Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

MỘT SỐ TRÍCH ĐOẠN TỪ CUỐN TRUYỆN DÀI “ÁC MỘNG” CỦA NGÔ NGỌC BỘI


LTS. Cuốn truyện dài Ác Mộng của Ngô Ngọc Bội được nhà xuất bản Hồng Lĩnh ở California ấn hành vào năm 1992, trong đó chỉ có một dòng ngắn giới thiệu tác giả: “Ngô Ngọc Bội, sinh năm 1929 tại Vĩnh Phú. Biên tập báo Văn Nghệ.” Tác phẩm này có lẽ được viết trong thời kỳ gọi là “cởi trói” ngắn ngủi cho văn nghệ sĩ tại Việt Nam từ sau năm 1986, mô tả  cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc từ khi đất nước chia đôi năm 1954 cho tới khi “sửa sai” vào cuối năm 1956. Đúng như tên gọi của nó, những gì tác giả viết ra quả là một cơn ác mộng có một không hai trong suốt chiều dài của lịch sử đất nước chúng ta, do người cùng dân tộc Việt gây ra với nhau.
Chúng tôi xin trích đăng lại một số đoạn tiêu biểu (với những tựa đề nhỏ do chúng tôi đặt) để độc giả cảm nhận được một phần nào cơn ác mộng đó.


Cố Vấn Trung Quốc

Từ ngày giải phóng biên giới, ảnh hưởng của Trung Quốc ào ạt tràn sang ta. Chiến dịch Hà Nam Ninh mở vào đầu mùa mưa. Đường Mười hai từ Việt Bắc, Hòa Bình xuống; đường số một từ Thanh, Nghệ Tĩnh ra, ban đêm như trẩy hội. Đội công tác của Bảo có mười sáu anh em, làm nhiệm vụ “tuyên truyền tiếp thu vùng công giáo mới giải phóng.” Cứ hôm trước bộ đội đánh vào rút ra, sáng hôm sau anh em đến tuyên truyền chính sách, ổn định dân tình, vận động bà con trở lại làm ăn đi lễ nhà thờ. Lăn lộn hai tháng trời ở vùng Yên Mô, Yên Khánh, mười sáu anh em, “toi mạng” mất hai. Bảo cũng suýt chết mấy lần do bom na-pan, ca-nông Bô-pho hoặc bị địch nống ra đánh úp. Đợt công tác này anh gặp nhiều đoàn cố vấn Trung Quốc. Vì lầy lội, lại ngại phi pháo của Tây, nên cố vấn thường đi bằng cáng. Thực ra Bảo cũng chưa nhìn rõ mặt các cố vấn, về ban đêm chỉ thấy lù lù một đống trên cáng nhưng cũng thấy cố vấn phì phèo thuốc lá. Đằng sau mấy người lỉnh kỉnh gánh hòm xiểng, chậu men, bô đi đại tiểu tiện... Mỗi lần gặp những đoàn như thế Bảo ngây ra nhìn, không dám nói to, trong lòng rời rợi nỗi tự hào và tin tưởng!

*

Chuẩn bị ra tay

Sang khóa thứ ba, không còn gọi là chỉnh đảng nữa, mà đổi là chỉnh huấn. Thời gian kéo dài thêm, chương trình uốn nắn lại; trước chống tư tưởng “tiểu tư sản,” nay chống tư tưởng “tư sản, phong kiến, đế quốc bóc lột.” Lý luận tập trung vào quan điểm lập trường giai cấp. Lấy lập trường giai cấp công nhân làm nền tảng, đấu tranh xóa bỏ chế độ tư hữu... Thế nào là lập trường giai cấp công nhân? Trên bài giảng và cả trong học tập thảo luận diễn ra rất viễn vông, mơ hồ. Những thắc mắc mới xuất hiện, về đế quốc thì lũ “mũi lõ tóc quăn” ai cũng nhìn thấy. Còn tư sản địa chủ là thế nào, là những ai? Tư sản và địa chủ Việt Nam xưa nay có yêu nước và chống ngoại xâm đế quốc không? Thế nào là bóc lột? Những người có trình độ, hiểu biết công việc, tổ chức bày vẽ cho hàng trăm con người dốt nát có công ăn việc làm nuôi sống vợ con, nuôi sống xã hội như thế sao lại bảo người ta bóc lột? Câu tục ngữ “Một người hay lo bằng kho người hay làm,” ta nên hiểu như thế nào? Những người giàu có đi tham gia kháng chiến nay đã là đảng viên có thay đổi thành phần được không?... Nghĩa là trăm nghìn thắc mắc. Bí thư hiệu ủy, một anh chàng mặt còn bấm ra sữa, luôn lên gân lên cốt, đã đi dự tập huấn chỉnh huấn ở Trung ương, rất thích kể truyện phim Trung Quốc cho học viên nghe như phim “Bạch mao nữ,” “Cờ hồng trên núi Thúy,” trước thắc mắc của học viên, anh cũng “mặt ngay cán tàn.” Đành phải cử một hiệu phó hỏa tốc đạp xe lên Thái Nguyên thỉnh thị cấp trên. Và phải chờ cố vấn giải đáp giúp. Khi về truyền đạt lại, có cái cũng thông, có cái còn ẫm ờ lắm, nhưng rồi ai cũng tự an ủi “Cố vấn người ta đã giải đáp là đúng.” Cuối lớp, học viên được phổ biến Luật cải cách ruộng đất của Ban chấp hành trung ương mà Quốc hội mới thông qua.

*

Xử Bắn Tại Chỗ

Tội nguy hiểm nhất và dẫn tới việc thầy Lê Đôn bị tử hình chính là do cái buồng đầy lên những sách. Năm 1949 địch từ Tam Nông, Hưng Hóa tấn công lên, chúng đóng lại hai ngày. Khi đó thầy Đôn đi công tác xa. Tên quan ba Pháp đóng ngay nhà thầy Lê Đôn, khi chúng rút đi chúng không hề tơ hào phá phách một tí gì. Cải cách ruộng đất, thằng Đảo lên tố cáo rằng “khi nó chạy tản cư, gia đình còn sót lại một ít của cải. Tối nó quay về lấy nốt, thì thấy ông Lê Đôn và ông Nhiêu Đặng đang thịt lợn, đồ xôi tiếp Tây.” Một cái tội hoàn toàn bịa đặt dẫn tới thầy Lê Đôn bị xử tử. Cả làng đều thấy đó là sự vu cáo trắng trợn mà không ai dám hé răng!

- Việc họ xử tội thầy diễn ra như thế nào hở em?

- Sau cái đêm người ta tố cáo bố, cả nhà mình bị coi là đối tượng của nông dân. Bố đang ở huyện dưới, bị bắt giam đâu không ai biết. Sáng hôm sau, nông dân vác cờ, biểu ngữ đến cắm trước sân. Rồi họ kiểm kê, niêm phong tài sản. Bộ áo cưới của em hồi ấy cũng bị người ta lấy mất. Của cải trong nhà không còn gì.
Thóc lúa không, nồi niêu không, lợn gà không! Chỉ còn ít bát đĩa cổ, đồ thờ, cái bừa long răng và con trâu suýt soát tuổi em. Ngày xưa em cũng hay đi chăn với anh đấy, sừng nó đã dài bằng sải tay và hàm răng đã gãy hết. Em cũng bị gọi lên truy tiền, vàng bạc. Dì Đỉnh cũng thế. Cuối cùng người ta bóc cả cái kiểng bạc từ ngày bà nội em sắm cho em. Những đứa độc miệng nó nói: bố là phần tử phản động luồn vào Đảng, nắm được chính sách nên đã phân tán hết của cải!

Một hôm từ phía đầu làng có trống ếch và tiếng hô dậy đất: “Đả đảo địa chủ cường hào đại gian đại ác Lê Đôn bóc lột giết hại nông dân!” Em tưởng như sét đánh, tay chân run bần bật. Đám biểu tình diễn qua cổng, thằng Nhẫn nhà mình chạy ra xem. Nó trân trân vênh cái trán dô, giương đôi mắt thô lố ra nhìn, vỗ tay reo. Thằng Đảo thấy liền giơ kiếm trừng mắt hét: “Con cháu địa chủ, phú nông đây, diệt cho hết!” Nhẫn không sợ, chửi lại: “Bố mày!” Em ngồi trong nhà theo dõi, vừa sợ vừa hả quá. Tối đến, chị dâu anh, bà Mảng -hét từ bên nhà ra lệnh: “Con Mẫn sáng mai ra Gò Gành mà dự xử tội thằng Đôn! Không được vắng mặt đâu nhá!”

Sáng hôm sau họ lùa tất cả ra Gò Gành. Người ta bắt em ngồi một chỗ cùng với thằng Vang con Vọng, có du kích ôm súng ngồi canh giữ. Trước mặt là cái bục cao, kết bằng lá si, trên kê bàn ghế. Trước bục đào một cái hố nông, khoảng ngang gối, to bằng nửa chiếc chiếu, lấy đất đắp lên thành cái nấm ngay bên cạnh. Phía bên trái bục khoảng một trăm bước chân, lại thấy đào thêm một cái hố nữa, không biết nông sâu thế nào. Đất đào lên đắp thành mô phía trước như cái mả, trên mô đất chôn cái cọc bằng tre dài lút đầu người. Dân các xóm rầm rập kéo đến đi thành hai hàng dọc. Khẩu hiệu, biểu ngữ giương cao cầm ở tay, hoặc dán trên nón: “Bần cố trung nông đoàn kết kiên quyết đánh đổ giai cấp địa chủ, giải phóng nông dân!”; “Có khổ nói khổ, nông dân vùng lên!”; “Đả đảo tên địa chủ cường hào đại gian đại ác Lê Đôn bóc lột giết hại nông dân!” Người ta tuyên bố phiên tòa bắt đầu. Hà Thị Nhỏ, cố nông, ngồi ghế chánh án. Tào Lao, bần nông, và Nguyễn Văn Đãng, trung nông làm dự thẩm. Thêm một người trong đội cải cách lùn tịt, môi dày, miệng chành, đầu húi móng lừa, đeo kính trắng. Tào Lao tuyên bố: “Đây là tòa án nhân dân đặc biệt xử tội Lê Đôn.” Lệnh cho du kích dẫn bố và dì Đỉnh ra. Ôi, em hồi hộp quá, trống ngực đánh thình thình, nhìn bố lại nhìn dì. Bố vẫn mạnh khỏe, nét mặt bình thản kiên nghị, áo sơ-mi bỏ ngoài quần lấm láp nhầu bẩn. Chắc hàng tháng nay người ta không cho bố tắm. Dì Đỉnh gầy xọp hẳn đi, vẫn ôm cái Khánh bên nách, vì lúc đó mới được bốn tháng, thằng Đỉnh lẵng nhẵng bám theo mẹ. Dẫn đến trước bục, người ta cởi trói và bắt hai người xuống đứng dưới cái hố mới đào. Thằng Đỉnh cũng lăn xuống hố. Du kích xách vứt nó lên. Nó khóc thét. Em vùng dậy, định chạy lại đón thằng Đỉnh liền bị thằng Phong cầm súng đứng gác trừng mắt không cho em nhúc nhích. Nó lôi thằng Đỉnh vứt vào chỗ em và thằng Vang con Vọng ngồi. Thằng Vang con Vọng nhìn bố và dì, nước mắt tràn mi, nức nở. Không thấy mẹ ngồi cùng với chúng em. Cũng không thấy đứng vào chỗ bố và dì. Ngơ ngác mãi em mới thấy mẹ ngồi lẫn với đám anh Hãn, thằng Đảo, mấy người xóm Trung, xóm Dốc và vợ con mấy tên cướp trâu, tù mất tích. Bọn này đứa nào trên đầu cũng chít vuông vải trắng. Đám người ngồi đấy gọi là “các khổ chủ”. Mẹ cũng là khổ chủ. Người lên đấu đầu tiên là anh Hãn, tố khổ bị bố bóc lột anh ta đi ở không công. Rồi đến đám xóm Trung, xóm Dốc tố chuyện bán muối và thiếu thuế bị bắt gà, bắt lợn. Người thứ tư lên đấu là thằng Đảo, vì những lời vu oan giá họa của nó mà bố bị ghép vào tội chết. Không biết bây giờ lương tâm nó có bị cắn rứt. Vu khống đưa người ta đến chỗ chết, không phải là chuyện thường. “Lời nói đọi máu.” Tiếp đến Hà Thị Nhỏ. Nó vu cho bố em hiếp nó ở bờ ruộng. Nó vừa nói vừa khóc lu loa như con điên. Bố là người có học, cao thượng từ bé, không thể làm cái trò nhơ bẩn như thế. Nhưng đã là ác bá, người ta phải gán cho đủ bốn tội: bóc lột, chiếm đoạt, nợ máu và hiếp dâm.

Đến khi mẹ bước lên đấu bố, em thấy lòng tan nát đau đớn. Mẹ cũng chỉ vào mặt bố: “Mày biết tao là ai không Đôn? Tao là Thỏa. Về làm dâu nhà mày từ năm mười bốn tuổi. Hơn ba mươi năm lao động nuôi mày ăn học nên người, lo cho mày giỗ tết, khao vọng... Mày trở thành cao sang quyền quý. Mày yêu con vợ hai của mày là con Đỉnh kia, mày ruồng rẫy tao.” Chuyện mâu thuẫn vợ cả vợ lẽ xưa nay cũng là thường tình, nhưng tại sao mẹ lại dám lên nói điều vô đạo như thế. Lúc này trông mẹ, em thấy xa lạ quá, lại căm giận nữa.
- Phát động quần chúng mà em! Nó không bắt em lên tố bố là may đấy!

- Cũng có đứa cốt cán đến phát động em, nhưng em không nghe. Em bảo: bố tôi đẻ ra tôi, tôi không làm điều vô luân như thế!

Rồi đến một đám vợ con bốn tên ăn cướp, chúng đứng lên một loạt, khăn tang trắng toát, mặc dầu bố chúng đã chết cách đây mười ba năm. Chúng kêu khóc ầm ĩ đòi trả nợ máu. Tào Lao cũng đứng lên nắm tay hô: “Có nợ máu phải trả bằng máu!” Quần chúng lẻ tẻ hô theo. Cuộc đấu tố bố kéo dài hơn hai tiếng. Bọn ngồi trên bục không đứa nào đọc nổi bản án. Người ở đội cải cách -cái người thấp lùn đeo kính trắng ấy- đứng lên đọc thay, quy vào điều này điều khác. Thế rồi thị Nhỏ danh nghĩa là chánh án tuyên bố, lại nói vấp đi vấp lại hai ba lần: “Lê Đôn chịu án tử hình, Thị Tính mười năm tù ngồi!” Một toán du kích lôi dì Đỉnh và cái Khánh đi. Một toán lôi bố lại chỗ cái cọc chôn sẵn, sấn vào bịt mắt. Bố lắc đầu không cho bịt, và bấy giờ em mới hiểu họ chôn cái cọc ấy là để trói bố vào, bắn.

- Xử án không có thầy cãi?

- Không!

- Không được tự thanh minh?

- Không!

- Không cho treo án mười lăm ngày để phạm nhân kháng án?

- Không!

- Bố láo thật!

- Gọi là “Tòa án nhân dân đặc biệt” xử đầu sỏ để trấn áp địch, phát động nông dân, người ta cần bắn ngay trước mặt mọi người kia mà. Một tên phó đội trong đội cải cách đứng ra chỉ huy hành hình bố. Ba du kích vác súng đứng hàng ngang. Không tưởng tượng được, ba người ấy đều là học trò cũ của thầy! Thằng Hưng, thằng Thẩm, thằng Huấn đều đi bộ đội về. Tên chỉ huy hô: “Số một ngắm bắn, bắn!” Súng nổ, bố nẩy vai trái lên. Tưởng đạn đã vào người, nhưng chưa. Nẩy vai lên hình như bố hô khẩu hiệu. “Số hai ngắm bắn, bắn!” Bố lại nẩy vai lần nữa, đạn vẫn không vào người. Trong quần chúng lúc này đã ồn ào: “Bắn oan người ta, thần linh cản đạn không cho trúng đấy!” “Số ba: Bắn!” Bố lại nẩy vai trái. Người vẫn đứng trơ trơ, giương mắt trừng trừng. Cột chôn đã lung lay, giẻ nhét ở miệng tuột ra lòng thòng. Hết phát thứ ba không trúng, mừng quá, cả ba chúng em lao lên. Nhiều người cũng xúm xít lại. Ba du kích bắn không trúng bỏ súng trốn. Tên phó đội mặt tái nhợt, mím chặt môi xông lên. Em níu tay nó. Nó hất em ra, rút phựt con dao nhọn từ trong bọc xuyên phập qua cổ bố từ trái sang phải. Bố nhào vọt qua cái cọc, lao đầu xuống cái hố đào sẵn, máu phun phì phì. Thằng Vang con Vọng lăn đùng ra đất, em cũng ngất xỉu luôn. Anh em họ nhà mình xúm đến khiêng em về nhà này. Em ốm liệt giường, mấy ngày sau mới tỉnh lại, ngơ ngác. Không biết mẹ tố bố xong rồi đi đâu, em ốm cũng không thấy đến. Thằng Vang con Vọng đi đằng nào, thằng Đỉnh, cái Khánh ai trông? Tan đàn sẻ nghé. Em khổ quá, lúc ấy đã có tự tử. Nhưng vì còn anh, còn thằng Nhẫn, chết đi... khổ anh, khổ con.

*

Cuộc Đời Ông Nhiêu Đặng

Bảo đang ngồi với bố mẹ, bỗng có người đẩy cửa bếp. Anh tái mặt đứng lên định chuồn. Chợt ai đó nấp trong bóng tối chặn lối. Người ấy vội ngồi sụp xuống lắp bắp chào. Bảo nhận ra người quen. Anh thì thào:
- Bác Tấn, sao bác lại ngồi xuống đấy?

Bác Tấn vội khoanh tay đổi lời xưng hô:
- Ông đừng có gọi con là bác, con là địa chủ!

- Ấy chết! Bác địa chủ với bần cố nông, chứ không địa chủ với tôi. Bác là ông anh họ của tôi. Máu mủ “dao sắc chém nước chẳng lìa”! Bố mẹ tôi trên nhà, mời bác lên chơi!

Bác Tấn đứng dậy, vẻ thân tình:
- Nói thế, nhưng chú về đây phải cẩn thận. Đến ông Thắng ngoài xóm Trung, đại tá có cả xe con về thăm mẹ, nói năng thế nào, xã nói trói gô cổ bỏ vào chuồng trâu ba hôm, sau phải làm giấy cam đoan người ta mới tha cho!

- Vâng, em cũng phải cẩn thận chứ!

Bác Tấn lên nhà với bố mẹ Bảo. Da bác đen cháy người hom hem, hai mắt trắng dã. Bác chỉ hơn Bảo có tám tuổi, năm nay mới ba mươi nhăm mà trông như ông lão. Bác Tấn là trưởng ngành họ Ngô. Anh em bằng vai nhau tính từ ông cụ tổ bốn đời, đã xẻ ngành xuống gia đình anh. Bốn đời trong nội tộc là ruột thịt, là máu trên nhỏ máu dưới. Hàng năm tết nhất, gia đình anh vẫn đội cỗ lên nhà bác Tấn. Bác lên gặp bố mẹ Bảo, khẽ ngồi ghé xuống phản thì thầm:
- Ông Nhiêu Đặng chết rồi ông bà ạ! Chết vào nửa đêm hôm qua. -Bố mẹ Bảo sững sờ, dịch lại gần chỗ bác Tấn ngồi- Nửa đêm hôm qua con đang ngủ, thấy vợ Nhật đẩy cửa bước vào, báo là ông Đặng chết. Con vội vàng đi ngay. Vào tới nơi, ông đã nguội lạnh. Con cho đun nước tắm cho ông rồi thay quần áo. Khổ quá, ông Nhiêu Đặng không còn cái quần nào, đành lại lấy khố mặc cho ông. Rồi sờ đến đèn: không!
Hương: không! Gạo thổi cơm đơm đầu cũng không nốt! Cả nhà ăn khoai trừ bữa từ lâu. Lo toan mọi việc cho ông xong, con lại luồn về Gò Chùa (Gò Chùa là nơi bác Tấn bị tịch thu nhà, người ta dồn ra làm lều ở đấy) nhúm bát gạo, quả trứng, mấy nén nhang vào thắp cho ông. Thằng phó Nhật nó đần quá, cha mẹ héo như thế mà nó chẳng lo toan một thứ gì. Ngày xưa nó cũng khá, từ ngày bị đấu tố giờ, nó như người mất trí.
Bố lại hỏi:
- Thế cũng không có vải bó liệm?

- Quần áo còn chả có lấy đâu ra vải!

Mẹ Bảo phẫn uất, than thở:
- Cả một cuộc đời bới đất lật cỏ, làm ra bao nhiêu của cải, nuôi sống bao nhiêu con người. Giờ hai tay buông xuôi... Người ta bóc lột ai?

Bố anh bần thần không nói. Bác Tấn giờ mới than thở:
- Còn một chuyện gay quá, ông ạ. Ván lạt chẳng có, chả nhẽ giờ gói chiếu manh mang ông ấy đi chôn hay sao?

Trông bố anh càng cau có thảm hại:
- Ván, giờ chẳng ai có. Nhà tôi còn mấy tấm ván thôi của mẹ già thằng Bảo, bằng gỗ de gừng. Cải táng, tôi mang về cọ rửa cẩn thận. Giờ đang kê bục trong buồng. Hay đem cho ông ấy liệu có được không?

Bác Tấn sáng mắt lên:
- Được, ông ạ! Đem về chúng con bào lại... “Nghĩa tử là nghĩa tận...”

- Nhưng phải kín đáo. Hở ra, mai cốt cán nó lôi tôi ra xã.

Bố mẹ Bảo đi dọn buồng, anh cũng xắn tay áo cùng làm, lôi bốn tấm ván thôi ra. Bố anh còn trèo lên gác chỗ vợ chồng anh nằm, rút nửa tấm ván canh, để mang về làm đáy. Bây giờ vận chuyển bằng cách nào để qua mắt đám cốt cán? Bảo đã thấy nóng mặt, nói năng không giữ gìn:
- Bố cho, bố cứ cho, cho công khai, bố sợ gì? Bác Tấn chạy về bên ấy có ai nữa huy động sang đây mà vác!

Thấy Bảo nói hơi mạnh, mẹ anh vội can ngăn:
- Mày nói nho nhỏ chứ, bố Nhẫn!

Bác Tấn đi ra, cả nhà mong ngóng, nhưng không thấy ai trở lại. Thì ra ông Nhiêu Đặng chết, cánh cốt cán cả bí thư, chủ tịch, công an, dân quân du kích đến khám nghiệm. Thấy ông Đặng chết do bệnh ỉa chảy nên lập tức bắt phải chôn ngay. Thế là không có ván lạt gì! Khốn nạn, tám mươi tư tuổi, ăn đói ăn khát nó mới mắc cái bệnh ỉa chảy “chống chàng” chứ có phải bị truyền nhiễm vi trùng, vi khuẩn gì. Xã bắt thêm mấy địa chủ nữa, gói ông Nhiêu Đặng vào chiếc chiếu rách, bên ngoài ốp một lần giát giường bằng tre, buộc năm khoanh lạt cật như người ta bó giò, luồn đòn hai người khiêng đi, Bảo đứng trong nhà vạch đố vách nhìn ra. Đám ma ông Nhiêu Đặng có khoảng hơn chục người con cháu và bốn vị địa chủ. Trong đó có bác Tấn. Không kèn không trống, không một ai dám khóc. Ôi, cũng là một kiếp người.

Cuộc đời ông Nhiêu Đặng, Bảo biết rất rõ. Chính vì bố anh thường hay lấy cái gương ông Nhiêu Đặng để răn dạy các con. Ông là người có chí làm giàu nhờ thắt lưng buộc bụng và biết tính toán.

Vợ chồng ông Nhiêu Đặng khi lấy nhau cũng nghèo khổ, chuyên làm mướn. Những nhà giàu bỏ vốn ra thuê người phá hoang, được bao nhiêu thì chia đôi. Vợ chồng ông Nhiêu Đặng kiếm được vài sào. Thế là có chút vốn trong tay. Do biết tính toán lo toan làm ăn, thơm tay may miệng, một thành hai, hai thành bốn... Trong làng có mấy gia đình giàu có lâu đời, như cánh Lý Vòng, Chánh Áp, Bá Ngừng... Cậy nhiều của lắm tiền, con cháu chỉ biết hưởng thụ, rượu chè cờ bạc, chơi bời lêu lổng, nên sa sút dần. Rừng ruộng những nhà giàu ấy cứ chuyển dần sang nhà ông Nhiêu Đặng. Nhà ông Nhiêu Đặng giàu lên rất nhanh, nổi tiếng tiền dư thóc mục. Có hàng chục mẫu ruộng cọ tốt, hàng chục mẫu thượng đẳng điền, nhiều rừng ruộng nhất xã. Bốn, năm con trâu cày to như những con voi tơ. Nhưng ông Nhiêu Đặng không hề phát canh thu tô. Ruộng đất do gia đình làm lấy, chỉ mùa vụ mới mướn người, lam lũ suốt ngày đêm. Ông chăm đất như mẹ chăm con. Cày sâu bừa kỹ, xáo đi xáo lại hai ba lần. Phân chuồng đổ, nước đen đặc. Mạ sài chọn lọc, gieo vãi rất công phu. Ruộng của ông liền bờ với ruộng người khác mà bao giờ năng suất cũng gấp rưỡi, gấp đôi.

Giàu có như thế nhưng việc chi tiêu ông lại rất tằn tiện. Nhà vẫn nhà lá, sân vẫn sân đất, chẳng có bàn tủ. Mùa hè không có màn, mưa rét trên đắp chiếu, dưới ổ rơm. Thóc mỗi vụ thu vài chục tấn, phơi toàn bằng nong. Có hàng trăm cái nong phơi thóc. Chính ông Nhiêu Đặng trời nóng tháng năm suốt ngày xoay trần đóng khố, trở từng nong thóc. Người yếu bóng vía thấy cảnh trở thóc cũng đã phát sốt lên. Hai cô con dâu trẻ tuổi còn có đôi chút lụa là, còn thì quần nâu áo vải. Phó Nhật mặc quần “lá tọa,” ông Nhiêu Đặng quanh năm đóng khố, khố vải hoặc khố sồi dấn nâu, cứng như mo. Đi ăn giỗ nhà ai, quần nâu vắt vai, đến cổng mới lẩn vào bụi mặc quần, khố lại quấn lên đầu thay khăn.

Nhưng ăn thì nhà ông Nhiêu Đặng lại không thế. Cá cả, lợn lớn ở chợ Mỗ bao giờ vợ con ông cũng khuân trước tiên. Giỗ tết thịt lợn nạc tày gang, giã giò chả mời anh em họ hàng. Người làm thuê nhà ông ăn uống đầy đủ no nê, công xá bao giờ ông cũng trả gấp rưỡi, gấp đôi nhà khác. Người chậm chạp, lười biếng không dám bén mảng tới, chứ đừng hòng ông mời mượn.

Giàu có thế nhưng ông Nhiêu Đặng chẳng có chức tước gì. Chỉ mua chân “nhiêu” để miễn phu phen tạp dịch. Trong làng, cánh Lý Vòng, Chánh Áp thường khinh bỉ bố con ông: “Một miếng ngoài làng bằng sàng xó bếp,” “Tiền dư thóc mục mà cha con đầu buồi chấm gio!” Sang đời Phó Nhật, con trai ông, anh ta lăn vào tranh giành chức tước với Lý Cương, Phó Đạc, mất tiền của nhưng không có cánh vế, đều thua. Cuối cùng dựa vào thế Chánh Áp ra tranh cử phó lý với Phó Tường. Tri huyện là Nguyễn Bằng nhăm nhe với bọn lý dịch ăn tiền cả hai bên. Huyện Bằng tổ chức sát hạch. Mà sát hạch trình độ thì Phó Nhật thua trông thấy. Vì Nhật vừa ngù ngờ vừa dốt. Chánh Áp bắt ông Nhiêu Đặng mang đấm mõm Huyện Bằng số tiền trị giá hai con trâu đực mộng loại A. Nguyễn Bằng cho cả hai tên Tường, Nhật làm phó lý. Phó Nhật hí hửng treo trống lên đầu nhà làm lễ “Hành tuần,” ngày ngày gõ bung, bung, bung, nhịp ba tiếng gọi vợ và đầy tớ. Được hơn một tháng, Nhật đảo chính Pháp, rồi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ. Phó Nhật gỡ trống vứt lên gác trâu. Đấy! Cuộc đời bố con ông Nhiêu Đặng là vậy. Như mẹ anh than thở: “Suốt đời bới đất lật cỏ, làm ra biết bao nhiêu của cải nuôi sống biết bao nhiêu người, giờ chết bó mảnh chiếu manh.” Chao ôi! Con người đối xử với con người!

*

Lập Hồ Sơ Án Tử Hình

Hồ sơ Lý Đức do Nguyễn Tuấn đội phó, có sự hỗ trợ của Huy Hùng, phụ trách tòa án Cụm đã lược thảo xong. Chỉ còn thiếu về phần ruộng đất. Đã là “cường hào ác bá” trong cải cách ruộng đất thì phải đầy đủ bốn tội: “bóc lột, chiếm đoạt, nợ máu và hiếp dâm.” Ba tội đã đầy đủ. Nhưng nếu căn cứ vào ruộng đất Lý Đức hiện có, chỉ vào diện trung nông. Là ác bá, trước hết phải là địa chủ đã, vì đây là “cải cách ruộng đất” kia mà! Tội báo Tây bắn chết ba cán bộ, đấy là tội chính để dẫn tới tử hình. Tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ mới ký kết, trong đó có điều khoản “Hai bên không được trả thù người kháng chiến cũ (bên ta), người cộng tác với đối phương (bên địch),” bởi thế trong hồ sơ Nguyễn Tuấn đã chữa chệch ra “Lý Đức sai người đánh chết ba mạng để cướp tài sản.” Nguyễn Tuấn, một tay có tài lập hồ sơ để duyệt án tử hình trong cải cách ruộng đất. Việc Lý Đức chưa đủ ruộng đất để lên địa chủ chẳng khó khăn gì. Ba năm làm lý trưởng tề, Lý Đức đã chiếm đoạt ba mẫu ruộng công ở đồng Bát Quái cho phát canh, như vậy là thừa tiêu chuẩn địa chủ. Việc Lý Đức báo Tây bắn cán bộ sẽ phải ép cả cái lưỡi Nguyễn Văn Ngọc ra nhận, vì Ngọc lúc đó làm giao thông bí mật, cán bộ ra vào vùng tề chỉ có Ngọc biết. Còn Lý Đức sai ai đi báo Tây? Tất yếu là phải người có máu mủ tin cậy. Việc này phải bắt cái Thục, con gái Lý Đức, nhận xuống đồn báo Tây. Hàng loạt tình tiết hấp dẫn, lại có đủ quan điểm lập trường... Hồ sơ của Lý Đức được Tuấn chắp nối những sự việc sao cho khớp, hợp lý như người bố cục tiểu thuyết, để cấp trên dễ duyệt, hoàn toàn không cần quan tâm tới tội nhân. Vì “tòa án nhân dân đặc biệt,” xét xử cũng rất đặc biệt. Tội nhân không có quyền cãi, không có thầy cãi, không được thanh minh, hay kháng án. Xử để trấn áp địch, phát động tư tưởng nông dân, đem lợi ích cho cách mạng. “Giết nhầm còn hơn bỏ sót.”

Từ hôm bị bắt, Bông, Tịch, Ngọc được Đội đem gửi ở trại giam sông Bùi. Ngọc là “khâu  yếu nhất” được Đội đưa về tra hỏi đầu tiên. Nhà thờ họ Nguyễn xưa nay Nguyễn Thành vẫn ở nhờ, nay cần có nơi làm việc kín đáo, chắc chắn. Nguyễn Thành phải nhượng cho Đội, về ở với ông Hai Vót. Vợ ông Hai Vót là em bố Nguyễn Thành.

Khoảng tám giờ tối, nhà thờ họ Nguyễn thắp chiếc đèn ba dây, có một bàn và hai ghế tựa. Hôm nay đột phá khâu “tổ chức cũ,” Huy Hùng ra oai. Tuấn làm nhiệm vụ ghi chép. Huy Hùng ba mươi hai tuổi, tướng ngũ đoản, da láng bóng, tóc cắt móng lừa, trán thấp, mũi to, môi dày và thâm, chành ra như miệng cá ngão.
Trông thấy Huy Hùng, người yếu bóng vía phát sợ. Hùng giống những vai đao phủ trong các vỡ cải lương.
Du kích xóm Thượng được bố trí canh gác vòng ngoài. “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”! Mọi việc chuẩn bị xong, du kích giải Ngọc vào. Hai tay Ngọc bị trói chặt cánh khuỷu, buộc tiếp một cái dây ròng dài dẫn đi. Ngọc còn quá trẻ, mới hai mươi nhăm tuổi, tóc cắt ngắn, da thiết bì, mặt chữ điền, mắt một mí. Đoán cũng biết anh ta là một tay gan lì. Ngọc vừa bước vào, Huy Hùng đã hất hàm hỏi:
- Ngọc!

- Dạ.

- Mày theo lệnh nào đi giật mìn để uy hiếp dân?

- Dạ, con trót dại đem mìn đi ném cá!

- Mày đừng có nói láo, cá nào ở bến đò mà mày ném?

- Dạ, con ném ở Vụng Rô, cách bến đò nửa cây số.

- Mày láo! Ai bảo mày phá hoại vũ khí, gây hại cho ta, làm lợi cho địch?

- Con đã trót dại.

- Còn khẩu tiểu liên?

- Con trao cho du kích giữ, nó đã sơ suất đánh mất nhíp đạn, cái đó không có gì quan trọng, chữa rất dễ.
- Ai bảo mày bức tử Nguyễn Thị Lợi, nhằm mục đích gì?

- Thị Lợi tự tử vì chán đời, nó bị chồng ruồng rẫy.

- Nghĩa là mày không có tội gì?

- Dạ. Đội trông lại, Đội thương!

- Tao nói cho mày biết, đừng có loanh quanh. Ông bà nông dân đã tố cáo hết tội trạng của mày rồi. Mày cũng chỉ là thành phần nông dân, mày bị bọn địa chủ cường hào ức hiếp bóc lột. Mày phải biết đứng về phía nông dân mà vạch tội “kẻ thù giai cấp.” Mày bao che cho nó là mày chết, mày chết theo bọn cường hào ác bá, nghe không? Đây, biên bản của bà con nông dân tố cáo mày đây. Chỉ ký vào là xong, nghe không?

Nguyễn Tuấn xăng xái đem tờ biên bản lại đặt trước mặt Ngọc. Ngọc đọc từ từ, mặt dần dần thất sắc. Rồi đột nhiên Ngọc ngẩng mặt đẩy tờ giấy vào giữa bàn:
- Tất cả những tội này, tôi đều không có, xin Đội tha!

- “Bốp! Bốp!” -Không phỏng? Thế ra ông bà nông dân đặt điều vu oan mày à?

- Không được truy bức, nhục hình, các ông phạm chính sách của cấp trên.

- “Bốp! Bốp! Bốp!” - Đường lối chính sách này! Ông sẽ bắn cả mày, nghe chửa? Mày đã tìm đường báo tin cho thằng Lý Đức bằng cách nào, để Tây phục kích bắn chết ba cán bộ? Chỉ có mày làm giao thông bí mật biết những việc đó.

- Những năm đó, tôi còn lưu vong ngoài Đầm Đa, tôi không biết.

Mày không biết, ông bà nông dân biết, mày cãi đằng trời! Mày sẽ vỡ sọ vì cái đầu ương bướng của mày!
Cuộc hỏi cung của Huy Hùng và Nguyễn Tuấn làm cho Bảo đứng ngoài đốc gác thấy gai người, anh phải lảng xa, Ngọc không chịu ký vào biên bản viết sẵn. Hai người cho du kích dẫn Ngọc đi.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét