Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Hòa Đa - Út Nhạ




Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
(Chinh Phụ Ngâm)


Hòa Đa

Năm một chín bảy mươi ba, khi thuyên chuyển về tỉnh V. làm việc, tôi mướn một căn phố nhỏ ngay mặt tiền, yên tĩnh ở ngay rìa thị xã. Cư dân nơi tôi cư ngụ là hầu hết là công chức tỉnh nhỏ, nên chỉ chừng hơn tháng sau, chúng tôi gần như quen mặt nhau hết. Họ gọi tôi là thầy Tư, như cách gọi vừa có vẻ thân mật, vừa có vẻ kính trọng của dân Nam kỳ.


Photo: Google

Độc thân, sống đời công chức, ngày hai buổi đi làm. Sáng ghé sạp báo ngay dốc cầu đi vào thị xã, mua tờ báo và gói thuốc, đến sở; ăn trưa ở một tiệm ăn trung bình gần sở làm; chiều lang thang đâu đó, gặp gì ăn nấy, có khi lai rai với bạn bè... Nói chung, cuộc sống bình dị và yên ổn.

Sạp báo tôi ghé hàng ngày là của chị Ba Nhân, nhà ở ngay trong hẻm kế bên căn phố tôi ở. Chị là cô giáo tiểu học, chồng là anh Tư Kiên, làm gì đó ở Ty Xây Dựng Nông Thôn, có văn phòng ngay trong khuôn viên tòa hành chánh Tỉnh, con sáu đứa, tính luôn đứa mới sanh chừng sáu tháng. Sạp báo do ba đứa con gái lớn thay nhau đứng bán, đứa chị lớn tên Minh vừa vào được trung học Sư Phạm, đào tạo giáo viên tiểu học, hai đứa kế học trung học, mấy đứa sau còn nhỏ. 

Thấy tôi sống độc thân, hơi thất thường trong viêc ăn uống, nhất là cuối tuần, khi tiệm ăn đóng cửa vì hầu hết khách của tiệm là công chức, không đi làm, chị Nhân đề nghị, chiều tôi về ăn chung với gia đình chị, có gì ăn nấy, coi như người nhà. Tính tôi cũng dễ dãi trong việc ăn uống, vả lại, cũng không ràng buộc gì, về thì ăn, không về được thì thôi, có tiệc tùng hay đình đám gì thì báo cho chị biết trước, thế thôi; bù lại, tôi cũng gửi lại tiền cho chị, coi như tiền cơm tháng, ai cũng vui vẻ. Từ đó gia đình chị đối xử như người thân, mấy đứa nhỏ kêu tôi bằng cậu, và dần dà tôi biết nhiều hơn về chị.


*


Thật ra, anh Tư Kiên là người chồng thứ ba của chị, và sáu đứa con của chị là của cả ba đời chồng.

Người chồng đầu, chết hồi một chín sáu mươi, lúc đó con Hậu, đứa con gái thứ ba chưa được một tuổi. Không chịu nổi với cường độ cuộc chiến đang đè nặng lên vùng nông thôn, chị tay bồng tay dắt ba đứa nhỏ chạy về thị xã tìm việc làm nuôi con. Chị xin đươc chân giáo viên khế ước. Còn quá đẹp và trẻ, mới hơn hai mươi, lại phải bon chen giữa chợ đời. Lương giáo viên khế ước khiêm nhường không đủ cho bốn mẹ con, lại thêm chịu nhiều áp lực từ đám đàn ông háo sắc, chị chấp nhận làm bé cho một thương gia giàu có; nhưng khi thằng Hiếu vừa tròn tuổi tôi, thì cha của nó đột ngột ra đi sau một cơn bạo bịnh, chị và thằng con không được phía bên nội của nó chấp nhận. Tiếng là vợ bé, thực chất chỉ như là gái bao, nên chị lại trở về tình trạng trước với con thêm một đ

Lúc đó, Tư Kiên đổi về làm việc ở tỉnh V. Anh Tư gốc ở Long An, có gia đình ở trên đó, có hai đứa con, đều là gái. Không biết nợ nần nhau từ kiếp trước hay sao đó mà hai người gặp nhau không bao lâu thì sống chung với nhau không giá thú. Tư Kiên mua căn nhà bây giờ cho mấy mẹ con ở, anh thì ăn ở luôn ở chỗ làm, với lại cũng đi công tác luôn, nên khi rảnh mới ghé về thăm. Ban đầu mấy đứa con gái lớn của chị Nhân phản ứng dữ dội, nhưng có lẽ vì thương chị thật tình, nên Tư Kiên lo mọi mặt, không để mẹ con chị thiếu thứ gì. Mãi đến về sau này, khi chị sinh cho anh một bé trai, anh mừng lắm, coi như có con trai nối dõi, mới về sống luôn với chị. 

Có hai việc, tư Kiên làm cho chị, như một người đàn ông trong gia đình, nghĩa là không có chút toan tính. 

Việc thứ nhất là vào khoảng một chín sáu chín, trong một trận càn, địa phương quân của tỉnh có bắt được một số cán bộ Việt cộng, đem về nhốt ở khám lớn chờ điều tra. Một buổi chiều, mấy đứa con lớn đều vắng nhà, Tư Kiên cũng chưa về, có một người đàn bà cùng quê tìm đến thăm, hỏi chị Nhân:
- Cô giáo còn nhớ Mười Mạnh không?

Chị lặng người...

Người đàn bà nói tiếp:
- Mười Mạnh bị bắt trong trận càn tháng trước, ở trỏng nhìn qua nhìn lại chỉ thấy cô giáo là người có thể giúp được. Nhờ cô giáo nghĩ chút tình mà xin thăm nuôi giùm, bây giờ Mười Mạnh có tên là Ba Khỏe, cháu cô tư Luông...

Người đàn bà ở chơi, nói chuyện chừng hơn nửa giờ rồi về. 

Mấy ngày sau, chị nói với anh Tư là trong số người bị bắt có người anh bà con của chị, con của người cô và nhờ anh xin giấy tờ để chị thăm nuôi. Tư Kiên chỉ hỏi qua loa, và thấy quả thật anh ta và chị Nhân là người cùng làng, cùng xã; nên tin chị và can thiệp cho chị đi thăm nuôi... Đến năm bảy mươi ba, viên cán bộ này được giao trả cho phía bên kia theo nghị định thư về tù binh của hiệp định Paris. 

Việc thứ hai là việc xin cho Minh, con gái lớn của chị Nhân vào được Sư phạm. Minh thi vào sư phạm năm bảy mươi hai, đậu nhưng không được vào học vì hồ sơ bên cơ quan an ninh gửi qua cho biết cha của Minh, chồng trước của chị Nhân, là một cán bộ huyện ủy hồi trước. Tư Kiên đứng làm giấy bảo lãnh, với tư cách là cha kế của Minh, chịu tất cả mọi trách nhiệm, để Minh được nhận vào sư phạm. Cũng nhờ đó, tình cảm của anh với mấy đứa con riêng của chị Nhân được cải thiện, mấy đứa con gái lớn tuy không ra mặt nhận anh, nhưng cũng không còn gay gắt như trước. Nhưng hai việc này làm anh phải nhận một hậu quả khá đắt mà tôi sẽ kể sau.


*

Sau những ngày lộn xộn của tháng tư năm bảy mưoi lăm, Tư Kiên biến mất. Hỏi thăm, chị nói anh trốn về Long An, trình diện. Tuy vậy, ở Long An người ta cũng biết anh làm ở xây dựng nông thôn, nên anh phải học tập cải tạo. 

Chỉ chừng hơn tháng sau ngày giải phóng, một hôm, toàn thể khu vực nơi tôi cư ngụ tràn ngập công an, nhất là con hẻm có nhà chị Nhân. Thì ra, chồng cũ của chị, Mười Mạnh, ba con Minh, mà cũng có thời mang tên là Ba Khỏe, không phải đã chết hồi năm sáu mươi như chị đã khai báo khi về vùng quốc gia. Chính sách Ấp Chiến Lược lúc bấy giờ đã có những kết quả mong muốn, đẩy được cán bộ nằm vùng khỏi nguồn sữa của họ là nông dân, và dồn Việt cộng vào thế phải rút ra bưng. Chồng cũ của chị lúc bấy giờ đã là huyện đội. Không biết do bàn tính của hai vợ chồng hay do bản năng phải che chở con của người mẹ, chị quyết định mang con về thành, như tôi đã kể ở trên. Bây giờ Mười Mạnh trở về tiếp thu thị xã V. Công an về kiểm tra khu vực trước khi ông về tìm lại ba đứa con. Ông ta nhìn lại con, nhưng không nhận lại vợ vì cho rằng chị là vợ của một tên Phượng Hoàng ác ôn. Nhưng ông cũng tỏ lời cám ơn chị Ba Nhân về những ngày tháng chị đều đặn thuốc men và lương thực thăm nuôi ông dưới cái tên Ba Khỏe. Ba đứa con nhận lại cha, nhưng không về sống với cha mà ở lại sống với mẹ trong căn nhà cũ kỹ mà tụi nó đã lớn lên từ đó. Minh chỉ còn vài tháng nữa ra trường, bây giờ công tác với Đoàn, hai đứa em nó cũng vậy; sạp báo nuôi sống gia đình dạo nào dẹp bỏ. Mọi người trong khu vực ai cũng e dè gia đình chị vì dầu sao cũng có người thân đang làm lớn, còn cả xóm, là ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân. Chị thì vẫn vậy, ngày ngày đi dạy, sống bình dị với mọi người trong xóm như thủa nào.

Riêng tôi, tuy không còn ăn cơm tháng ở nhà chị, nhưng vẫn lui tới như người thân. Tôi còn được lưu dụng làm việc. Mấy đứa nhỏ vẫn tiếp tục gọi tôi bàng cậu. Một lần, đến nhà, chị đi vắng. Hỏi, Minh trả lời chị mang theo thằng Hùng con của Tư Kiên đi thăm nuôi anh. Thường thì mất hai ba ngày vì đường xa, xe đi không tới, và phải đi bộ, đi tàu hai ba chặng. Tụi nhỏ chỉ nói thế, và tôi cũng chỉ biết như thế. Hỏi chị, chị nói mỗi tam cá nguyệt chị được giấy báo thăm nuôi, lúc đó chị phải kiếm tiền để mua thực phẩm và những thứ mà chị nghĩ anh cần... rồi phải đi xin giấy tạm vắng ở phường, thường thì việc này làm chị khổ sở nhất vì những lời nói xoi bói của công an phường. Cuộc sống lúc bấy giờ quá thắt ngặt, mang được cho Tư Kiên vài bánh thuốc rê, ít viên thưốc sốt rét, vài đòn bánh tét... và một ít gạo, tiền là cả một việc làm khá khó khăn, chị phải toan tính gom góp cả tháng trời. Chị nói:

- Vợ lớn của anh Tư Kiên mất đã lâu rồi, bây giờ ảnh sống cực khổ trong trại cải tạo, ăn uống thiếu thốn, lại đang bị sốt rét hành, mà công việc lao động lại nặng nhọc. Dẫu sao cũng là tình nghĩa vợ chồng, dù không giá thú, không đành lòng nhìn thấy ảnh khổ, tui không lo cho ảnh thì ai lo bây giờ? Hai đứa con riêng của ảnh là gái, lặn lội đường xa, ngủ bờ ngủ bụi thăm nuôi cha sao tiện, nên tui nói tụi nó thôi để tui lo - Ngày trước cũng nhờ ảnh một tay, con Minh mới vào được sư phạm... ảnh làm cho tui nhiều quá mà ảnh đâu có tính!
Hỏi chị sao không nhờ Mười Mạnh giúp cho một tiếng, chị chỉ cười.

Mặc cho những lời nói buộc tội có tính sỉ nhục của những người đang có quyền thế và những khó khăn do họ gây ra, chị vẫn làm theo cảm tính. Có lần chị nói, nửa đùa nửa thật:

- Tui khùng quá, người ta tìm đủ mọi cách để tìm nhận bà con trong cách mạng, tui lại lo nuôi chồng mang tiếng ác ôn, phản quốc, đang bị cải tạo! chẳng qua là do cái tâm của mình thôi, cậu tư à! 

Mấy năm sau, Mười Mạnh lên làm tỉnh ủy tỉnh V, Tư Kiên cũng được thả, nhưng không dám léo hánh về V thăm chị và hai đứa con. Minh ra làm cô giáo, vài năm sau được cử làm hiệu trưởng, dù tuổi nghề chưa được bao nhiêu, Mười Mạnh bây giờ cũng lập gia đình với một giáo viên trung học, nguyên là cơ sở nội thành, nên cũng không thấy lui tới, dù là thăm con. Mà bây giờ, chị cũng không còn cảm thấy tình nghĩa gì với người chồng cũ. Chị sống lặng lẽ trong ngôi nhà xưa với mấy đứa con sau. Mấy đứa con lớn, đứa đi học xa, đứa ăn ở luôn tại cơ quan, chỉ thỉnh thoảng mới về thăm.


*

Năm tám mươi, tôi về Sài Gòn, móc nối tìm đường vượt biên, tình cờ tôi gặp lại Tư Kiên đang đạp xích lô. Phải lâu lắm tôi mới nhận ra anh nhờ giọng nói; đúng hơn, anh nhận ra tôi trước. Nét vui tươi và rắn rỏi ngày trước của anh không còn nữa, chỉ còn lại một thân hình hom hem trong manh áo nhà binh cũ. Hai anh em lôi nhau đi nhậu; nói chuyện xa, chuyện gần, nhân nhắc tới chị Ba Nhân, anh kể:
- Thật ra, lời Tư Kiên, tôi biết người anh bà con mà chị Nhân xin thăm nuôi là Mười Mạnh từ hồi bảy mươi ba...

Qua danh sách trao đổi tù binh, bên an ninh xác định với anh điều đó, nhưng anh vẫn kiên quyết dùng uy tín của mình để đứng ra bảo lãnh cho Minh được tiếp tục học sư phạm. Anh nói, dù sao Minh cũng không hề biết cha nó là Việt cộng, nó chỉ biết cha nó là một nông dân bị chết vì lạc đạn trong chiến tranh lúc nó còn rất nhỏ. Không thể vì việc của cha làm mà con phải gánh chịu. Anh biết Minh từ nhỏ, anh mới chính là cha của nó, dù chỉ là cha kế... Tuy vậy, việc anh can thiệp để chị Nhân thăm nuôi Việt cộng và bảo lãnh cho Minh vẫn gây nhiều khó khăn cho anh trong công việc, bên an ninh đã năm lần bảy lượt kêu anh đi điều tra, mãi sau họ thấy anh không biết Mười Mạnh là chồng cũ của chị Nhân nên mới xin cho chị thăm nuôi là thật, nên mới thôi. Nhưng cũng vì vậy, anh bị hạ tầng công tác, ngồi chơi xơi nước. Mà nhờ đó, anh cũng biết luôn, tên thật của chị Nhân là Nhạ, Trần Thị Nhạ, hồi trước thường vẫn được gọi là Út Nhạ. 

Út Nhạ và Mười Mạnh cùng quê, cùng đi học đến hết tiểu học. Sau đó mười Mạnh ở nhà làm ruộng, không học tiếp, Út Nhạ tiếp tục ra tỉnh, học trung học cho đến hết đệ tứ, hai người thương nhau. Nhưng chưa kịp cưới nhau thì Mười Mạnh theo du kích. Khi Mười Mạnh thoát ly, Út Nhạ đi theo, họ cưới nhau trong bưng. Mười Mạnh leo dần lên làm huyện đội trưởng, còn út Nhạ lo hậu cần và liên lạc. Lúc đang mang thai con Hậu, con gái thứ ba, thì Mười Mạnh bị thương trong một trận càn, rồi mất tin. Chị sanh con Hậu xong, còn nấn ná trong bưng một khoảng thời gian để chờ tin Mười Mạnh, nhưng không một ai cho chị biết Mười Mạnh hiện đang còn sống hay đã chết. Có thể họ không biết thật hay giấu không cho biết. Chị khóc hết nước mắt. Không còn cách gì khác, chị tìm cách trốn về thành vì không thể sống trong vùng lửa đạn với ba con còn nhỏ, từ đó mất liên lạc luôn. Chị chấp nhận với số mệnh đưa đẩy để bảo vệ cho ba đứa con của Mười Mạnh. Lúc chấp nhận đi bước nữa với ba thằng Hiếu, điều kiện chị đưa ra là chị phải được sống riêng với ba đứa con của chị. 

Khi Mười Mạnh bị bắt dưới một tên khác, chị được ở trong móc nối, nhắn tin, nhờ thăm nuôi. Nghĩ tình xưa nghĩa cũ, chị nói dối là anh bà con để nhờ Tư Kiên can thiệp. Khoảng thời gian này, đã có lần chị bịnh phải nằm nhà thương cả tháng, ấy vậy mà chị chẳng nghĩ đến bản thân mình, mà chỉ lo cho Mười Mạnh sống thiếu thốn trong khám lớn. Chị phải khẩn khoản nhờ Tư Kiên gửi thăm nuôi cho Mười Mạnh.

Hồi tháng tư bảy mươi lăm, anh không dám ở lại V. nên trốn về quê ở Long An, khai vì trốn lính nên phải vào xây dựng nông thôn, nhưng lúc còn đang học tập thì anh lại bị biệt giam và bị bắt phải làm bản tường trình về việc anh có phải làm cho Phượng hoàng hay không. Anh một mực trước sau khai là không phải, chỉ là cán bộ xây dựng thường thôi... vậy mà anh phải học tập đến cuối bảy chín mới được thả. Thấy sống ở Long An không ổn, anh cùng hai đứa con gái, con người vợ trước, dắt díu nhau lên Sài Gòn tìm sống, dù là sống chui sống nhủi. Biết chị Ba Nhân vẫn còn ở V. nhưng anh cũng không dám về thăm vì anh nghĩ việc anh phải làm bản tường trình trong trại cải tạo là xuất phát từ V., ló mặt về V. chỉ làm gai mắt chính quyền, không chừng phải đi học tập lại, thôi thì ráng nín thở sống cho qua ngày, đã trốn thì trốn luôn cho mất tích. Anh cũng nhờ tôi về nói với chị, cho thằng Hùng lên thành phố với anh sau khi nó thi tốt nghiệp phổ thông xong. Anh không tin là nó sẽ thi được vào đại học vì lý lịch của nó.

Tư Kiên còn nói với tôi:
- Hồi đó khi biết bả nói gạt, chồng cũ là anh bà con để nhờ tôi xan thiệp xin thăm nuôi, tui giận lắm, về hỏi bả, bả chỉ khóc và xin lỗi vì không còn cách gì khác hơn. Bả cũng nói, nghĩ chút nghĩa cũ mà lo cho ba con Minh chớ không còn chút tình gì. Tui cũng biết, tâm địa của bả tốt nên cũng bỏ qua, với lại hay ho gì mà mang tiếng ghen tuông với Việt cộng? Bả cũng không nói gì với ba chị em con Minh về việc ba nó còn sống, đang bị bắt thì đủ biết việc thăm nuôi chỉ là việc do tấm lòng của bả mà thôi.


*

Năm tám hai, tôi vượt biên, trước đó tôi vẫn còn làm việc ở V. Tư Kiên đoán đúng, thằng Hùng thi vào Đại học Tài Chánh, dư điểm đậu, nhưng không trúng tuyển, mấy tháng sau, nó xin đi Thanh Niên Xung Phong, phá rừng xây dựng khu Kinh Tế Mới, hy vọng viết lại lý lịch khác. Thằng Hiếu, con người chồng giữa trúng tuyển nghĩa vụ quân sự đi Kampuchia, bặt tin. Chị Ba Nhân về sống với con Hậu, bây giờ ra trường kỹ sư nông nghiệp, công tác tại ty Nông Nghiệp của tỉnh, lo về chăn nuôi. 

Chị mất vào cuối năm tám mốt vì bịnh ung thư. Đám tang của chị, không có mặt ông chồng nào, chỉ có mấy đứa con gái và chòm xóm, còn thiếu thằng Hùng, ở xa không về kịp và thằng Hiếu không biết ở đâu. Tôi đến thắp cho chị nén nhang. thầm nghĩ bây giờ chị mới thật sự yên nghỉ sau bao truân chuyên chị phải gánh chịu trong suốt cuộc đời.

Những người đàn ông trong đời chị mắc nợ chị quá nhiều, hay là kiếp trước (nếu có kiếp trước) chị mắc nợ họ quá nhiều. 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét