Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Ngô Nhân Dụng - Ai là tác giả hiệp định Paris



Ngô Nhân Dụng

Khi hiệp định Paris được ký kết, trước đây 40 năm, nhiều người vui mừng, vì ít nhất dân Việt Nam sẽ không chết vì chiến tranh nữa. Nhiều người còn hy vọng đó là một bước rẽ, mở con đường mới cho miền Nam Việt Nam. Sau cùng, ai cũng biết, đó chỉ là một thủ thuật, dùng trong một giai đoạn, của đảng Cộng sản Việt Nam trong chương trình chiếm quyền cai trị trên cả nước Việt Nam, với mục đích “đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.”


Nhưng ngay cả nỗi vui mừng vì cảnh chết chóc chấm dứt cũng tan biến nhanh chóng. Người Việt Nam trong vài năm tiếp theo không chết vì chiến tranh thường xuyên nữa, nhưng nhiều người vẫn chết vì sau đó cuộc chiến lại tiếp tục. Số quân nhân hai bên bị tử thương trong cuộc tổng tấn công của cộng sản năm 1975 lớn gấp nhiều lần so với những năm trước hiệp định. Số người chết trên đường vượt biển còn lớn hơn số thường dân chết trong những năm chiến tranh. Chưa kể nỗi đau thương của bao nhiêu gia đình bị đẩy đi vùng kinh tế mới hoặc có người bị đi tù cải tạo. Và chiến tranh lại tiếp diễn ở Campuchia với 50 ngàn thanh niên Việt Nam bỏ xác, và ở biên giới Hoa Việt, mà con số thương vong không bao giờ được công bố.

Số phận của miền Nam Việt Nam đã được quyết định trước đó nhiều năm. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống Mỹ, ông Richard Nixon đã cho cố vấn là Henri Kissinger đến gặp đại sứ Nga ở Washington đề nghị giới lãnh đạo Nga Xô đừng làm trò gì ảnh hưởng đến cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc. Kissinger trình bầy trước lập trường của ông chủ mình về bang giao Nga Mỹ; trong đó ông ta đặc biệt nhấn mạnh: Nếu đắc cử, ông Nixon sẽ rút quân khỏi Việt Nam; sau đó chế độ chính trị ở miền Nam ra sao không quan trọng, dù có  một chính quyền cộng sản. Điều này, ông Kissinger còn lập lại khi đến thăm Đại sứ Anatoly Dobrynin sau khi ông Nixon thắng và chưa tuyên thệ nhậm chức. Dobrynin đã kể những chuyện này trong tập hồi ký của ông.

Năm 1972 nước Mỹ lại bầu tổng thống, và ông Richard Nixon cần tái đắc cử, nhờ thành tích chấm dứt cuộc chiến tranh quá dài mà dân Mỹ bắt đầu thấy chán. Nixon sai Kissinger thu xếp để tiến tới hiệp định Paris trước khi dân Mỹ bỏ phiếu. Hiệp định Paris chỉ là một văn kiện để giúp Tổng thống Richard Nixon rút quân ra khỏi Việt Nam một cách chính thức, nghĩa là vẫn giữ được thể diện.

Trong cuộc thu xếp này, Nixon được Mao Trạch Đông hỗ trợ. Trước năm 1970, Mao rất căm hận Nixon vì ông tổng thống Mỹ chỉ chú ý nói chuyện với Moskva mà không quan tâm đến Bắc Kinh; coi Mao chỉ là một lãnh tụ cộng sản hạng nhì. Trong một cuộc chuyện trò với Phạm Văn Đồng, Mao hỏi: “Tại sao bọn Mỹ không làm rùm beng lên về chuyện có 100,000 quân đội Trung Quốc đang xây dựng đường xe lửa, đường bộ, và phi trường ở Việt Nam, mặc dù chúng biết sự kiện này?” Phạm Văn Đồng nói vuốt đuôi: “Vì chúng nó sợ!” Nhưng chúng ta cũng biết rằng ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, các chính quyền Mỹ đã cam kết với Trung Quốc là họ sẽ không bao giờ gửi quân đội Mỹ và cũng không để cho quân đội miền Nam tiến ra Bắc Việt. Chính quyền Mỹ lờ đi như không biết có quân đội Trung Cộng ở ngoài Bắc, vì nói ra sẽ làm cho bài toán rắc rối hơn, ngay trong khung cảnh chính trị nội bộ của Mỹ. Mao Trạch Đông còn tỏ ý bất bình, nói với Phạm Văn Đồng rằng “Tại sao bọn Mỹ chúng nó lại ước tính số binh sĩ Trung Quốc ở Việt Nam ít hơn sự thật như vậy?”

Tháng 11 năm 1970 Chu Ân Lai được lệnh bắn tin qua các nhà ngoại giao Rumania là nếu Nixon muốn thăm Trung Quốc thì sẽ được mời. Nixon bảo Kissinger đừng tỏ ý muốn đi vội vàng quá, cuối tháng Hai Kissinger mới bắn tiếng lại, tỏ ý thân thiện nhưng không nói gì đến việc Nixon có thể sang Tàu. Tháng Ba năm 1971, các cầu thủ bóng bàn Trung Quốc gặp các cầu thủ Mỹ ở Nhật Bản, và khi đi chung một chuyến xe buýt, tay vợt Mỹ Glenn Cowan đã gặp nhà vô địch Trung Quốc Trang Tắc Đống (Zhuāng Zédòng, 则栋), bắt tay và ngỏ ý muốn sang thăm Trung Quốc. Hình ảnh hai cầu thủ bắt tay đăng trên các tờ báo lớn ở Nhật, và khắp thế giới. Mao Trạch Đông đã bắt lấy ý đó, ra lệnh mời các cầu thủ Mỹ qua Tàu! Còn Nixon thấy đây là một cơ hội thay đổi thái độ với Trung Quốc, một cơ hội sang Bắc Kinh để vận động tranh cử tổng thống tại Mỹ. Sau đó, Kissinger đi đêm để chuẩn bị chuyến Nixon sang Tàu năm đầu 1972.

Trong chuyến thăm bí mật đầu tiên, tháng Bẩy năm 1971, Kissinger đã đặt ba món quà trên mâm để tặng Mao Trạch Đông. Thứ nhất, Kissinger đã hứa hẹn với Chu Ân Lai rằng Mỹ sẽ báo cho Trung Quốc biết tất cả những điều họ sẽ thỏa thuận với Nga xô, mà sẽ không cho biết Mỹ nói chuyện gì với Trung Quốc. Ông ta còn hứa sẽ cung cấp cho Trung Quốc các tin tức tình báo về hoạt động của quân Nga ở vùng biên giới Nga, Hoa. Món quà thứ hai là Mỹ sẽ bỏ rơi bạn đồng minh Đài Loan, hứa hẹn Mỹ sẽ chính thức công nhận chế độ Bắc Kinh trước năm 1975, nếu Nixon tái đắc cử năm 1972. Nên nhớ, lúc đó Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) vẫn có một hiệp định an ninh hỗ tương với Mỹ, có vị thế ngoại giao vững chắc hơn miền Nam Việt Nam rất nhiều.

Món quà thứ ba Kissinger đem cống tiến là Nixon cam kết sẽ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, trong vòng 12 tháng, dù có một hiệp định ngưng chiến hay không. Lúc đó là tháng Bẩy năm 1971, sáu tháng trước khi Mỹ ký hiệp định Paris, mà chính Kissinger cũng không biết chắc là sẽ có một hiệp định vì lập trường hai bên miền Nam và Bắc Việt Nam hoàn toàn trái nghịch về vấn đề miền Bắc rút quân và vai trò của Mặt trận Giải Phóng. Vì vậy, Kissinger đã nói thẳng với Chu Ân Lai là dù không có thỏa hiệp nào thì chính phủ Nixon cũng đơn phương rút quân, bỏ rơi luôn chính quyền miền Nam Việt Nam, và không bao giờ quân Mỹ trở lại Việt Nam nữa. Kissinger nói: “Sau khi hòa bình rồi, người Mỹ chúng tôi sẽ ở xa Việt Nam cả vạn dậm, còn Hà Nội thì vẫn ở đó.” Những chi tiết này được kể lại trong một sách của William Burr, năm 2002 (The Bejing – Washington Back Channel; kể chuyện các chuyến đi bí mật của Kissinger năm 1970, 71; sách này nằm trong tài liệu điện tử của cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA; được thuật lại trong sách MAO, của Jung Chang và Jon Halliday, 2005).

Ba tháng sau chuyến đi bí mật trên, Kissinger chính thức trở lại Bắc Kinh, sau khi Trung Quốc lên tiếng mời Nixon qua Tàu, và lời mời được chấp nhận. Cả thế giới, và cả nước Mỹ được coi một màn trình diễn ngoạn mục. Nixon đã toại nguyện, vì Mao sẵn sàng giúp ông tái đắc cử. Trung Cộng được nhận vào Liên Hiệp Quốc thay chỗ Trung Hoa dân Quốc ngay trong năm 1971. Dưới sức ép của Mao, Bắc Việt chịu ký tên vào bản hiệp định Paris. Quân Mỹ rút về “trong danh dự.” Nhưng số phận Nixon lại bị quyết định do một xì căng đan chính ông ta gây ra; khiến ông phải từ chức khi quốc hội Mỹ chuẩn bị đàn hạch và truất phế, vào năm 1974. Người thương tiếc Nixon nhất lại là Mao Trạch Đông; ông ta không hiểu nổi tại sao một vị tổng thống lại bị dọa truất phế. Mao có lần nhắn tin qua bà Imelda Marcos, phu nhân tổng thống Phi Luật Tân, ngỏ ý mời Nixon qua chơi lần nữa. Năm 1975, Mao cho mời cô con gái Nixon là Julie và chồng qua Tàu. Mao lại nhắn Julie bảo cô nói với bố rằng “Tôi nhớ ông ấy lắm.” Tháng Hai năm 1976, Mao đưa một chiếc máy bay Boeing 707 sang tận Los Angeles đón Nixon qua uống trà; bẩy tháng sau thì Mao chết.

Bản hiệp định Paris cuối cùng là kết quả của cuộc gặp gỡ Nixon và Mao. Trước hết, vì nhu cầu tranh cử năm 1972 của ông Nixon. Kissinger đã viết bản hiệp định đó, với sự giúp đỡ của Chu Ân Lai. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thể làm gì được, mà cũng không biết nước đồng minh lớn nhất đã quyết định bỏ rơi mình. Cộng sản miền Bắc  đã được Moskva và Bắc Kinh báo cho biết trước Mỹ sẽ rút quân, trong khi vũ khí của Nga vẫn đổ sang ngày càng nhiều, họ nắm chắc phần thắng. Nhưng họ vẫn phải đặt bút ký vì Mao Trạch Đông muốn tặng lại cho Nixon một món quà tranh cử. Cộng sản miền Bắc cũng muốn có thêm một thời gian chuẩn bị để nhận thêm vũ khí đánh một trận chót, chấp nhận hiệp định Paris như một bước nghỉ chân.

Những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chắc không ai biết gì về những lời Kissinger đã hứa với Dobrynin hay với Chu Ân Lai. Người dân miền Nam lại càng không biết gì cả. Bao nhiêu chiến sĩ đã bỏ mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu đồng bào tử nạn trên đường vượt biển. Nhắc lại 40 năm hiệp định Paris, chúng ta hãy thắp nhang tưởng nhớ họ, đó là cách kỷ niệm có ý nghĩa nhất. Họ sẽ không chết uổng, nếu chúng ta học được một kinh nghiệm rút từ cuộc chiến. Bài học của một dân tộc nhược tiểu là đừng bao giờ vì các lý thuyết, tư tưởng trừu tượng, đừng bao giờ dựa vào các thế lực ngoại lai để đồng bào tàn sát lẫn nhau. Trong cuộc chiến tranh nào, người dân cũng bị hy sinh.




1 nhận xét:

  1. -Tôi nghĩ MỸ bỏ VN vì Nam VN lúc đó bọn phản bội thân CS rất đông, dân Nam theo MTGPh, dân Trung theo Phậtgiáo khuynh Cộng- trí thức thì theo Tả phái Pháp đả Mỹ...vậy còn ai thực lòng chống CS ?
    Tướng độc nhãn Israel rất sâu sắc : CS sẽ thua khi vào tới SG, vì bọn thân CS, bọn mang chiến thắng cho CS đã mở mắt.

    Trả lờiXóa