thơ Mới, trên Tập văn mùa xuân, báo Đông Tây, rồi PNTV. 

Tư tưởng và phong cách Phan Khôi được xác định trong thời kỳ Phụ Nữ Tân Văn, vừa cùng dòng chẩy với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, trong việc dịch thuật, giới thiệu tư tưởng Tây phương và đặt nền móng quốc ngữ bằng cách phát triển từ vựng, nghiên cứu tiếng Việt. Lại vừa đối lập với hai vị học giả này, trong cách đưa tinh thần phản biện vào triết học, sử học, văn học và xã hội học.

Phan Khôi và cộng sản
Khi lên án Phan Khôi, người ta thường dẫn chứng rằng ông đã nói hoặc viết câu này câu kia chống Đảng, chống Bác, là sai cả. Thực ra Phan Khôi chẳng coi cộng sản ra cái gì, ông chống cái dốt, cái độc tài, cái thần tượng hoá, và cái ngu dân, từ trước khi có Bác và Đảng viết hoa. Ngay từ năm 1930, khi cộng sản mới nhen nhúm ở Việt Nam, ông đã viết mấy bài về cái ngu và cái dốt của họ: như bài Quân cách mạng đời nay (7) nói về việc ông tướng cách mạng Trần Đại Lộc, dơ tay lên trán đỡ đạn; bài Quốc ngữ của bọn cọng sản (8) nói về việc cộng sản muốn sửa chữ: Pháp viết là Fáp, gì viết là zì, đ viết là d. Ý ông: Nếu chỉ muốn thay đổi quốc ngữ thì cũng chẳng sao, nhưng họ lại chủ trương đấu tranh giai cấp mới bậy. 

Bình sinh, ngòi bút Phan Khôi không sợ ai bao giờ: Năm 1906, ông viết đơn kiện triều đình vì thi cử gian lận. Năm 1928, ông viết bài Cái dốt của triều đình Huế (9) đại ý nói: Làm Hán Việt từ điển, mà không biết từ điển với tự điển khác nhau như thế nào (10).

Năm 1928, bàn về việc cấm sách, ông viết: Ở thế kỷ hai mươi, đâu đâu người ta cũng hô lớn nào tự do, nào tôn trọng quyền ngôn luận, quyền xuất bản, mà lại có cái chuyện cấm sách mới lạ. "Vậy thì chúng tôi viết đây để làm chi? (...) Một cuốn sách không cấm thì người ta coi như thường, không chú ý. Đến cấm đi một cái, thì hết thẩy ai nấy đều chú ý vào nó. Cấm đi, là muốn cho người ta đừng đọc, mà không ngờ lại làm cho người ta càng đọc! (...) có nhiều cuốn sách hiển thánh rồi. Việt nam vong quốc sử và Hải ngoại huyết thư đã hiển thánh hai mươi năm nay (...) Không có cái thú gì bằng cái thú trong lúc trời mưa, đóng cửa cho chặt lại, rồi... đọc sách cấm! Cái thế lực của sách cấm là như vậy, còn cấm sách nữa thôi?... (11).

Những lời này mà viết ngày nay thì bị coi là nói xấu Đảng, là phản động, chẳng tờ báo nào dám in. Nhưng sự thần tình của một tác giả lớn là tuy Phan nói phiếm về những việc dưới thời Pháp thuộc, cách đây 90 năm, mà lại rất trúng với việc thời nay. Trong thuật ngữ văn học, người ta gọi đó là một nhà văn có tính hiện đại.

Về chuyện cấm in, cấm sách, có một số bài của Phan Khôi, đăng trên báo Trung Lập, Sài Gòn, 1930, được Lại Nguyên Ân sưu tầm. Nhưng khi in thành sách, gia đình tự kiểm duyệt bỏ đi. Bản trên mạng lainguyenan.free.fr đầy đủ hơn.

Trong số những bài bị bỏ, có bài Khoái cho ông Mussolini (12) vì nội dung khen Mussolini nên bị loại, oan. Việc khen Mussolini, năm 1930, chẳng đáng xấu hổ, mà phải cắt, vì lúc ấy, bộ mặt trái của đảng Phát-xít chưa được thế giới biết đến. Phan khen cái gì? Phan khen Mussolini đã cấm tiệt thói ăn mày: khi nước Ý có nơi bị động đất, gần 2000 người chết, vậy mà Mussolini cấm không được lập hội này hội kia xin tiền. Gần đây nước Nhật vừa động đất, vừa sóng thần, vừa bể lò nguyên tử, mà họ có ngửa tay xin tiền ai đâu? Mussolini chẳng được cái nết gì, nhưng ít ra cũng được cái nết dạy dân không đi ăn mày. Mà cái nết ấy, dân ta, hiện nay đến cả lãnh tụ, cũng còn đang cần phải dạy. Phan Khôi hiện đại là ở chỗ đó.

Bài "Hơn hai trăm năm còn thúi" cũng bị cắt, vì ông kể chuyện ngày 11/5/1930, "có một nhà nọ đào móng đặng xây nhà, trong khi đào, phát lộ ra một cái quan tài xưa coi bề ngoài còn chắc. Người ta bèn mở ra xem thấy thi thể đã nát rồi, chỉ còn có bộ xương và quần áo. Quần áo cái dáng vẫn tươi tốt, nhưng khi động tới liền hoá ra tro. (...) Thế nhưng lạ một điều là lúc dỡ ra, hơi hám xông lên vẫn còn thú nực thúi nồng (...) Vậy mới biết giống người ta là giống thúi hơn hết thẩy mọi loài (...) Cái thúi hai trăm năm còn chưa mấy chút; có cái thúi đến muôn năm, là kẻ "di xú vạn niên" kia" (13).

Bài này chẳng hề nói động đến ai, chỉ nói chuyện... đào mả, tuyệt không chạm huý, mà người ta cũng sợ "nhạy cảm" phải cắt đi. Ý Phan Khôi: những kẻ nhất thời "vàng ngọc dát đầy, tiền hô hậu ủng" nhưng chả biết mai sau thế nào, có "di xú vạn niên" chăng? Ví như Tần Thủy Hoàng đốt sách? Thời ấy có mấy ai đọc sách, mấy ai biết chuyện? Nhưng bọn nhà văn thường nhớ dai và bênh nhau xuyên thế kỷ. Đụng đến sách vở, thì hậu quả khó lường.

Còn bài Thúi thây bị cắt là đúng lắm, vì Phan dám đụng tới thây ông Lê Ninh. Từ 1930, Phan đã chẳng coi ông thánh này ra gì: "An Nam ta hay mắng những người biết ăn mà không biết làm là "đồ thúi thây". Kỳ thiệt An Nam ta thuở nay có mấy ai mà thây bị thúi bao giờ. Duy thấy bây giờ cái thây ông Lê Ninh nước Nga bị thúi đó thôi. Việc đời hay tréo nhau là vậy, ông Lê Ninh lại là người ăn ít mà làm nhiều!

Không biết hồi họ ướp xác ông thế nào mà ngày nay đến nỗi thúi ra. Cứ theo tin mới đây thì xác ấy không thể để được nữa mà phải thiêu ra tro. Nếu vậy thì ra khoa học ngày nay lại dở hơn ngày xưa.

Ai có tri thức khá một chút, há không biết bên Ai Cập đời xưa có cái thuật ướp xác để lâu kêu là "momie" hay sao? (...) Xứ Nga lạnh hơn Ai Cập, sao xác ông Lê Ninh lại thúi? (...) Đến như xứ An Nam mình, thuộc về ôn đới, khí hậu điều hòa, có lẽ giữ xác được lâu mà không thúi chăng? Song ngặt vì An Nam ta lại không có cái xác nào đáng ướp hết; cái thây nào cũng đáng để cho thúi quách hết thẩy" (14).

Bạn đọc ngày nay phải phục Phan Khôi là tiên tri!

Những việc ông viết cách đây hơn 80 năm mà cứ như bây giờ. Văn học gọi đó là tính hiện đại.

Phê Bình Lãnh đạo văn nghệ và Nắng Chiều 
Thời kỳ NVGP, Bài Phê bình lãnh đạo Văn Nghệ là tác phẩm tiêu biểu. Phan Khôi vẫn "ngựa quen đường cũ", xử sự như dưới thời phong kiến, nghĩa là nghĩ sao viết vậy. Ông kê khai toạc hết những nét chính trong đời sống văn nghệ: kiểm duyệt lời nói, chữ viết, cấm phê bình, chỉ đạo sáng tác, đàn áp nhà văn, thánh hóa lãnh tụ, bè phái văn nghệ.
1- "Tôi muốn nói sự thực"- Nhưng người ta bảo: "có những sự thực không nên nói".
2- "Tôi muốn phê bình"- Nhưng người ta bảo, "phê bình nội bộ thì được, không nên viết lên báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc".

3- Về việc "giáo dục sáng tác": "Nhược bằng bắt hết mọi người viết, phải viết theo lối với mình thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết".

"Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu!"

4- Về sự đàn áp nhà văn: "Hỏi độc tội một Trần Dần thôi là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa những người trong Giai Phẩm, cái ngón ấy đã thành công".

5- Về việc tôn sùng lãnh tụ: "Tôi còn nhớ có vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ Người viết hoa, lấy lẽ rằng chữ Người viết hoa chỉ để xưng Hồ chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ Người không phải để xưng Hồ chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê mỗ tố cáo ông Nguyễn mỗ trước ngai vàng: "Trong phép viết chỉ có chữ nào thuộc về Hoàng thượng mới phải đai, thế mà tên Nguyễn mỗ viết thư cho bạn dám xài những chữ không phải thuộc về Hoàng thượng. Nhân may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi ở trong phòng họp hội Văn nghệ".

6- Về tính gian lận trong việc chấm giải thưởng văn học 54-55: "Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban chung khảo. Nếu ở trong ban chung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng. Một người nào có con em đi thi thì người ấy có được cắt cử cũng phải hồi tỵ, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không hồi tỵ, một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã liêm chính cả rồi, một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái miệng đã bị vú lấp".

Phê bình lãnh đạo văn nghệ trở thành kim chỉ nam cho các nhà văn trên con đường đòi tự do tư tưởng. Dưới cái tựa: Phê bình lãnh đạo văn nghệ, Phan Khôi phê bình cả lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh, điều không thể chấp nhận được trong xã hội cộng sản.

Còn một tác phẩm nữa, hầu như không ai biết, đã bị chôn vùi, đó là tập truyện ngắn Nắng chiều. Vào lúc "dầu sôi lửa bỏng", toàn bộ NVGP đã bị đóng cửa được một năm, đang chờ lệnh của Đảng, Phan Khôi đem tập Nắng chiều đến Hội Nhà Văn để in. Trong bài Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi, Đoàn Giỏi viết:
"Tháng 12/1957, Phan Khôi đưa đến nhà xuất bản Hội Nhà Văn một xấp bản thảo dầy, bên ngoài đề hai chữ "Nắng chiều" (15). Mượn giọng đả kích, để công bố cho hậu thế biết nội dung tác phẩm cuối cùng của Phan Khôi, Đoàn Giỏi đã bị trừng phạt như một thành viên NVGP.

Nắng chiều, gồm những bài bút ký và tạp văn viết trong kháng chiến, và mấy bài viết sau 1954: Cầm vịt, Tiếng Chim, Cây Cộng sản, Thái văn Thu, Chuyện ba ông vua Càn Long, Quang Trung và Chiêu Thống, Giới thiệu Nguyễn Trường Tộ.

Đoàn Giỏi đã giới thiệu từng văn bản một: Truyện Thái văn Thu chống lại bạo lực cách mạng và sự đàn áp NVGP. Chuyện ba ông vua... đả kích chế độ phong kiến ngày nay. Bài Nguyễn Trường Tộ so sánh chế độ hiện hành với những triều đại phong kiến trước. Riêng hai bài Cầm vịt và Tiếng chim, Phan Khôi "đánh vào vấn đề căn bản của chủ nghiã Mác-Lê Nin", để xác định: Xã hội không có đấu tranh giai cấp. Của ai người nấy ăn. Vấn đề đấu tranh giai cấp chỉ là kiểu rình phần ăn của kẻ khác. Đoàn Giỏi trích một đoạn trong bài Tiếng chim của Phan Khôi: "Một lần ở Cẩn Nhân, tôi ngồi nơi nhà sàn, thấy hai con quạ rình bắt con gà con, một con bắt được bay ra đứng ở bờ ruộng, xé con gà ra ăn; còn con kia bị gà mẹ chống cự, bắt không được, cũng bay ra đứng cạnh con quạ thứ nhất, nó nhìn sững và đi đi lại lại, rồi cũng bay đi tuốt, nó không hề nói: "Mầy phải cho tao với!"

Đoàn Giỏi giải thích như sau: "Vấn đề thứ nhất Phan Khôi đặt ra là không có người bóc lột người. Vấn đề thứ hai là của ai người ấy ăn. Cho đến thứ quạ kia còn biết giành giật cái miếng không phải của nó là không ổn, và không hề nói: Mầy phải chia cho tao với".

Bài thứ nhì Cây Cộng sản được giới thiệu khá kỹ, Đoàn Giỏi viết: "... Cây Cộng sản, ngay câu đầu, Phan Khôi đã chỉ ngay vào Việt Bắc, quê hương cách mạng:
"Có một thứ thực vật nữa cũng như sen nhật bản, ở xứ ta trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy chỉ thấy trong mấy tỉnh Việt Bắc không chỗ nào là không có". Đầu tiên Phan Khôi thấy nó rải rác mấy nơi ở tỉnh Phú Thọ, và nhiều nhất là ở Thái Nguyên và Tuyên Quang. Nó mọc trên thị trấn bị ta phá hoại "như rừng, ken kít nhau". Nơi gọi là Cỏ Bù-xít vì nó có mùi hôi như con bọ xít, nơi gọi là Cây Cứt lợn, nơi gọi là Cây chó đẻ. "Tên đều không nhã tí nào hết" thứ cây ấy những người có học không gọi bằng Cây Cứt lợn dại, mà gọi bằng Cây Cộng sản". (16)

Rồi Đoàn Giỏi kể tiếp về gốc gác cái tên này: Phan Khôi bịa ra là trước kia xứ ta không có cây này, người Pháp đem đến giồng ở các đồn điền cà phê, cao su, rồi chẳng bao lâu nó lan ra, không diệt được, tình trạng này bắt đầu từ những năm 1930-31, cùng lúc Đông Dương Cộng Sản Đảng bắt đầu hoạt động, "phong trào Cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là "herbe communiste", đáng lẽ dịch là cỏ Cộng sản, nhưng nhiều người gọi là Cây Cộng sản. Nó còn một tên nữa rất lạ..."

Tên này là gì? Thì Phan Khôi lại bịa lời một ông già Thổ: "ông nói tên nó là "Cỏ cụ Hồ". Thứ cỏ này trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường xá đồi đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó như vậy". 

Tại sao Phan Khôi đem Cây Cứt lợn, cũng gọi là Chó đẻ, là Bọ xít "toàn những tên không nhã tý nào nào hết" để gọi nó là Cây Cộng sản và Cỏ cụ Hồ?" (17)

Câu hỏi "ngây thơ" của Đoàn Giỏi chứng tỏ sự "đồng loã" của ông với tác giả Nắng Chiều. Và Đoàn Giỏi đã phải trả giá. Đây là lần cuối cùng Phan Khôi dùng ngòi bút châm biếm của mình để chống lại sự độc tài và dốt nát, mà ông đã mục kích và đả kích từ năm 1930.

Cũng về tập bản thảo Nắng chiều, Chế Lan Viên lại một lần nữa hiện ra như một hung thần của trí thức và chữ nghiã qua sự mô tả của Đào Vũ: "Đồng chí Chế Lan Viên lúc ấy có đọc bản thảo kia", "Đồng chí Chế Lan Viên lúc ấy có phân tích nhiều mặt về những ám ý xấu xa, phản động trong những “tìm tòi” ấy của Phan Khôi; và tỏ ý rất công phẫn. Chúng tôi cũng đồng tình". Vẫn theo Đào Vũ, khi "Phan Khôi nói với chị Chế Lan Viên nên về khuyên bảo anh ấy đừng đi theo lãnh đạo", thì Đồng chí Chế Lan Viên "lên tận phòng của y cho một bữa nên thân. Những nào: Đừng cậy già mà nói láo, đây ba mươi năm nữa cũng già, đồ đốn mạt đồ hèn v.v…" (18).

Những ngày tháng cuối
Gia đình Phan Khôi nhận hậu quả cuộc "đấu tranh giai cấp" khi ông đang ở Việt Bắc. Đào Vũ kể:
"Đồng chí cùng quê với Phan Khôi ôn lại chuyện nhân dân địa phương căm thù định đến tàn phá nhà Phan Khôi từ phong trào bình dân (1936) và cho biết, ý định ấy mãi đến sau cách mạng (sau 1945) mới thực hiện được: Những nương dâu phì nhiêu kia của Phan Khôi bà con nông dân đã giành lấy về tay chia nhau trồng trọt, tre nhà Phan Khôi, vì căm thù, bà con đốn không còn một gốc, nhà của Phan Khôi, bà con đập lấy gạch về xây bao nhiêu hầm khắp làng để che chở cho dân làng kháng chiến trường kỳ. - Giữa Phan Khôi và nông dân địa phương từ bao lâu, đã diễn ra một cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt" (19).

Sau Nhân Văn, Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, Trần Duy viết: "Cũng từ dạo ấy, tôi thấy sức khoẻ của ông Phan Khôi sa sút. Có lúc thấy ông đi không vững. Có lúc thấy ông khó thở. Ông nói với tôi ông bị sốt thường xuyên, xin được đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy giới thiệu.

Một buổi chiều tôi đến 51 Trần Hưng Đạo thì gặp cảnh: Một quan chức có quyền lực quát đuổi vợ chồng ông ra khỏi số nhà 51 Trần Hưng Đạo.

Người này quát lớn:
"Tống cổ thằng già khốn nạn này ra khỏi đây!"

Vợ ông, bà Huệ ôm chăn màn, sách vở; ông Phan Khôi lảo đảo theo sau. Ra cổng gặp tôi, ông chào và nói:
"Thôi, anh về đi… Buồn không cần thiết!" (20)

Bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, Phan Khôi dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền rồi 73 Phố Thuốc Bắc. Lâm Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan, viết về căn nhà cuối cùng này: 
"Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kề vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài căn nhà cụ là chân cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng. Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng khép kín, rộng chừng 9 m2, bằng 3/4 gian nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một cửa sổ nhỏ, to bằng bàn cớ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ.

Ban đầu mới dọn về, tôi thấy ba tôi và các chú nhà thơ hay vào phòng cụ Khôi uống trà, bàn chuyện thời sự, bình luận những bài thơ vừa đăng báo; bọn trẻ chúng tôi chạy vô chạy ra nhà cụ để chơi với các anh các chị con cụ, mọi người đều thân thiện, cởi mở. Thế rồi, dần dần tôi thấy có một điều gì đó, lung lắm. Các cô các chú không xởi lởi như trước nữa. Trong cư xử tỏ ra dè dặt, dò xét. Nhà cụ Khôi cứ vắng dần bóng người lớn, vắng dần tiếng trẻ. Không khí trong ngôi nhà nặng nề, xét nét, xa lạ. Tôi hỏi má tôi "tại sao vậy?". Bà nói nhỏ sợ người khác nghe: " Ông Khôi đang bị coi là người cầm đầu nhóm Nhân văn - Giai phẩm, con không nên vào nhà cụ, có người đang theo dõi nhà mình đấy…". Tôi không hiểu Nhân văn - Giai phẩm là tội gì, nặng đến mức nào mà ai cũng sợ liên lụy đến như thế. Tuy không nói ra nhưng ai cũng muốn chứng minh rằng mình không hề có quan hệ thân mật với gia đình cụ Khôi. Họ tránh nhà cụ như thể nhà có bệnh dịch lây lan. (...) Dường như gia đình cụ hiểu được điều băn khoăn của mọi người nên tế nhị lấy báo dán kín cửa sổ lại. Lâu lâu tôi thấy cụ ngang qua nhà, vẫn dáng người cao, nhưng gầy yếu hơn trong bộ đồ tây màu vàng nhạt, tóc còn lơ thơ vài cọng bạc trắng, ẩn sau chiếc mũ phớt màu nâu. Trên tay cụ giờ có thêm chiếc ba-toong, gặp ai cụ không nhìn, mắt hướng thẳng phía trước như chưa hề biết họ. 

Như trước đây, tôi vẫn ngồi giặt bên bể nước, cạnh cửa sổ nhà cụ. Tôi liếc nhìn cụ qua cửa sổ. Cụ ngồi trên giường, giờ cụ trầm ngâm, buồn buồn, mắt nhìn đâu đâu, tôi thương cụ quá chừng. Có lần tôi nghe cụ ngâm bằng giọng Quảng Nam: "Làm chi cũng chẳng làm chi / Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao / Làm sao cũng chẳng làm sao / Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi…" (21)

Cái chết của Phan Khôi
Phan Cừ, Phan An viết: "Ông nằm quay mặt vào tường lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, trong sự túc trực chăm sóc của bà vợ Nguyễn Thị Huệ (...) Cỗ xe song mã màu đen quàn thi hài ông, đi sau là vợ con, cháu cùng một vài bạn hữu tiễn ông lần cuối đến nghiã trang Hợp Thiện ở phía đông thành phố Hà Nội. Trong chiến tranh, phần mộ của ông bị thất lạc" (22).

Phan Thị Thái viết: "Mộ cha tôi được ghi dấu bằng tấm bia nhỏ mang tên: Chương Dân (...) Khoảng một năm trước khi mất, thầy tôi rất buồn. Mỗi dịp nghỉ hè về thăm thầy, tôi thường thấy người ngồi bàn viết lách hoặc đọc sách.
Có khi nằm đọc rồi ngủ quên nhưng hai tay vẫn giữ chặt quyển sách dày cộm, hầu hết là sách chữ Hán. Hầu như thầy tôi không có thì giờ rảnh. Sáng sáng đi vài ba đường quyền, ăn uống điểm tâm rồi ngồi vào bàn làm việc cho đến tối. Chỉ có một tuần trước khi mất, vì quá đuối sức, người đành phải lìa chiếc bàn và quyển sách. Gia tài lớn mà thầy tôi để lại cho chúng tôi là sách và tất nhiều các bài viết, các bài nghiên cứu về tiếng Việt và chữ Hán. Chúng tôi đã gìn giữ tất cả trước tác của thầy tôi trong nhiều năm và sau đó đã chuyển giao cho Viện Hán Nôm để các đồng nghiệp của ông tiếp tục công việc nghiên cứu, dịch thuật" (23).

Lâm Bích Thủy viết: "Chở linh cữu cụ là một chiếc xe có hai con ngựa kéo bị che hai bên mắt, khoảng bảy hoặc tám người, kể cả người đánh xe ngựa và ba tôi − nhà thơ Yến Lan. Nhưng điều để lại sau đám tang là sự dè bỉu và mỉa mai đối với ba tôi mà người thời bấy giờ gọi là "thằng". Sáng hôm sau, ngoài phố, họ kháo nhau bằng những câu: "Nghe nói ngoài gia đình còn có thằng cha nhà thơ nào đó cả gan đưa đám lão Phan Khôi". Giải thích điều này ba tôi nói: "Đó là đạo lý của người Việt Nam − Nghĩa tử là nghĩa tận" (24).

Theo Lại Nguyên Ân, nghiã trang Hợp Thiện bị chiếm đất dần để xây nhà. Năm 1970, nghiã trang này được chuyển lên Bất Bạt. Những ngôi mộ bị dời đi, có đánh số, nhưng sau gia đình không tìm lại được. Tất yếu của định mệnh? Hay là vẫn cố tình xoá dấu Phan Khôi? 

Được biết những năm gần đây đã có ngôi mộ của Phan Khôi ở Điện Bàn, chúng tôi hỏi nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân về việc này, qua điện thư ngày 27/7/2012, ông cho biết: 
"Chuyện mộ Phan Khôi, thì con trai ông là Phan An Sa kể cho tôi: Năm 1959 ông mất, được chôn cất tại nghiã trang Hợp Thiện, Hà Nội. Theo anh Sa thì mộ ở phía đông khu nghiã trang. Khu nghiã trang này, từ những năm 1960 bị lấn từng phần làm một số cơ quan, xí nghiệp như nhà máy mỳ kẹo Hải Châu, kho của mấy công ty thương mại quốc doanh, rồi phần giữa nghiã trang cũng sớm bị dùng làm bãi chiếu bóng Mai Động, vv... Đến đầu những năm 1970 chính quyền Tp. Hà Nội cho chuyển toàn bộ các ngôi mộ còn lại ở Nghiã trang Hợp Thiện lên nghiã trang Yên Kỳ ở huyện Ba Vì (khi đó thuộc tỉnh Hà Tây), lấy đất xây thêm một nhà máy dệt.

Theo tôi hỏi một số viên chức làm ở Cty quản lý nghiã trang Hà Nội, thì các ngôi mộ chuyển lên chỉ được đánh số chứ không gắn bia mộ họ tên, phần họ tên ở bia mộ cũ được ghi vào sổ lưu lại Cty quản lý nghiã trang, gia đình nào cần tìm phải tới xem sổ lưu ấy để xác nhận lại vị trí mộ ở nơi mới Yên Kỳ.

Tuy vậy, các con ông PK tìm đến vị trí mộ ở Hợp Thiện theo trí nhớ thì không thấy, đào cũng không thấy, hình như cũng không có hồi âm gì từ thông tin về số mộ đưa lên Yên Kỳ, cuối cùng đành bốc một ít đất ở nơi mà họ nhớ là nơi chôn lần đầu, đem về trong quê ở Quảng Nam chôn vào trong ngôi mộ trống, tất nhiên có khắc bia họ tên lên đấy".   

Điều mà Phan Khôi làm cho bà Cố cách đây hơn nửa thế kỷ, tức là kiện cái chế độ phong kiến, để mộ của bà cố được trở về chôn ở mảnh đất gia tiên, hiện chưa ai làm cho ông. Phan Khôi có mười con, bao nhiêu cháu? Nếu ngày nay có một sự xám hối nào đó về phía chính quyền, hẳn không phải là những lễ kỷ niệm, với những bài ca tụng vô bổ, mà là việc tìm lại hài cốt Phan Khôi trong đám mộ ở Yên Kỳ, xác định ADN, để dựng lại ngôi mộ Phan Khôi, cho xứng đáng với địa vị của một trong những nhà văn, nhà trí thức và tư tưởng hàng đầu của Việt Nam trong thế kỷ XX.


Chú thích:
(1) Hữu Thanh là báo của Ngô Đức Kế, một trong những người lãnh đạo phong trong trào Đông Du và Duy Tân, vừa từ Côn Đảo trở về. 
(2) Phan Thị Nga, bđd.
(3)  Phan Khôi niên biểu, Chương dân thi thoại, Đà Nẵng, 1996, trang 157.
(4) Nhớ cha tôi, Đà Nẵng, 2001, trang 39. 
(5) Xin nhắc lại: Dejean de La Bâtie, người Pháp lai, là đồng chí của Nguyễn An Ninh, từng làm chủ nhiệm báo La Cloche fêlée (Chuông rè). Phan Văn Hùm trong Ngồi tù khám lớn (Bảo Tồn, Sài Gòn, 1929. Phan Tùng Mai (con Phan Văn Hùm) tái bản, Sài Gòn, 1957) cho biết: lần vào tù năm 1928, Dejean được giam cùng với người Pháp, còn Nguyễn An Ninh, thì các cai tù Pháp rất nể trọng, gọi là Monsieur.
(6) Tài liệu của Lê Thị Kinh, in lại trong Nhớ cha tôi, trang 279-280.
(7) Trung Lập số 6151 (20/5/1930). 
(8) Trung Lập, số 6235 (1/9/1930). Phan Khôi thường viết: cọng sản. Cả hai chữ cộng và cọng đều dùng được. 
(9) Đông Pháp, số 717 (8/5/1928). 
(10) Phan Khôi giải thích: Tự là chữ, mà từ là lời. Trong tự điển mỗi mục từ chỉ có một chữ. Trong từ điển mỗi mục từ có thể có nhiều chữ ghép lại. Nhưng không phải chữ ghép nào cũng được coi là từ để đem vào từ điển được. Ví dụ, thiên mã thì gọi là từ được, vì đó là một cách nói đặc biệt (expression), gần như một điển cố, chỉ việc vua Võ Đế nhà Hán có con ngựa hay lắm, vua đặt tên là thiên mã, tức là ngựa nhà trời. Còn tẫn mã (ngựa cái) hay dịch mã (ngựa trạm) thì không thể đem vào từ điển được, vì nếu cứ lấy những chữ ghép tràn như vậy, thì phải bao nhiêu từ điển cho đủ! 
(11) Phan Khôi, Cấm sách, sách cấm, Đông Pháp thời báo, số 763 (1/9/1928).
(12)  Khoái cho ông Mussolini, Trung Lập, số 6207 (28/7/1930).
(13)  Hơn hai trăm năm còn thúi, Trung Lập, số 6152 (21/5/1930). 
(14) Thúi thây, Trung Lập, số 6216 (7/8/1930).
(15) Đoàn Giỏi, Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi, Văn Nghệ số 15, tháng 8/1958, in lại trong Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí.
(16) Đoàn Giỏi, bđd.
(17) Đoàn Giỏi, bđd. 
(18) Đào Vũ, Tính cách vô lại và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay, Văn nghệ, số 12, tháng 5/1958 – Số đặc biệt thứ hai chống NVGP.
(19) Đào Vũ, bđd. 
(20) Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi, Talawas 18/6/2008.
(21) Lâm Bích Thuỷ, Thủy chung tình bạn sau linh cữu, tài liệu Talawas.
(22) Phan Cừ, Phan An, bđd. 
(23) Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi, học giả Phan Khôi. 19/12/1996, Kiến Thức Ngày Nay.
(24) Lâm Bích Thuỷ, bđd.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét