Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Võ Văn Trực - Vĩnh biệt những cây cổ thụ



Trích từ: 'Chuyện Làng Ngày Ấy' của 

Võ Văn Trực

Làng tôi nằm giữa vùng đồng chiêm trũng. Dân cư quanh năm nghèo đói. Hầu hết là nhà gianh vách đất. Nhưng nhờ có những cây cổ thụ mà xóm mạc trở nên sầm uất. Mỗi cây gắn liền với một chuyện kể, một bài vè hoặc một câu ca. Cổ thụ là tình yêu là máu thịt của quê hương. Bao nhiêu thế hệ nối tiếp nhau sinh ra, lớn lên và qua đời, gửi lại cho cây những chứng tích kỳ diệu của thời gian.



Photo: Google

Thế mà những ngày hôm nay, những ngày tháng sục sôi của cách mạng, những ngày tháng phồn thịnh của tinh thần dân quê, hàng chục cây cổ thụ lần lượt nằm xuống! Như những lão tướng xông pha trận mạc, bão bùng, sấm sét, không còn được sự chiêm ngưỡng của dân gian nữa, xin hãy vĩnh viễn lùi về quá khứ. Hầu như trong tâm tưởng của một số người nào đó, trong một phút cuồng nhiệt, họ muốn chặt phá đi tất cả những cái gì xưa cũ để rồi vun trồng lên những gì non tơ hơn, mới mẻ hơn, giàu sức sống hơn. Và từ một số ít người, ý nghĩ đó được lan truyền, được kích động vào số đông. Thế là chính những con người đã tự tay mình chăm bón, đã từng gắn bó máu thịt cuộc đời mình với cây, lại thản nhiên xông ra chặt cây.

Tuổi lên chín lên mười tôi vừa được chứng kiến những ban mai cờ dâng rợp trời vừa đau lòng nhìn thấy những vòm cây khổng lồ bị hạ xuống.

Theo bác Chắt Kế, những thân cây to lớn này và những cồn đất làm địa thế cho cây mọc lên, địch có thể lợi dụng làm pháo đài. Vì thế, phải phá tất, chặt tất! Làng xóm và đồng điền quang quẻ, trơ trụi, vô duyên như mặt người cạo nhẵn thín lông mày.

Cây muỗm nơi đền thờ Bạch Y Thần dễ chừng cao tới bốn, năm chục mét. Cách xa mười cây số có thể thấy ngọn cây mờ xanh như một đám mây. Mỗi lần tôi sang bà ngoại một mình, mẹ tôi dặn: “Lúc về, nhỡ may bị lạc đường, con cứ nhìn ngọn cây muỗm mà đi.”

Dáng cây thẳng tắp. Cành tỏa đều đặn xung quanh. Càng lên cao càng bé dần. Từ xa trông tới, cây giống như cái tháp xanh hùng vĩ.

Sự tích cây muỗm gắn liền với sự tích ngôi đền. Lúc đầu các già làng định xây đền ở nơi khác, nhưng khi khởi công thì thấy cây muỗm mọc lên ở khu đất cao ráo này. Cây lớn rất nhanh, mỗi ngày cao thêm chừng năm gang. Xung quanh gốc, cỏ chết hết. Ðến ngày thứ chín, mây vần vũ trên khu đất, một tiếng sấm nổ ra rồi một bóng áo trắng bay lên trời. Sáng hôm sau, cây muỗm bỗng tốt quá đầu người và tỏa tán xanh mướt.
Các cụ bảo đó là điềm thiêng, khu đất cao ráo này mới là nơi Thần ngự, bèn bỏ địa điểm cũ, quyết định xây ngôi đền tại đây.

Cây muỗm và ngôi đền đã từng gắn bó với nhau hàng trăm năm nay như sông với núi, như trời với đất, như âm với dương, thế mà bây giờ phải chia lìa nhau!

Sáng hôm ấy, hơn mười trai làng vác rìu ra chặt thì chợt thấy chân hương cắm chi chít quanh gốc. Họ có cảm giác chờn chợn, gây gây lạnh. Nhiều bó hương còn ngun ngún cháy, chốc chốc lại bùng lửa. Khói bốc lên nhiều đến nỗi ám lại như sương trên những cành lá um tùm. Họ làm “kế hoãn binh”, ngồi tán dóc, uống nước chè xanh, hút thuốc lào sòng sọc. Bác Chắt Kế bước tới: “Các đồng chí chưa bắt đầu chặt à?” Họ lúng túng chưa biết trả lời thế nào thì một thanh niên chỉ cho bác thấy chân hương cắm đỏ quanh gốc muỗm. Bác hiểu ý, tỏ vẻ tức giận, đôi mắt sáng quắc sau mặt kính cận: “Hử... Các đồng chí lại mê tín dị đoan à?... Hử!... Tối hôm qua bọn phản động lại bày ra cái trò này để cản trở công cuộc kháng chiến kiến quốc... Hử!...”. Mãi về sau, dân làng mới biết rõ đầu đuôi sự việc: Một số cụ già thương tiếc cây muỗm, trong nỗi thương tiếc có pha niềm tín ngưỡng, đêm hôm trước đã ra thắp hương khấn vái lần cuối cùng để rồi vĩnh viễn không được nhìn thấy cây muỗm nữa...

Từ khi mái đền không còn được bóng cây che mát, người ta đồn rằng có một đám mây trắng ngày đêm lởn vởn trên đó - đám mây đó chính là áo trắng của vị thần hiện về đòi lại cây xanh.

*

Cây đa Cồn Rộng đứng sừng sững giữa đồng không mông quạnh. Cây không mọc trên mặt đất bằng phẳng mà mọc trên cồn đất cao và rộng đến ba sào, cho nên cây càng được tôn lên vẻ đẹp uy nghi.

Vốn lúc đầu người ta đắp một cồn đất giữa cánh đồng trũng, rồi trồng cây lên đó để bà con nông dân ăn trưa và nghỉ ngơi sau những giờ làm việc mệt nhọc. Cây đa dân dã ấy khi đã xanh um như hòn núi nhỏ thì trở thành cây đa thiêng: có thần cây đa trị vì và quỷ canh giữ. Người ta xây miếu nhỏ dưới gốc đa và hương khói thờ phụng những ngày mồng một, ngày rằm hằng tháng. Nơi đó không còn là nơi nghỉ mát. Người ít lui tới. Cỏ dại mọc um tùm. Cây đa bủa rễ phụ chằng chịt như những vòng tay hung dữ ôm chặt ngôi miếu. Rễ chẻ đôi bệ thờ. Rễ quấn chặt bát hương.

Những trưa hè oi ả và những đêm khuya thanh vắng, gió nam thổi ù ù, từ gốc đa vọng ra tiếng hú ghê rợn, tiếng võng đưa kẽo kẹt, tiếng ru hời ai oán. Thậm chí có người thấy cả bóng quỷ đầu trâu mặt ngựa đi lang thang. Nghe đồn rằng có một cô gái xinh đẹp ở làng chùa đi chợ về, đặt gánh ngồi nghỉ mát, quỷ đòi lấy làm vợ, cô ta khăng khăng từ chối, bị quỷ hiếp, mấy tháng sau cô đẻ ra một đứa bé mặt giống mặt ngựa.

Lũ trẻ cũng không dám vào đó chơi. Riêng thằng Bá rất liều, nhiều lần Bá rủ tôi đến bắt chim, tôi không dám đi theo, Bá đi một mình. Tôi đứng từ xa nhìn tới, thấy Bá lao thoăn thoắt từ cành này qua cành khác. Ðêm về, trong giấc ngủ, tôi thấy Bá đánh nhau với quỷ và quỷ thua bỏ chạy.

- Bá ơi, người ta bàn nhau chặt cây đa Cồn Rộng!

- Ai bảo? Bá giật mình, hỏi lại tôi.

- Còn ai bảo nữa. Mai người ta chặt rồi! Một trung đội dân quân khỏe nhất ra chặt.

- Có thật không?

- Thật!

- Cách mạng to gan.

- Người ta chọn những người khỏe nhất để nhỡ ra thần thánh có vật thì cũng không vật nổi.
Sự thật diễn ra đúng như thế. Mấy chục dân quân to khỏe như trâu mộng vác rìu, búa, cưa, cuốc chim xông thẳng tới cây đa Cồn Rộng. Họ trương khẩu hiệu: “Cách mạng quyết thắng thần thánh ma quỷ!” “Ðào tận gốc trốc tận rễ đầu óc mê tí dị đoan”. Thế là họ hùng hục đào, cuốc, chặt. Bát hương vỡ tung tóe. Bệ thờ nát thành vôi vụn, gạch vụn. Bỗng một tổ rắn bung ra, rắn con rắn mẹ bò lổn ngổn. Tất cả bỏ chạy tán loạn. Mấy chục dân quân đánh tháo về nhà ngồi im thin thít.

Bác Chắt Kế biết được việc này, bèn cho họ một bài học về tinh thần dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng: “Các đồng chí hãy gột sạch đầu óc cổ hủ thì mới xứng đáng là thanh niên của thời đại dân chủ cộng hòa... Hử... Thanh niên mà sợ ma quỷ, sợ rắn rết... Hử... thì tức là thanh niên của thời phong kiến, đế quốc... Hử... các đồng chí phải ra quân dũng cảm...” Mấy chục người ngồi há mồm nghe bác diễn thuyết. Gương mặt bác vuông vức, sáng sủa, vầng trán cao, cặp kính cận long lanh càng tôn vẻ trang nghiêm của lời nói.

Sau bài học về lòng dũng cảm mà bác Chắt Kế ban ra, cây đa Cồn Rộng nổi tiếng là linh thiêng, không còn được phép tồn tại nữa.

*

Cây đa Ðập Trùn tỏa rộng tán giữa cánh đồng màu. Tiết tháng Năm, vào vụ thu hoạch khoai lang, cây đa càng được đắc dụng.

Nắng chói chang. Cả cánh đồng tấp nập đàn ông, đàn bà, trẻ con, trâu bò, cày bừa, gồng gánh. Khoai dỡ lên đỏ óng chất lại thành từng đống. Ban trưa, họ ngồi quây quần dưới bóng đa trò chuyện. Gió nồm mát rượi. Rổ khoai lang vừa mới đổ trong nồi đất ra, bốc ra mùi mật ngọt thơm. Ăn củ khoai lúc này mới ngon làm sao. Củ khoai bẻ đôi, bùi ngậy. Khoai nghệ vàng óng như mật ong. Khoai chiêm xốp bổ trắng tinh như bột. Khoai đường trong veo.

Trên vòm cây, chim sáo sà xuống hàng trăm con, kêu ríu rít, đùa nghịch, làm rơi bộp... bộp... những quả chín vàng nứt nẻ.

Trong cái vất vả, lam lũ của người dân đồng quê thì những phút nghỉ ngơi như thế này thật là hanh phúc: mồ hôi đầm đìa, ngồi dưới bóng cây vừa nghe chim hót vừa ăn củ khoai béo ngậy đầu mùa. Thế mà bóng cây bị xóa đi, chỉ còn mồ hôi và nắng xối. Vụ thu hoạch khoai đầu tiên sau khi cây đa bị chặt, người nông dân ngồi túm tụm từng nhóm giữa nắng lửa, bàn tán:
- Lợi đâu chưa thấy, đã thấy cái hại ập đến trước mặt!

*

Cây đa xóm Bấc ở ngay đầu cổng xóm, tán tỏa rộng trùm lên ba, bốn sào đất. Dễ chừng cây có trên năm trăm tuổi, vì các cụ già gọi là “cây đa phù Lê” tức là cây đã có công giúp vua Lê đánh giặc Minh. Cây lại ở đền thờ Bạch Y Thần tức là vị thần cứu vua Lê thoát khỏi vòng vây của giặc. Nhưng chắc chắn hơn, cây có tuổi thọ chừng hai trăm năm, vì trên mình cây còn mang những vết đạn của thời kỳ Cần Vương chống Pháp.
Cây đa xóm Bấc, chứng nhân của nhiều thời đại, pho sử của làng. Bộ rễ bủa tung ra, xoắn xuýt, hăm hở, dữ dằn, trìu mến như cuộc đời người nông dân cắm sâu vào đất đai quê hương. Thớ gỗ cuồn cuộn vạm vỡ từ gốc đến ngọn. Sần sùi từng u gỗ phòi ra, rắn đanh lại. Khi cây bị xẻ, người ta còn thấy những mảnh đạn cắm sâu vào thịt làm méo mó những đường vân.

Bao nhiêu thế hệ thanh niên đã lấy gốc đa này làm nơi hò hẹn tình ái. Ðêm trăng phường vải, trai các làng lân cận thường nhóm họp nơi đây, rồi đi vào các ngả xóm hát đối đáp với những cô gái quay xa kéo sợi. Trưa hè, nắng ngột ngạt, sau bữa cơm cà với canh mùng tơi, người ta kéo nhau ra hóng mát. Tán đa trở thành mái nhà thiên nhiên lồng lộng gió. Người kể vè hát những bài vè theo điệu hát giặm: hài hước châm chọc, ngậm ngùi tình sử, hùng tráng thần tích. Không biết tự năm nào, thời nào, người ta lưu truyền câu chuyện “thần hát giặm” li kỳ và ảo não. Cô gái ấy có tài hát đối đáp với bất kỳ một chàng trai nào trong thiên hạ. Bỗng một hôm, cô gặp người trai lạ cất lên lời hát chín mươi chín câu hỏi. Cô không trả lời được và bèn hóa thân vào gốc đa. Cô vẫn được gái trai làng kính trọng và tôn là “thần hát giặm”.

Có thể nói cây đa này là nơi sản sinh ra nhiều bài vè mang đậm đà tính thời sự, là quê hương của nhiều câu ca dao mượt mà, là cái nôi của nhiều mối tình dân quê trong trắng.

Bây giờ “thần hát giặm” đi đâu? Những người kể vè phiêu dạt phương trời nào? Những cặp trai gái lấy nơi nào để hò hẹn? Cây đa bị triệt hạ như tổ ấm bị phá vỡ. Một khoảng trống của nỗi tiếc thương ngày ngày hiện ra đầu cổng xóm và hiện ra trong lòng người. Cho đến bao giờ, đến bao giờ mới có vòm đa khác thay thế che rợp cái khoảng trống ấy?

*

Cây đa xóm Trung gắn liền với câu ca dao:
Xóm Trung mà đổ cây đa
Cả làng Hậu Luật đàn bà chửa hoang

Cây mọc trên một cồn đất đầu cổng xóm nhô ra cánh đồng trũng giống hình một cái b. Ðối diện cồn đất đó là một cồn đất khác hình tam giác giống như một cái l. Bởi vì cái b. hoang chĩa vào cái l. hoang thì con gái sẽ chửa hoang nhiều, cho nên phải trồng lên đầu b. một cây đa để chặn lại sự dâm dục. Không biết cây đa đã trồng bao nhiêu thế kỷ rồi mà rễ phụ và rễ gốc bủa ra chằng chịt đan nhau như cái lồng nhốt chặt b. vào trong đó.

Nghe nói thuở mới trồng cây đa, cứ nửa đêm là cái cồn b. này quẫy đành đạch và cái cồn l. đối diện cũng rung lên chờ đợi. Một hôm, cồn b. quẫy mạnh quá làm đổ cây đa, tức thì trong làng có một cô gái chửa hoang. Cô ta xinh đẹp nổi tiếng và hát rất hay trong những đêm trăng phường vải. Bây giờ lỡ chuyện như thế, cha mẹ đánh đập, bà con khinh bỉ, làng đe dọa sẽ cạo trọc đầu bôi vôi, cô bèn nhảy xuống bến đò Oan tự vẫn.

Sau vụ cô gái chửa hoang làm rúng động dư luận cả vùng Nam Diễn Châu, các cụ trồng lại cây khác và nghĩ cách làm cho thần b. không quấy rối nữa. Ðàn bà, con gái đi chợ và đi làm đồng khi trời chưa sáng hẳn, qua cồn b. thì dừng lại, quay mặt vào cây đa, tuốt váy lên. Các bà có con gái đến tuổi cặp kê thì kỹ tính hơn, đêm đang nằm ngủ, hễ tỉnh dậy là chạy ra cồn b. kéo váy lên một chốc rồi quay về ngủ tiếp. Các bác nông dân dắt trâu cái bò cái qua cồn b. là thế nào cũng bắt trâu bò dừng lại quay đít vào cây đa. Nhà nào nghèo quá, không có trâu bò, đành bắt chó cái hoặc mèo cái làm cái động tác đó. Như vậy là thần b. đêm nào cũng được nhìn l. không quấy nhiễu nữa. Cho mãi đến lúc cây đa to lớn, cường tráng, đủ sức trị lại thần b. thì phong tục cho thần xem l. ban đêm mới được bãi bỏ. Từ đó, trong làng không có cô gái nào chửa hoang.

Chuyện xưa còn truyền lại như thế. Trong cuốn hương sử, cụ Phán Liễu có ghi lại việc này. Vậy mà bây giờ người ta dám chặt cây đa, thật là to gan. Các cụ sợ, sợ mà không dám nói thành lời. Một số cụ không cho con trai mình đi chặt cây, nhưng ngăn cản thế nào được thanh niên thời đại mới. Họ xông ra chặt bảy ngày bảy đêm thì triệt hạ được cây đa. Riêng cái gốc, rễ cái rễ phụ nhiều quá và ăn sâu quá, đành chừa lại. Cây đa này rất to, bốn, năm người ôm mới khít vòng tay. Cây hạ xuống, cưa thành nhiều khúc, chở lên đường quốc lộ số bảy làm ụ kháng chiến.

Các cụ nói có sai đâu. Sau khi chặt cây đa, chuyện cũ lập lại, ba cô gái trong làng chửa hoang. Ðau đớn thay cho cái làng từ xưa đến nay nổi tiếng là phép tắc nghiêm ngặt, nhiều người học hành đậu đạt. Thế mà bây giờ có con gái chửa hoang, không phải một mà những ba cô. Các bậc làm cha mẹ tỏ vẻ bất bình, tuyệt nhiên không cho con gái đi ngủ tập trung ban đêm ở trụ sở dân quân, tự vệ nữa.

Một hôm, lũ trẻ chúng tôi thả trâu ngoài đồng, rủ nhau đi cắt cỏ, chợt thấy trong bụi rậm một hình hài nhi đỏ hỏn. Mấy đứa chúng tôi nhìn nhau tái xanh mặt. Tôi bỏ chạy. Những đứa trẻ khác cũng bỏ chạy. Riêng thằng Bá trấn tĩnh lại rất nhanh. Bá gọi chúng tôi đứng quây quần, phân công mỗi đứa một việc: đứa thì đào hố, đứa thì chạy về nhà lấy giẻ để bọc hài nhi, tôi ra chợ mua hương. Dưới sự chỉ huy của thằng Bá, chúng tôi tổ chức một đám tang chu đáo cho em bé chưa kịp cất tiếng khóc chào đời đã phải về bên kia thế giới. Tôi cắm nén hương lên ngôi mộ nhỏ, nước mắt đầm đìa.

Chỉ sau vài tiếng đồng hồ là chuyện này loang ra khắp làng. Người ta xôn xao bàn tán. Mẹ của đứa bé là ai? Mẹ nó là người làng mình hay người làng khác? Sinh đẻ giữa trời giữa đất thế này, mẹ nó có còn sống được không?

*

Cả tổng Thái Xá chỉ có một trường tiểu học. Trường ở cạnh làng tôi. Sân trường có ba cây phượng tuổi thọ đến gần nửa thế kỷ. Bóng rùm ròa tỏa mát khoảng sân rộng chừng ba sào đất. Hoa phượng là hình ảnh thân thương của lứa tuổi học trò. Khi tiếng ve dóng dả thì hoa phượng cũng nở đỏ như ba vòm pháo bông khổng lồ. Hoa rụng xuống sân dầy đặc như một tấm thảm đỏ.

Trước cách mạng tháng Tám, tôi được cắp sách đến trường chừng vài năm. Tôi chỉ được hưởng hai mùa hoa phượng, nhưng suốt đời tôi không thể nào quên màu hoa ấy. Ðằm thắm dường bao cái sắc đỏ của tuổi thơ, cái sắc đỏ của muôn vàn kỷ niệm không bao giờ phai nhạt. Sắc đỏ ấy là trang vở trắng tinh khôi, là tình yêu bè bạn, là lòng kính trọng thầy giáo.

Khi trận bão quật đổ cây phượng ở giữa thì cả trường náo động như một sự kiện bi thảm. Thầy trò ra sức dựng cây phượng lên, nhưng không thể nào dựng được, rễ cái bị bật chỏng chơ trên mặt đất. Cây nằm xoài ngang sân đau đớn, dường như van lơn chúng tôi! “Các bạn ơi, lẽ nào các bạn lại bỏ tôi, hãy cứu tôi!” Thầy giáo cứ đứng lặng tê tái, ngậm ngùi nói: “Em nào tìm cách dựng cây phượng sống lại thầy cho ba điểm 10”. Nhưng dựng thế nào được nữa thầy ơi. Vĩnh biệt!...

Thầy giáo Cư quê ở Nam Ðịnh, vào làm giáo học ở đây khi còn trai trẻ, rồi lấy vợ, sinh con, lập cơ nghiệp tại cái làng nghèo khổ này của xứ Nghệ. Mảnh đất quê người hóa thành tổ ấm của thầy hơn bốn chục năm. Ngôi trường nhỏ là tất cả tình yêu của thầy. Ngoài giờ dạy, thầy tu sửa, chăm chút quanh trường. Khi tấm biển trước cửa trường nhạt nước sơn, tự tay thầy quét lại sơn trắng và viết lại mấy chữ bằng sơn xanh l’école de Thaixa. Mỗi lần theo cha đến chúc mừng thầy trong dịp tết Nguyên Ðán, tết Ðoan Ngọ, tôi sung sướng như được sống trong ngày hội. Tôi mặc chiếc áo mới, xách túi quà, tung tăng đi cùng cha đến nhà thầy, lòng nôn nóng mong chóng tới để cúi xuống lễ phép cất lời “kính chào thầy” và nghe thầy khen “cháu dạo này học giỏi lắm”.

Gần nửa thế kỷ, thầy giáo, mái trường, hoa phượng đã từng in bóng vào tâm hồn bao lứa tuổi thơ. Dẫu đã về hưu, chiều nào thầy cũng tới trường vun luống hoa, trồng cây bàng hoặc quét mạng nhện ở cửa sổ.

Không thể tưởng tượng được nỗi đau của thầy đến mức nào khi nghe tin người ta sắp sửa chặt hai cây phượng để bán lấy tiền chi cho bữa ăn dân làng đắp bờ. Khi bắt đầu về thụ giáo ở đây, thầy trồng ba cây phượng. Thầy chăm bón cây như chăm sóc dạy dỗ học trò. Khi bão quật đổ một cây, thầy buồn đến đứt ruột. Bây giờ bỗng dưng người ta chặt nốt hai cây còn lại. Thầy gặp chính quyền để hỏi “vì sao lại chặt cây?” Mấy ông chính quyền trả lời: “Chặt cây để xây lại trường khác to lớn hơn”. Thầy thở dài. Lúc dân quân vác rìu ồ ạt ra đứng quanh gốc cây, thầy lại đến van xin một lần nữa: “Năm mươi năm tôi trồng cây lớn được chừng này, các ông mà chặt nó thì tôi khổ tâm lắm”. Mặc, những lưỡi rìu phũ phàng vẫn chém vào gốc cây như chém vào lòng thầy. Thầy đành chịu bó tay, đứng bần thần. Rồi thầy lại lủi thủi lên gặp ủy ban xã: “Công tôi trồng, tôi chăm bón nó mấy chục năm trời. Bây giờ nó không được sống nữa thì các ông cho tôi mua gỗ đem về nhà...”.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét