Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Bauxite Việt Nam - Lại một bước lấn tới hết sức trắng trợn của Trung Quốc tại Biển Đông


Theo tin nóng mà cộng tác viên của BVN, ông Nguyễn Thái Sơn vừa chuyển đến cho chúng tôi thì Luật sư Vũ Đức Khanh mới gửi một Thông báo về việc Hoa Kỳ triệu tập Đại sứ Trung Quốc để bày tỏ mối quan ngại trước việc Trung Quốc cho in bản đồ có hình bản đồ lưỡi bò phi pháp trên loại hộ chiếu phổ thông gây căng thẳng cho nhiều nước ở vùng Đông Nam Á và cả châu Á Thái Bình Dương. Cũng trong buổi đối thoại này, Hoa Kỳ còn phản đối việc Trung Quốc tự ý cho mình quyền khám xét tàu thuyền qua lại trên biển Đông kể từ ngày 1-1-2013 trở đi. Thông báo như sau: 
THÔNG BÁO
Theo một nguồn tin giấu tên từ BNG Hoa Kỳ cho biết chiều nay 29/11 vào lúc 3:30 pm Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campbell sẽ có buổi làm việc riêng với Đại sứ TQ tại Mỹ ông Zhang Yesui tới BNG. Nói đúng hơn là BNG HK đã triệu tập Đại sứ TQ đến để (1) nêu quan ngại và tìm lời giải thích của TQ về vụ "hộ chiếu lưỡi bò" và; (2) HK cũng sẽ đưa lời phản đối việc TQ cho phép từ 1/1/2013, cảnh sát tỉnh Hải Nam sẽ “lên tàu và khám xét” thuyền bè nước ngoài qua lại khu vực tranh chấp trên biển mà Trung Quốc coi là ‘lãnh hải’ của họ ở Biển Đông. Đối với HK, hành động này biểu hiện sự "leo thang không cần thiết" và HK vô cùng quan ngại đến sự "tự do lưu thông hàng hải" trong khu vực. HK nhấn mạnh "tự do lưu thông hàng hải" là "quyền lợi quốc gia" của HK như lời của Ngoại trưởng Hillary Clinton đã từng tuyên bố: "The U.S. has a national interest in the maintenance of peace and stability, respect for international law, freedom of navigation, unimpeded lawful commerce in the South China Sea”.
Theo nguồn tin trên thì hiện giờ đã lưu hành tại BNG HK một bản thảo của một "Press Release" mà BNG HK sẽ đưa ra sau buổi họp chiều nay với Đại sứ Zhang với nội dung được cho là "mạnh mẽ" nhất từ phía HK từ trước giờ.
Chúng tôi sẽ cập nhập thông tin vào thời điểm thuận lợi nhất.
Trân trọng.
LS Vũ Đức Khanh

Rõ ràng Hoa Kỳ đã rất nhạy bén trước âm mưu mới hết sức nguy hiểm và cũng là một hành vi cực kỳ láo xược của bọn cộng sản Trung Hoa. Hàng trăm trí thức và nhân dân Việt Nam vừa ký vào bản Tuyên bố phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc dùng chiêu in “bản đồ lưỡi bò” trên hộ chiếu mới cấp cho người dân nước chúng để hăm dọa các nước có chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải trên những vùng mà lưỡi bò của bè lũ Tập Cận Bình thè tới. Chắc chắn bước đi mới này của lũ quỷ khốn nạn đó sẽ còn làm nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước Đông Nam Á như Philipinnes, Malaysia... căm giận ngút trời. Không chỉ thế, đây là một sự thách thức với cả thế giới, ít ra là với những nước có giao thương đường biển tới Đông Nam Á và Đông Á. Như ngọn lửa phụt lên từ chiếc nồi sup-de, phản động lực của cả vùng Biển Đông, cả vùng châu Á Thái Bình Dương sẽ chuyển sang một hình thái gay gắt như thế nào, chúng ta chưa thể nào lường hết.

Trở lại với Việt Nam, đến nước này mà người cầm chịch đất nước vẫn giữ nguyên đường lối hữu hảo lịch sự – thực chất là cúi đầu – trước bọn cầm quyền Bắc Kinh, ra sức cung cúc thực hiện mấy phương châm nhảm nhí “4 tốt” và “16 chữ vàng” mà bọn chúng xỏ xiên ban cho, thì có lẽ mọi sự không thể nào như cũ. Trong tâm lý toàn thể dân chúng – tức tâm lý đám đông, Psychologie des foules, một khái niệm mà Gustave Le Bon (1841 - 1931) đề xuất, như một hiện tượng xã hội tuyệt không thể xem thường – chắc chắn có một chuyển biến mau lẹ, và những trò diễn mà lâu nay mọi người vẫn cố bấm bụng để xem như một “chính kịch” sẽ đến lúc hoàn toàn biến thành... một tấn đại bi hài kịch với những trận khóc cười xen nhau đến vỡ bụng.
Bauxite Việt Nam

1. Trung Quốc tự cho quyền chận bắt và trục xuất tàu nước ngoài tiến vào Biển Đông

Trọng Nghĩa 


Tàu hải giám Trung Quốc số 84 và số 17 trên Biển Đông. Ảnh chụp ngày 26/05/2011 ngoài khơi tỉnh Phú Yên (miền Trung Việt Nam) - Reuters/Petrovietnam

Mối lo ngại về nguy cơ quyền tự do hàng hải trên Biển Đông bị tham vọng chủ quyền của Trung Quốc giới hạn như vừa được chính nước này xác nhận. Theo báo chí Trung Quốc, vào hôm nay, 29/11/2012, tỉnh Hải Nam, địa phương được Bắc Kinh trao quyền quản lý Biển Đông, vừa thông qua các quy định mới cho phép cảnh sát biên phòng quyền «lên tàu, tịch thu giữ và trục xuất các tàu ngoại quốc xâm phạm trái phép vùng biển của tỉnh». Quyết định này bị coi là một động thái mới của Trung Quốc trong mưu toan độc chiếm Biển Đông.

Theo nhật báo Anh ngữ China Daily, sau khi được tỉnh Hải Nam thông qua vào hôm thứ Ba, 27/11, hệ thống quy định này sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2013. Sắp tới, tỉnh Hải Nam sẽ công bố toàn bộ các quy định.

Trước mắt, báo chí Trung Quốc tiết lộ, trong số các hoạt động bị coi là trái phép, có việc xâm nhập vùng biển của tỉnh mà không có phép, dừng lại hay thả neo bất hợp pháp, phá hoại các hệ thống bảo vệ bờ biển… và «thực hiện các chiến dịch quảng cáo gây nguy hại cho an ninh quốc gia Trung Quốc».

Bình thường ra, các quy định trên đây không có gì đáng nói. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là tỉnh Hải Nam chính là địa phương nơi chính quyền Trung Quốc vừa cho thành lập đơn vị hành chánh «Thành phố Tam Sa», có trách nhiệm quản lý hầu như toàn bộ vùng Biển Đông mà Bắc Kinh cho là thuộc quyền sở hữu của họ, bất chấp các tuyên bố chủ quyền của Philippines, Việt Nam, Brunei, Malaysia và Đài Loan.

Nói cách khác, phạm vi hoạt động của cảnh sát biên phòng tỉnh Hải Nam bao trùm một diện tích khoảng 2 triệu cây số vuông biển đảo, bao trùm các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và Trung Sa.

Khi được hỏi về sự kiện này, ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc vào hôm nay đã khẳng định : «Đó là quyền hợp pháp của một Nhà nước có chủ quyền để thực hiện công việc quản lý hàng hải».

Còn Hoàn cầu Thời báo thì dẫn lời ông Lý Triệu Kiệt (Li Zhaojie), một Giáo sư tại Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh), dự đoán rằng các quy định mới được thông qua có thể dẫn đến việc thực thi chặt chẽ quyền trục xuất tàu ngoại quốc bị cho là thâm nhập bất hợp pháp vào lãnh thổ của Trung Quốc.

Theo vị Giáo sư này, đó là các quyền được một công ước Liên Hiệp Quốc thừa nhận: «Trong quá khứ, khi tàu nước ngoài vi phạm công ước Liên Hiệp Quốc, điều tốt nhất mà lực lượng tuần tra có thể làm là đuổi họ ra khỏi vùng biển của Trung Quốc. Quy định mới sẽ thay đổi tình trạng này, và cung cấp cho lực lượng tuần tra phương tiện pháp lý để thực sự làm công việc của mình».

Báo China Daily còn tiết lộ là Lực lượng Hải giám Trung Quốc có kế hoạch cử thêm tàu tuần tra xuống Biển Đông.

Theo giới quan sát, quyết định tự cho quyền chặn bắt các tàu ngoại quốc đi vào vùng lưỡi bò mà Bắc Kinh đòi chủ quyền là một hành động leo thang mới của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông, sẽ làm tình hình căng thẳng thêm lên.

Động thái này nối tiếp theo một hành đông bị coi là khiêu khích khác: Thể hiện các yêu sách chủ quyền trong hộ chiếu mới, trong đó có việc in tấm bản đồ 9 đường gián đoạn. Hành vi này ngày càng bị nhiều nước phản đối.

T.N. Nguồn: Viet.rfi.fr

2. TQ sẽ khám tàu nước ngoài ở Biển Đông?

'TQ đã có nhiều tàu hải giám hoạt động tại Biển Đông và Hoa Đông

Cảnh sát Hải Nam đã được trung ương trao quyền ‘khám xét tàu thuyền’ đi vào vùng mà Trung Quốc coi là ‘lãnh hải’ của họ ở Biển Đông.

Các hãng thông tấn nước ngoài từ Bắc Kinh hôm 29/11/2012 cho hay từ 1 tháng 1/2013, cảnh sát tỉnh Hải Nam sẽ “lên tàu và khám xét” thuyền bè nước ngoài.

Họ cũng sẽ cầm giữ tàu thuyền mà phía Trung Quốc cho là “vi phạm lãnh hải” của Trung Quốc.

Cho tới nay, các nguồn nước ngoài đều trích dẫn bản tiếng Anh của báo Trung Quốc, tờ China Daily nói các quy định mới cho phép Hải Nam thực hiện việc khám xét và bắt giữa tàu thuyền nước ngoài từ năm mới.
Tuy vậy, hiện không rõ Trung Quốc muốn nói đến cả các tàu khách và tàu hàng hay các loại tàu thuyền nào nữa.

Dù thế, hãng tin Reuters khi đưa tin này đã viết đây là động thái có thể sẽ làm tăng thêm căng thẳng trong vùng biển ‘Nam Trung Hoa đang tranh chấp’.

Trang của SkyNews ở Anh thì đăng tấm bản đồ ‘lưỡi bò’ với chú thích hiện Trung Quốc ‘đang đòi chủ quyền gần hết biển Nam Trung Hoa’.

SkyNews cũng nói họ nhìn thấy ảnh vệ tinh ghi nhận các hoạt động xây cất của cả Trung Quốc và Philippines đang tăng mạnh ở một hòn đảo thuộc Trường Sa.

'Thật là quá thể'
"Nếu đúng thế thì đây sẽ là lo ngại cho Philippines và cộng đồng quốc tế"-Raul Hernandez
Bài của phóng viên Mark Stone từ Bắc Kinh nói tuy các chuyên gia không lo sợ sẽ có xung đột quân sự ngay lập tức tại khu vực Biển Đông, hoạt động ‘gần sát nhau’ của hải quân các nước có thể làm nổ ra vấn đề nghiêm trọng hơn.

Báo chí quốc tế cũng nói Trung Quốc sẽ “thay thế các tàu hải giám mới” để hoạt động trong vùng biển Đông và Hoa Đông, nơi hiện họ có tranh chấp với Nhật Bản về Điếu Ngư/Senkaku.

Reuters hôm 29/11 trích lời giới chức Philippines nói hành động của Trung Quốc từ năm 2013 sẽ “vi phạm quyền hàng hải quốc tế”.


Tàu cá của Trung Quốc tại vùng Trường Sa

Trung Tướng hải quân Juancho Sabban nói:
“Thật là quá thể. Trong khi chúng tôi đang tìm mọi biện pháp hòa bình thì họ lại làm thế”.

Còn ông Raul Hernandez, phát ngôn viên cho Bộ Ngoại giao Philippines thì nói Bộ của ông còn đang kiểm chứng tin báo chí về quy định mới của Trung Quốc.

Tuy nhiên, ông nói, nếu đó là sự thật thì “đây sẽ là lo ngại cho Philippines và cộng đồng quốc tế”.

Cho đến chiều 29/11 giờ Hà Nội, chưa thấy giới chức Việt Nam lên tiếng về chuyện này.

Động thái mới đây nhất của Trung Quốc cho in đường lưỡi bò trong hộ chiếu điện tử mới cấp cho công dân họ đã gây ra phản đối và hành động đáp trả của nhiều nước châu Á, gồm cả Việt Nam.

Trong những năm qua, đã nhiều lần Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam đánh bắt cá trên Biển Đông thuộc vùng gần Hoàng Sa và có lúc đòi tiền chuộc rồi mới thả họ về.

Nhưng chuyện công bố để cảnh sát Hải Nam lên tàu và khám xét là diễn biến mới.

Nguồn: bbc.co.uk
Đăng lại từ Bauxite Việt Nam

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nhà Giáo Ưu Tú & Nhà Giáo Hại Dân


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Sự khủng hoảng giáo dục trước hết là khủng hoảng về chất, điều đó cũng có nghĩa là giáo dục không chỉ tụt hậu mà đã đi lạc hướng, trở thành lạc lõng, trong trào lưu chung của thế giới hiện đại. - Nhà giáo Hoàng Tụy


Nguyễn Thiện Nhân, Deputy Prime Minister of Vietnam and Minister of Education and Training of Vietnam.  Source: en.wikipedia.org.

Việt ngữ có hai chữ “nhà tôi” (nghe) vừa thân thương, vừa trang trọng. My wife và ma femme của Anh với Pháp, khi so với nhà tôi, đều trở thành xoàng xĩnh!

Mà chả riêng gì “nhà tôi” đâu nhá. Mọi chức danh, cũng như nghề nghiệp – trong tiếng Việt – hễ cứ bắt đầu bằng chữ “nhà” là ... có giá thấy rõ: nhà qúi tộc, nhà ngoại giao, nhà truyền giáo, nhà ngoại cảm, nhà bình luận, nhà thiên văn, nhà thám hiểm, nhà bác học, nhà nghiên cứu, nhà khảo cổ, nhà yêu nước, nhà chí sĩ, nhà cách mạng, nhà soạn kịch, nhà soạn nhạc, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo ...

Trong những “nhà” vừa kể (có lẽ) nhà giáo là giới gần gũi nhất, và được nhiều người tin tưởng nhất – trừ hai ông giáo Sầm Đức Xương và Nguyễn Thiện Nhân.

Ngày 20 tháng 11 năm 2012, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã trao danh hiệu “ưu tú” cho nhà giáo Nguyễn Thiện Nhân. Sự kiện này khiến cho “dư luận gầm gừ,” như cách tường thuật (rất giận dữ) của bác Cánh Cò:
“Theo báo chí loan tải năm nay có 40 Nhà giáo nhân dân và 570 Nhà giáo ưu tú trên khắp mọi miền đất nước được trao tặng danh hiệu cao quý này, trong đó có một ‘suất’ cho Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân!

Dư luận gầm gừ, báo chí tiếp tục bình luận và người dân vẫn cắm cúi với lon gạo của mình. Người ta không khỏi chạnh nghĩ đến cái danh hiệu Nhà giáo ưu tú có làm ông Phó Thủ tướng xấu hổ hay không khi chung quanh ông, những người thật sự ưu tú lại không được cái vinh dự này. Còn ông, nếu có một giải thưởng thích hợp nhất thì chỉ nên cho ông nhận giải ‘Nhà giáo ưu tiên’ là cùng.

Bởi làm tới chức Phó Thủ tướng mà lại xếp hàng đặt cục gạch trước cái danh hiệu ‘ưu tú’ với những nhà giáo khốn khổ, bệnh hoạn hy sinh cả đời trong sự nghiệp giáo dục và cuối đời cần một danh hiệu dù là ‘đỏm đáng là chính’ để kiếm thêm thu nhập thì sự giành giật ấy phải nói là bản năng của một đứa con nít chưa biết phân biệt thế nào là điều cần nên tránh và nhất là em chưa học được bài học nhường nhịn cho đứa trẻ khác không có cơ hội bằng mình.”

Bác Trương Duy Nhất cũng “gầm gừ” dữ dội:
“Trên cương vị Phó Thủ tướng như bây giờ, ông Nguyễn Thiện Nhân có cần phải ôm nhận thêm cái danh hiệu ‘ưu tú’ nữa? Sau bao nhiêu những hậu họa, tì vết để lại cho ngành giáo dục, liệu ông Nhân có còn xứng đáng làm thầy, chứ đừng nói đến chữ ‘ưu tú’ (xem lại bài Giáo dục thời bất Nhân).”

Tui “xem lại” thử, và thấy cái ông Nhân này kỳ thiệt:
“Trước sự chìm khuất của các đời Bộ trưởng tiền nhiệm, ông Nhân đột nhiên nổi như một vị Bộ trưởng có trách nhiệm và có tâm, có khao khát, ước vọng thật sự ở việc ‘làm mới’ sứ mạng giáo dục. Hàng loạt ý tưởng và chính sách từ ông đã thật sự cuốn thổi mặt bằng giáo dục sôi sóng. Đây là những chủ trương, phong trào đã trở thành ‘thương hiệu’ cho giáo dục thời Nguyễn Thiện Nhân: cuộc vận động hai không: ‘Nói không với tiêu cực trong thi cử và nói không với việc chạy theo thành tích’; rồi sau thêm mấy không nữa như: ‘nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo’ và việc ‘ngồi nhầm lớp’ (cho học sinh không đạt chuẩn lên lớp), và’ nói không với đào tạo không theo nhu cầu xã hội’…

“Thêm nữa, chính ông Nhân cũng là người đưa ra ý tưởng khá kỳ cục gây nhiều bàn cãi: Ghi số tiền vay nợ vào bằng tốt nghiệp của sinh viên. Cũng chính ông làm được điều mà các đời Bộ trưởng trước không dám làm hoặc không làm được: tăng học phí!

 Nhưng cũng chưa thấy thời nào, triều đại nào mà ngành giáo dục lại phơi bày một khuôn diện nhem nhuốc, bầm vấy như thời ông Nhân. Học sinh đâm chém nhau, đâm trọng thương cả thầy cô giáo, nữ sinh cũng bè hội đồng đánh nhau để… quay clip chơi, bỏ học dắt nhau vào nhà trọ ‘thí nghiệm’ như người lớn, cô giáo thì dán băng keo bịt miệng đến chết con trẻ, thầy giáo thì bán điểm gạ tình, mua trinh, hiếp dâm học trò… “

Nhà báo Cánh Cò và Trương Duy Nhất tuy đều hơi nặng lời nhưng không ai có chút ác tâm nào với ông giáo Nguyễn Thiện Nhân. Cả hai chỉ bầy tỏ sự thất vọng, bởi nhiều sự kiện khách quan, chứ không “ngậm máu phun người” – như những ký giả (hay còn có tên gọi chính xác hơn là kỹ giả) của nhà nước, khi họ viết về một nhà giáo khác:

- “Đinh Đăng Định – Kẻ Phản Quốc Hại Dân,” Thiên Triều, báo Công An Đà Nẵng.

- “Bắt Đối Tượng Chống Phá Nhà Nước Đinh Đăng Định,” C. Nguyên, báo Pháp Luật.
- “Thầy Đinh Đăng Định – Thiếu Đạo Đức Của Một Nhà Giáo,” Hoài Thu, Bạch Hoá Dân Chủ.

Nhà giáo hại dân Đinh Đăng Định. Ảnh: congan.com.vn

Họ kết tội sẵn cho nhà giáo Đinh Đăng Định (thiếu đạo đức, phản quốc, hại dân, chống phá nhà nước...) thay cho toà án. Thái độ hung hăng của cả giới truyền thông quốc doanh khiến tôi tò mò muốn biết (thêm) xem ông Đinh Đăng Định đã “phạm lỗi lầm gì” khiến cho cả một đám người xúm vào ném đá (rào rào) như thế?
Và tôi tìm được một bức thư ngỏ mà nhà giáo Đinh Đăng Định viết trước khi bị bắt. Xin ghi lại nguyên văn, để rộng đường dư luận:

Daknong 18-10-2010.
Tôi là Đinh đăng Định, 47 tuổi.
Hiện làm giáo viên tại Trường THPT lê quý Đôn Daknong có chữ ký thứ 629 (đến 18-10-210) bản kiến nghị dừng dự án Bô Xít Tây Nguyên đang phát trên mạng BVN.
Sáng nay(18-10) ông HT trường THPT Lê Quý Đôn- Tuy Đức-Daknong đưa cho tôi giấy mời do Thượng tá Đinh Tấn Lượng trưởng phòng ANCTNB sở CA Daknong ký .
Mời tôi có mặt tại Trụ sở CA huyện Dakrlap hồi 8 giờ sáng mai để làm việc. Không nói lý do.
Suy xét, thấy mình không làm gì liên quan tới chính quyền. Nếu có chỉ là ký vào kiến nghị dừng dự án Bô- Xit do nhóm các nhà trí thức yêu nước : viện IDS cũ và BVN khởi thảo hôm 9-10-2010 đã loan tải trên BVN.
Kỹ hơn một chút tôi còn thấy mình, đã phát biểu tại phiên họp công đoàn ngành GD tỉnh Daknong hôm 14-10-2010 tại VPSGD Daknong, rằng:1/ yêu cầu CĐNGD (công đoàn ngành GD) lên tiếng,cứu hai nữ sinh (Thúy và Hằng) ở Hà Giang là nạn nhân bị giới quan chức HG(cầm đầu là cựu CT tỉnh NT-Tô) cưỡng dâm thành phạm nhân đang ở trong nhà giam, ra khỏi nhà giam. Làm thế là góp phần xây dựng môi trường GD thân thiện.
2/ yêu cầu CĐNGD lên tiếng về dự án Bô-Xít Daknong, tôi kêu gọi giáo chức Daknong ký vào Kiến Nghị đang phát trên mạng truyền thông hợp pháp.
Cả 2 ý kiến đều không nhận được phản hồi đích đáng, dù là phản đối.
Ông CB tuyên giáo LĐLĐ Tỉnh có mặt nói: có quặng thì phải khai thác thôi…Một CBCĐ ở một huyện thì nói: Việc ở HG cao xa quá!…
Mở ngoặc: tôi là chủ tịch CĐ trường THPT Lê Quý Đôn; UVBCHCĐ ngành GD Daknong. Tuy nhiên, ngay sau giây phút đó, tôi tuyên bố từ nhiệm cả 2 chức vụ, minh bạch trước hội nghị Tổng Kết Năm Học của CĐNGD Daknong. Ra về.
Xét thấy những gì mình đã nói và làm chỉ minh chứng về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm của con dân Việt với đất nước; trách nhiệm của một nhà giáo với HS, của bậc phụ huynh với con cái. nhất quyết không thể coi là chống đối nhà nước được.
Hôm nay 18-10-2010 tôi nhận giấy mời do CACTNB gặp, để làm gì? Tôi không thể không đạt nhiều dấu hỏi. Bởi thực tế ở xã hội VN hiện đại tình trạng công quyền( cả CA) tùy tiện hành dân, giết dân là sự thật.Để bảo vệ an toàn cá nhân, tôi sẽ không tới CA theo giấy mời này chừng nào lý do chính đáng chưa được minh bạch.
Suy xét rộng hơn, thì hôm 9-10-2010, trước giờ Đại Lễ chính 1000 năm Thăng Long.
Tôi có, trả cho VNPT( trạm viễn thông Kiến Đức) một Modem kết nối internet, vì nó kết nối không thành và tôi có viết tờ giấy trả với nội dung (trích nguyên văn): đề nghị VNPT ném modem Made In China này vào mặt bọn…đảng cộng sản chung quốc và hãy chuyển thị trường kinh doanh sang Bắc Hàn và Trung Cộng…Viết thế này chắc cũng không phải tội lỗi gì, nếu tội có CA hãy tìm giùm coi.
Là độc giả thân thiện của trang mạng BVN tôi gửi nơi đây lời cám ơn sâu sắc tiếp nhận thư này và,đề nghị loan tải như một thư ngỏ gửi tới ông Bộ trưởng CA Lê Hồng Anh, ông Bộ trưởng GD Phạm Vũ Luận và Nhà Cầm Quyền tỉnh Daknong và cả ông Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng nữa văn thư này và lời nhắn:Yêu nước không có độc quyền;Tự do ngôn luận là giá trị căn bản của nhân loại.
Độc tài hết thời rồi.
Thưa Quý Ngài.
ĐĐĐĐT 01266745031mail. dinhdangdinh@gmail.com
Theo BBC, nghe được vào ngày 21 tháng 11 vừa qua:”Ông Đinh Đăng Định, giáo viên Hóa ở tỉnh Đắc Nông, đã bị tòa giữ nguyên mức án sơ thẩm là sáu năm tù trong phiên phúc thẩm vừa kết thúc sáng nay. Ông Định bị kết tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật hình sự.”

Bản tin (thượng dẫn) còn trích lời của quan toà, tỉnh Dak Nong, phê phán nhà giáo Đinh Đăng Định là “hạn chế về nhận thức” và “có những suy nghĩ không phù hợp.” Cùng lúc, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã trao danh hiệu “ưu tú” cho nhà giáo nhà giáo Nguyễn Thiện Nhân.

Những điểm tương phản trong sự nghiệp của “nhà giáo ưu tú” Nguyễn Thiện Nhân và “nhà giáo hại dân” Đinh Đăng Định giúp cho người ta hiểu tại sao “VN đang ngụp lặn ở nửa dưới của thế giới và với xu hướng ngày càng chìm sâu, thụt lùi xa so với láng giềng ” –  theo như công bố của Tổ Chức Sở Hữu Trí Tuệ Toàn Cầu (World Intellectual Property Organization), được đăng tải trên báo Dân Trí, số ra ngày 08 tháng 8 năm 2012.

Hòa Ái - Sự khác biệt ở “Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần 4”


Hòa Ái, phóng viên RFA

Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ 4 diễn ra tại TP. HCM trong 3 ngày từ 19 đến 21/11. Giáo sư Carlyle Thayer dành cho đài ACTD cuộc phỏng vấn sau khi tham dự hội thảo này.


Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ tư do Học Viện Ngoại giao phối hợp cùng Hội Luật Gia Việt Nam tổ chức trong hai ngày 19 và 20 tháng 11 tại TPHCM. - Photo courtesy of sgtt

Lên án trực tiếp
Hòa Ái: Trước tiên, xin cảm ơn Giáo sư Carlyle Thayer dành cho đài ACTD buổi phỏng vấn này. Thưa Giáo sư, Giáo sư có nhận thấy sự khác biệt đặc biệt nào trong Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ 4 so với 3 lần Hội thảo trước đây không?

GS Carlyle Thayer: Cuộc hội thảo lần này có 15 chủ đề thảo luận, tôi chỉ tham dự 1 chủ đề mà thôi. Trong buổi thảo luận tôi tham dự, chủ đề về mối quan hệ quốc tế có sự khác biệt rất lớn giữa đại diện của Trung Quốc với Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng thuộc Đại học George Mason ở Virginia, Hoa Kỳ.

Các chuyên gia Trung Quốc cho rằng cuộc hội thảo lần này không phải là một hội thảo khoa học bởi vì các diễn giả tham dự đều lên tiếng phê phán Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở vùng biển Nam Trung Hoa (tức khu vực biển Đông). Đây là nét khác biệt trong hội thảo lần này. Bởi vì trước đó, vấn đề chính trị ở biển Đông không được đề cập đến một cách trực tiếp. Tuy nhiên, trong ngày cuối cùng, qua báo cáo của 15 chủ đề thảo luận khác nhau thì rõ ràng cho thấy Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa là đơn vị hành chính quản lý hầu hết biển đảo ở vùng biển Đông.

Hòa Ái: Trong 3 ngày hội thảo, có đề cập nào về yếu tố đường lưỡi bò gây ra tình trạng căng thẳng hơn ở Biển Đông không, thưa Giáo sư?

GS Carlyle Thayer: Dĩ nhiên vấn đề về đường lưỡi bò từ năm 2009 cho đến hội thảo lần này thì mọi người đều lên tiếng chỉ trích. Tuy nhiên, động thái Trung Quốc vừa phát hành hộ chiếu có in hình lưỡi bò là tiêu điểm bao trùm trong hội thảo lần này.


GS Nguyễn Mạnh Hùng (phải) phát biểu tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ 4 sáng ngày 27 tháng 11. Courtesy sgtt.

Hòa Ái: Và các chuyên gia Trung Quốc lên tiếng nói gì trước vấn đề này?
GS Carlyle Thayer: Họ không nói gì về vấn đề này. Có một đại diện Trung Quốc, giám đốc Viện Nghiên cứu Học thuyết Marxist. Đại diện cho Việt Nam lại theo trường phái Marxist cũ. Khi Việt Nam nêu lên vấn đề thì phía Trung Quốc không có sự chuẩn bị để tham gia tranh cãi về vấn đề này. Họ đã không có lời biện hộ nào về hộ chiếu mới của Trung Quốc.

Gậy ông đập lưng ông

Hòa Ái: Thưa Giáo sư, nhận định chung của Giáo sư qua Hội thảo lần này như thế nào?

GS Carlyle Thayer: Đây là lần thứ hai mà vấn đề quan hệ quốc tế được đề cập đến. Và bây giờ chủ đề về quan hệ hội nhập được thiết lập trong hội thảo. Việt Nam cần nghiên cứu những đặc điểm của lãnh vực này.
Hãy nhìn mối quan hệ của Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ để có thêm thông tin mà trước đây họ chưa thảo luận qua. Việt Nam cần phải nỗ lực để hội thảo Việt Nam không chỉ dành cho những chuyên gia nước ngoài đến tham dự mà thôi. Việt Nam cần phải vận động các trường Đại học ở nước ngoài thành lập “Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam” để khuyến khích những ai quan tâm đến Việt Nam có thể nghiên cứu nhiều hơn nữa về quốc gia này. Có như vậy Việt Nam mới có sự hỗ trợ mạnh mẽ lớn từ cộng đồng quốc tế một khi có nhiều người tập trung nghiên cứu về Việt Nam.

Hòa Ái: Câu hỏi sau cùng, Giáo sư nhận định gì khi Hoa Kỳ, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á gồm Việt Nam, Philippines, Indonesia cùng lên tiếng và có hành động trước việc Trung Quốc ban hành hộ chiếu có in hình lưỡi bò?

GS Carlyle Thayer: Tôi đồng ý là “gậy ông đập lưng ông”. Trong khi Trung Quốc đang lên tiếng chỉ trích các quốc gia trong đó có Việt Nam và Philippines không tôn trọng tiêu chí của Tuyên bố về Ứng xử của Các bên ở biển Đông-DOC. Vì vậy Trung Quốc tự suy xét lại họ đang cáo buộc các quốc gia khác nhưng trên thực tiễn chính họ đang có hành động khiêu khích không cần thiết, gây ảnh hưởng đến tinh thần ngoại giao. Họ đang tạo ra sự ảo tưởng. Tôi cho rằng chính họ đang vi phạm DOC.

Hòa Ái: Xin cám ơn Giáo sư.

Hùng Tâm - Quan hệ phức tạp giữa Hoa Kỳ và quốc gia Israel


Hùng Tâm/Người Việt

Người ta thường nghĩ là cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có ảnh hưởng quá mạnh trong xã hội Hoa Kỳ qua nhiều lãnh vực như nghệ thuật, truyền thông, tài chánh, và tất nhiên là chính trị.


Nhiều người trong chúng ta còn tin rằng vì muốn bảo vệ Do Thái mà Henry Kissinger, một trí thức và chiến lược gia người Mỹ gốc Do Thái, đã cam tâm bán đứng miền Nam. Cách suy luận ấy không phản ảnh thực tế và có thể khiến chúng ta phân vân khó hiểu trước những biến cố của thời sự. Gần đây nhất là vụ xung đột trên Dải Gaza (xin đề nghị là nên viết Dải Gaza thay vì dải Gaza, vì là phiên dịch từ Gaza Strip).

Vì vậy, “Hồ Sơ Người Việt” kỳ này xin nói về mối quan hệ Hoa Kỳ-Do Thái và trước hết về cách gọi tên.
“Quốc gia Israel” của người Do Thái được thành lập vào năm 1948 trên một khu vực địa dư gọi là Palestine, xưa kia là của người Do Thái nhưng từ thế kỷ thứ bảy đã do người Hồi Giáo cai trị và trở thành vùng định cư của người Á Rập từ thế kỷ 19. Dân Á Rập trên khu vực này được gọi là người Palestine và họ sống chung với người Do Thái, được đế quốc Anh đưa về đó từ cuối thế kỷ 19. Khi Ðế quốc Anh lấy vùng đất Palestine cho người Do Thái lập ra quốc gia Israel, mâu thuẫn giữa dân Do Thái và dân Á Rập Hồi Giáo đã bắt đầu. Lúc đó, Hoa Kỳ thực sự vô can, và còn có chính sách đối nghịch với Israel vì chính quyền Do Thái tại đây đã ngả theo Liên Bang Xô Viết. Nghịch lý ấy từ thời Chiến Tranh Lạnh là điều ít ai nhìn tới, hoặc nói ra.
Quốc gia Israel

Dân tộc nào cũng bị địa dư hình thể chi phối trong vùng sinh hoạt truyền thống mà ta tạm gọi là “bản địa.” Dân Do Thái cũng vậy, đã nhận cái nghiệp phân chia và chinh chiến từ thời Thượng cổ, trước Tây lịch, cho đến thời cận đại vào thế kỷ 19 và hiện đại, kể từ năm 1948.

Vào thời Thượng cổ, người Do Thái cổ (Hebrew) đã hai lần lập ra nước Israel trên một dẻo đất hẹp và nghèo giữa biển Ðịa Trung Hải và sông Jordan. Từ tiền kiếp họ phải sống chung với các sắc tộc khác, đã bị các đế quốc lân bang khuất phục và xua đuổi khỏi vùng bản địa. Thậm chí là bị gán tội giết đấng Cứu Thế và sau này còn bị diệt chủng. Họ là những người sinh ra đã mất quê hương và nhìn về bản địa như Vùng Ðất Hứa. Nhưng do địa dư hình thể, vùng đất ấy lại rất khó bảo vệ giữa các sắc tộc đông đảo khác. Tâm tính cương cường nhẫn nại, và thậm chí quỷ quyệt mà nhiều người gán cho dân Do Thái cổ và tân (Jews), có thể xuất phát từ hoàn cảnh éo le đó.

Chi tiết đáng chú ý khác là dẻo đất khô cằn này lại có ba khu vực với ảnh hưởng trên ba cách ứng xử khác nhau. Khu vực duyên hải là nơi thuận tiện cho việc buôn bán và tạo ra một lớp thương nhân có tinh thần xin tạm gọi là “quốc tế” trước khi nhân loại tìm ra chữ này. Khu vực miền Bắc là nơi có bình nguyên và đồi núi nên là vùng đất của nông dân và chiến binh. Khu vực miền Nam của Thánh địa Jerusalem là vùng sa mạc khó sống nhất, đất dung thân của chiến binh và kẻ chăn nuôi. Chiến tranh, canh nông mục súc và thương mại là những đặc tính bẩm sinh từ địa dư hình thể.

Khi có cơ hội trở về tái lập quốc gia Israel từ năm 1948, người Do Thái từ bản địa và tứ xứ đã phải kết hợp ngần ấy bài toán về an ninh và kinh tế lẫn xã hội, và tìm ra giải pháp tồn tại nhờ ngoại giao.

Mấy ngàn năm lịch sử của người Do Thái đã để lại nhiều bài học. Thứ nhất, họ mà thiếu đoàn kết bên trong là quốc gia bị diệt vong. Thứ hai, họ có thể đương cự với các sắc dân khác ở chung quanh, nhưng không đủ sức đối đầu với các đế quốc rộng lớn ở xa hơn, như Ðế quốc Babylone, Ðế quốc Ba Tư, Ðế quốc Macedonia, Ðế quốc La Mã, Ðế quốc Thổ và cả Ðế quốc Anh. Thứ ba, nếu đồng tâm và giải trừ được sức ép ở gần, họ vẫn phải liên kết với các cường quốc ở xa để tồn tại. Cường quốc ở xa có thể là Liên Xô, hay Hoa Kỳ.

Israel giữa hai khối

Quốc gia Israel thành hình vào năm 1948 là sau những xung đột và dàn xếp giữa hai đế quốc ở xa, Ðế quốc Ottoman bị tan rã năm 1919 và Ðế quốc Anh, một loại siêu cường toàn cầu trong thế kỷ 19, trước khi một siêu cường toàn cầu khác xuất hiện, là Hoa Kỳ. Khi Israel ra đời, cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều nhìn thấy ở đó một cơ hội bành trướng vào “Phương Ðông,” khu vực mà các nhà địa dư và chính trị học gọi là “Levant,” bên trong có một cốt lõi là xứ Israel của dân Do Thái.

Khi tái lập quốc, nhiều người Do Thái là di dân đến từ nước Nga, họ mang theo kiến thức “xã hội chủ nghĩa” và cách tổ chức của chế độ Xô viết. Vì lý do tư tưởng hay ý thức hệ, họ chủ trương xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhưng với màu sắc Do Thái, chứ không vì lý tưởng vô sản quốc tế. Nhưng, quốc gia Israel cũng thành hình nhờ tiền bạc của người Do Thái tại Hoa Kỳ. Và chính quyền Mỹ thời ấy tin rằng nhờ ảnh hưởng này mà sẽ chi phối Israel trên một bàn cờ rộng lớn của cả khu vực Levant và toàn cầu.

Thật ra, cả hai siêu cường này chưa có một chính sách rõ rệt với Israel và đấy là cơ hội cho chính quyền Israel giải quyết nhu cầu ưu tiên của mình, theo kiểu Do Thái, lạnh lùng và thực dụng. Ðấy là thành tích của David Ben Gurion, bậc quốc phụ của Israel hiện đại.

Vì vậy mà đã có lúc Israel liên minh với hai đế quốc tàn lụi là Anh và Pháp để phong tỏa kênh đào Suez của Ai Cập, khi ấy còn là chư hầu của Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Nasser. Và vì thế mới gây mâu thuẫn với chính quyền Hoa Kỳ thời Tổng Thống Cộng Hòa Eisenhower. Cũng do chủ trương bảo vệ độc lập một cách rất độc đáo, Israel ngả theo Pháp trên trận tuyến “chống Mỹ” và chỉ thay đổi đối sách với Hoa Kỳ từ năm 1967. Trở thành đồng minh của Mỹ, khi Nasser cũng đã xoay chiều và ra khỏi quỹ đạo Xô Viết.

Hai chục năm đảo điên từ thời lập quốc (1948-1967) cho thấy Israel không hoàn toàn là chư hầu của Mỹ và Hoa Kỳ không thể chi phối được mọi quyết định của chính quyền Israel. Hoặc ngược lại, dân Do Thái tại Mỹ không thể xoay chuyển nổi đối sách của Hoa Kỳ theo cái hướng có lợi cho Israel mà phương hại cho quyền lợi lâu dài trường cửu của nước Mỹ. Hai quốc gia lớn nhỏ này có chung một lý tưởng là dân chủ, nhưng hành xử theo quyền lợi riêng. Và dù rằng là một xứ rất nghèo và tùy thuộc vào viện trợ Hoa Kỳ, Israel vẫn tính toán riêng, đôi khi còn gây khó cho chính quyền Mỹ.

Một chi tiết khác cũng cần nhắc đến là đa số người Mỹ gốc Do Thái, từ nghệ sĩ đến tài phiệt, đều thiên về đảng Dân Chủ với tinh thần chủ hòa và phản chiến. Trong khi vì sự tồn vong của mình, chính quyền Israel đã có lúc lấy quyết định chủ chiến, mà nhiều người nông cạn cho rằng đấy là lập trường Cộng Hòa.

Sự thể khách quan là hai quốc gia này có hai hoàn cảnh địa dư, an ninh và kinh tế khác biệt ở hai lục địa khác nhau. Vì hoàn cảnh và mục tiêu riêng, đôi khi Israel có hành động bất lợi cho nước Mỹ và cũng bị chi phối bởi những quyết định bất lợi từ phía Hoa Kỳ. Nước Mỹ cần có một đồng minh Do Thái vững mạnh tại Trung Ðông để bảo vệ sự ổn định trong khu vực chiến lược này. Cũng vì nhu cầu ổn định có tính chất chiến lược, Hoa Kỳ muốn Do Thái phải thỏa hiệp và hợp tác với các nước lân bang như trong nhiều đợt hòa giải trước đây (Hòa ước Camp David dưới thời Jimmy Carter chẳng hạn), đôi khi quá mức an toàn theo cách nhìn của Israel.

Sau mấy chục năm đồng sàng dị mộng mà vẫn keo sơn gắn bó, quan hệ giữa hai nước đã có thay đổi.

Những nan đề mới

Trong nhiều thập niên liền, Hoa Kỳ có lúc ăn nói phũ phàng với Israel là dưới các chính quyền Cộng Hòa của Richard Nixon, Gerald Ford và George H. W. Bush (ông Bush cha) qua các Ngoại Trưởng Henry Kissinger và James Baker: sự yểm trợ của Hoa Kỳ không là miễn phí và vô điều kiện! Ðấy là khi quyền lợi của nước Mỹ được coi là tối thượng và tình nghĩa đồng minh là chuyện ngoại giao bề ngoài. Chuyện ấy, người Việt ta không thể quên được.

Ngày nay sự thể đã khác vì có cả triệu người tham dự vào tiến trình lý luận và quyết định qua không gian điện tử và truyền thông tức thời. Không ứng cử viên tổng thống nào, dù là Barack Hussein Obama lại muốn tự gây khó cho mình và bị rủi ro thất cử khi khiêu khích cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái bằng ngôn ngữ nhuốm mùi “tối hậu thư” kiểu đó cho xứ Israel.

Ở tại chỗ, chính quyền Israel cũng có thay đổi, với xu hướng quốc gia và bảo thủ nay đã vào dòng chính và sẽ tồn tại khá lâu. Họ nhất quyết bảo vệ an ninh của Israel, không thể nhượng bộ và càng khó nhượng bộ khi cộng đồng Palestine lại chia hai. Phe ôn hòa của đảng Fatah chỉ kiểm soát được Tây ngạn sông Jordan (West Bank) và tiếng nói cực đoan của lực lượng Hamas trên Dải Gaza mới trở thành đại diện chân chính. Lực lượng đó lại có sự yểm trợ của Syria, Iran và cả Egypt, nay đang do phe Huynh Ðệ Hồi Giáo và Tổng Thống Mohamed Mursi lãnh đạo.

Những biến cố gọi là Mùa Xuân Á Rập từ đầu năm 2010 đã đảo lộn cục diện Trung Ðông và đặt ra nhiều bài toán sinh tử cho Israel. Nổi bật là ảnh hưởng rất lớn của Iran và các lực lượng võ trang quá khích do Iran yểm trợ, như Hezbollah tại Lebanon hay Hamas trên Dải Gaza. Rắc rối không kém là lập trường có tính nước đôi của Ai Cập. Lãnh đạo xứ này không còn là Hosni Mubarak thân Mỹ mà là Mohamed Mursi của lực lượng Huynh Ðệ Hồi Giáo.

Lần đầu tiên từ thời lập quốc, Israel thấy an ninh của mình bị đe dọa từ miền Nam, từ Dải Gaza tiếp cận với bán đảo Sinai và xứ Ai Cập. Với các hỏa tiễn tầm xa như Fajr (Bình Minh) do Iran cải chế từ hỏa tiễn Liên Xô và Trung Quốc, lực lượng Hamas trở thành mối nguy bất lường và nếu các hỏa tiễn này lại có đầu đạn nguyên tử do Iran cung cấp thì xứ Israel không có tương lai. Trong khi ấy, dân Á Rập vẫn sinh con đẻ cái, có dân số ngày càng đông, và Iran vẫn chưa từ bỏ kế hoạch chế tạo võ khí hạt nhân. Mà Mùa Xuân Á Rập vẫn có thể nở hoa Hồi Giáo.

Các chế độ độc tài và thân Mỹ bị lật đổ khiến nhiều xu hướng Hồi Giáo có dịp lên thay, với chủ trương chống Mỹ và quyết liệt hơn với xứ Israel. Chiều hướng ấy không bắt đầu từ năm 2010 mà trước đó khá lâu. Trong cuộc bầu cử năm 2005 tại Palestine, phe Hamas đã thắng lớn, đến độ còn muốn nổ súng để truất quyền lãnh đạo của lực lượng Fatah và chính quyền Palestine tại “thủ đô” Ramallah trên Tây ngạn sông Jordan. Mỗi khi có tự do chọn lựa, dân Hồi Giáo tại Trung Ðông lại chọn hướng chống Mỹ và diệt trừ Israel!

Với Hoa Kỳ, đấy là một trong nhiều đề tài tranh luận hay tranh cử. Với Israel, đấy là chuyện sinh tử của lẽ tồn vong.

Kết luận của hồ sơ rắc rối này là những gì?

Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái và quốc gia Israel không thể sai khiến được nước Mỹ khiến lãnh đạo Mỹ phải lấy những quyết định bất lợi cho Hoa Kỳ. Hai quốc gia này đều cần đến nhau và vận dụng lẫn nhau để giải quyết mục tiêu của mình. Trong việc vận dụng, truyền thông báo chí cũng là một phương tiện. Chỉ là một phương tiện.

Vì lẽ sinh tử, Israel cần đến sự bảo vệ của Hoa Kỳ, nhưng cũng ý thức được giới hạn của sự bảo vệ ấy, nên phải tự lo lấy thân. Có khi bằng những giải pháp quân sự liều lĩnh mà Hoa Kỳ ở nơi an toàn hơn thì gọi là phiêu lưu và có đầy rủi ro.

Hoa Kỳ đã tưởng là sẽ rút chân khỏi bãi mìn Trung Ðông để nhìn về Ðông Á. Chuyện không dễ. Trong thế giới Trung Ðông ấy, chống Mỹ đang là khẩu hiệu ăn khách.

Vì lẽ đó, chúng ta càng nên theo dõi những biến động chính trị tại Ai Cập khi Tổng Thống Mohamed Mursi muốn gia tăng quyền lực và gặp sự chống đối rất mạnh của các thành phần khác. Kết quả tại đây sẽ chi phối an ninh của Israel và có khi gây khó cho chính quyền Mỹ.

Trần Doãn Nho - Bầu cử Mỹ


Trần Doãn Nho
Sáng thứ Tư 7/11, tôi thức dậy trong một cảm giác thoải mái. Mở truyền hình hay lên mạng, không còn đọc/nghe/nhìn những màn thảo luận liên tu bất tận về các ứng cử viên, về chính sách, về các cuộc thăm dò, về các màn đoán già đoán non về kết quả bầu cử và …hồi hộp mong “phe mình” thắng lợi. Cũng như xong mùa World Cup, tôi  thở phào: thế là xong một mùa tranh cử! Với tôi, một công chức bình thường, ai thắng thì vẫn thế. Không có gì để thêm, không có gì để bớt.
Nhưng chuyện nước Mỹ thì khác. Mùa bầu cử Mỹ không chỉ là để bầu ra một tổng thống, bầu ra một quốc hội mới và nhiều chức vụ linh tinh khác, mà còn là dịp để nước Mỹ tự nhìn lại mình, tự đánh giá mình, thậm chí, tự hành hạ mình. Đó không chỉ là một cuộc đua, cuộc đấu giữa các ứng cử viên, hay bao trùm hơn là giữa hai đảng, mà thực chất là một cuộc giải phẫu – có khi rất đau đớn – chính mình. Bởi thế, mỗi một lần bầu cử đều để lại những di chứng, có lúc kéo dài rất lâu về sau và đưa đến những thay đổi ít khi lường trước.
Kẻ thắng kẻ thua bây giờ đã rõ: Romney thua. Obama tái đắc cử và trở thành tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ.

baucumy1-300x168  
Chú bé Barack và chú bé Mitt
 
Nhưng có một điều ít ai chú ý: trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay, ngoài hai ứng cử viên Obama và Romney, còn có một số ứng cử viên tổng thống thuộc các đảng phái khác được mệnh danh là các đảng Thứ Ba (Third Party): đảng Tự Do (Libertarian Party), đảng Hiến Pháp (Constitution Party), đảng Công Lý (Justive Party), đảng Xanh (Green Party)… và thậm chí có cả đảng mà cái tên gọi nghe không khỏi giật mình: đảng Xã Hội Chủ Nghĩa và Giải Phóng (Socialism and Liberation Party). Trong số các đảng này, chỉ có liên danh Gary Johnson/James Gray thuộc đảng Tự Do là có tên trên phiếu bầu của 50 tiểu bang. Các ứng cử viên khác chỉ có tên trên phiếu bầu ở một số tiểu bang. Chẳng hạn phiếu bầu của tiểu bang Rhode Island có tên của 7 liên danh ứng cử tổng thống: ngoài hai liên danh Obama-Biden, và Romney-Ryan, còn có các liên danh  Gary Johnson-James Gray (Libertarian Party), Virgil Goode-Jim Clymer (Constitution Party), Ross "Rocky" Anderson-Luis J. Rodriguez (Justice Party), Peta Lindsay-Yari Osorio (Socialism and Liberation Party) và Jill Stein-Cheri Honkala (Green Party). Các đảng này cũng trải qua quá trình vận động, tranh cãi và đại hội đảng như hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà, nhưng bị truyền thông làm ngơ vì không có ảnh hưởng đáng kế trong việc bầu chọn tổng thống.
Gọi là lưỡng đảng mà thực ra là đa đảng! Đa đảng mà vẫn lưỡng đảng. 
baucumy2
Gary Johnson, nguyên thống đốc New Mexico, 
ứng cử viên tổng thống của đảng Tự Do
 
Tính cho đến nay (22/11/2012), kết quả tạm thời như sau:[1]
Ứng cử viên 
Ứng cử viên khác
Tổng số phiếu bầu
Đảng
Phiếu phổ thông
64,150,711
59,995,405
1,245,442
454,085
118,599
62,140
40,087
36,950
161,399
126,264,818

(50.81%)
(47.52%)
(0.99%)
(0.36%)
(0.09%)
(0.05%)
(0.03%)
(0.03%)
(0.13%)

Kết quả chính thức của cuộc bầu cử tổng thống vẫn chưa có cho đến cuối tháng 11 hay đầu tháng 12. Gộp tất cả các số phiếu phổ thông thu được, theo ước tính của Center for the Study of the American Electorate, trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay, có khoảng 126 triệu trong số gần 220 triệu cử tri ghi danh đi bầu, chiếm tỷ lệ  57.5%. Nghĩa là có khoảng 93 triệu cử tri (tức là hơn 40%) không chịu đi bầu vào ngày 6 tháng 11 vừa qua.[2] Một con số rất đáng phàn nàn! Không phải chỉ năm 2012. Trong những cuộc bầu cử tổng thống trước đây, tỷ lệ đó cũng chẳng khá hơn gì mấy: năm 2008 là 62.3%, năm 2004, 60.4%, và năm 2000, chỉ 54.2%. Chẳng thế mà, Hoa Kỳ được xếp hạng thứ 120 trong số 169 nước về tỷ lệ số cử tri đi bầu cử trong ngày bầu tổng thống, theo một bảng nghiên cứu của tổ chức nghiên cứu quốc tế “Democracy and Electoral Assistance”. Tại sao?
Vì nhiều lý do. Một trong những lý do đầu tiên, theo Michael McDonald, một chuyên viên nghiên cứu chính trị tại đại học George Mason, Hoa Kỳ là một xứ sở có “quá nhiều dân chủ” (have too much democracy). Ai muốn đi bầu thì đi, ai không muốn thì thôi. Đã thế, trong lúc ở các nước Tây Phương khác, người dân lâu lâu mới đi bầu một lần thì ở Mỹ, hầu như năm nào cũng có bầu cử. Hết bầu tổng thống, nghị sĩ, dân biểu liên bang đến bầu thống đốc, dân biểu, nghị sĩ tiểu bang rồi thị trưởng, nghị viên thành phố, văn phòng trưởng thành phố, giám sát viên quận hạt, thành viên ủy ban giáo dục, vân vân và vân vân. Ở thành phố tôi ở, lâu lâu lại thấy người ta đi bầu. Thú thật, nhiều lần tôi chẳng biết người ta bầu cái gì. Buối sáng thức dậy đi làm, bỗng thấy phòng phiếu ở khu nhà thờ kế nhà tôi mở, cảnh sát canh gác, cổ động viên trương tên các ứng cử viên và…người ta lai rai đi bỏ phiếu mà đa phần là dân da trắng. Hôm sau thấy báo đăng kết quả bầu cử. Nhiều năm tỷ lệ đi bầu chưa tới 20%. Rõ là lười.
Ở những xứ dân chủ khác, như Á Căn Đình hay Úc, đi bầu là bổn phận bắt buộc, ai không đi bầu là bị phạt. Nhiều nước, để đi bầu, người công dân không cần phải ghi danh, họ chỉ cần trưng ID (Chứng Minh Thư hay Thẻ Căn Cước); ở Mỹ, muốn đi bầu, phải ghi danh. Chuyển chỗ ở, phải ghi danh lại. Không có tên trên danh sách cử tri là chịu, không thể đi bầu được.
Ngoài chuyện lười đi bầu, nhiều người cho rằng phiếu bầu của công dân không có ảnh hưởng gì mấy đến sự thay đổi chính sách của đất nước. Ở các xứ đại nghị, thủ tướng bao giờ cũng là người của Đảng chiếm đa số ở quốc hội. Ở Hoa Kỳ, Tổng thống có thể thuộc đảng này, nhưng quốc hội lại nằm trong tay đảng khác (như hiện nay). Dân Chủ và Cộng Hòa cứ gườm nhau từ năm này đến tháng khác khiến nhiều dự luật phải nằm chất đống trong quốc hội!
Đảng phái và cử tri đoàn
Nhưng có một lý do khác không kém quan trọng: cử tri đoàn và đầu óc đảng phái. Tinh thần phe đảng thì chẳng có gì lạ, vốn là điều bình thường trong một xã hội dân chủ. Nhưng “cử tri đoàn” là một đặc điểm rất riêng của bầu cử tổng thống Mỹ! Cả hai tuy trông không dính dáng gì nhau, mà thực ra, lại cột chặt với nhau khiến bầu cử tổng thống Mỹ rất không giống ai và đưa đến nhiều chuyện khá nực cười.
Chẳng hạn như tiểu bang tôi cư ngụ, Massachusetts, là tiểu bang chịu ảnh hưởng đảng Dân Chủ. Tối hôm bầu cử, đứa con gái tôi đi làm về muộn, 7 giờ rưỡi tối. Chỉ còn nửa giờ nữa là phòng phiếu đóng cửa. Tôi lái xe đưa vội cô đến địa điểm bầu phiếu. Trong lúc cô và một vài cử tri cuối cùng đang loay hoay bầu, thì tôi đã nghe xướng ngôn viên đài phát thanh loan báo kết quả bầu tổng thống của tiểu bang: Obama thắng với 11 phiếu cử tri đoàn.
Đến gần khuya, lúc 11 giờ, vừa loan báo các tiểu bang dọc theo bờ biển miền Tây (California, Oregan, Washington) đóng cửa phòng phiếu, thì chỉ ít phút sau, đài CNN liền đưa ngay dự đoán (projection): Obama đắc cử tổng thống. Số phiếu cử tri đoàn của Obama đang là  163 bỗng vọt lên 274, vượt qua con số kỳ diệu 270. Tháp truyền hình ở Time Square, Nữu Ước (nơi đài CNN thiết kế hệ thống ánh sáng để thông báo kết quả bầu cử), đèn màu xanh (Dân Chủ) vượt cao hơn màu đỏ (Cộng Hòa). Dự đoán quá sớm sủa của CNN khiến những ủng hộ viên của Romney tại Bộ Tham Mưu tranh cử của Romney ở Boston (Massachusetts) bực mình đến nỗi đòi bộ phận kỹ thuật chuyển đài truyền hình từ CNN sang Fox News là đài “gà nhà” của đảng Cộng Hòa. Nhưng rồi không lâu sau đó, đến lượt Fox News và các đài truyền hình khác cũng đồng loạt dự đoán (và dự đoán chính xác) Obama đắc cử tổng thống. Nghĩa là nước Mỹ đã biết tân thổng thống trong lúc các tiểu bang miền Tây vừa bắt đầu đếm phiếu và các tiểu bang miền đông (phòng phiếu đóng cửa 3 giờ trước đó), nơi nhanh nhất cũng chỉ mới có kết quả của chừng 20% số phiếu bầu.
Thực ra, cũng chẳng phải đợi đến ngày bầu cử, CNN mới có con số đó. Họ đã tính toán từ lâu trước ngày bầu cử: Electoral Map.[3] Con số có thay đổi chút ít tùy theo các cuộc thăm dò dư luận khắp các tiểu bang được cập nhật hầu như hàng ngày. Hai tuần trước bầu cử, CNN đã đưa ra con số phiếu cử tri đoàn mà Obama và Romney có thể đạt được: Obama 237, Romney 206, số chưa quyết định: 95. Kết quả bầu cử dựa trên cử tri đoàn tiểu bang (ứng cử viên nào nhiều phiếu nhất thì hưởng trọn sổ cử tri đoàn của tiểu bang đó) mà không theo tổng số phiếu phổ thông, nên phiếu bầu của người dân chỉ thực sự quan trọng trong một số tiểu bang có tranh chấp quyết liệt giữa hai ứng cử viên. Những tiểu bang khác dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của hoặc đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa, chưa bầu, người ta hầu như đã biết trước kết quả. Cử tri đoàn hoàn toàn thuộc về ứng cử viên của đảng chiếm đa số phiếu, dù chỉ là hơn một phiếu! (Nhớ: năm 2000, sau nhiều lần đếm phiếu, Bush hơn Gore 537 phiếu và hưởng trọn 29 cử tri đoàn Florida và thắng cử Tổng Thống!). Hàng triệu phiếu bỏ cho ứng cử viên khác xem như bay vào hư không!
Nói không ngoa, các đài truyền hình chỉ đợi đến giờ đóng cửa phòng phiếu là công bố kết quả mà chẳng cần quan tâm mấy đến việc đếm phiếu. Trong suốt mùa bầu cử tổng thống năm nay, không hề thấy Obama mà cũng chẳng thấy bóng dáng Romney tổ chức một cuộc vận động tranh cử nào ở tiểu bang tôi cư ngụ (Massachusetts). Điều buồn cười là Romney là cư dân tiểu bang Massschusetts và là nguyên thống đốc tiểu bang này: ứng cử viên này thua phiếu ngay tại tiểu bang mình cư ngụ. Cũng như Ryan, ứng cử viên phó tổng thống của Romney thua phiếu ngay tại tiểu bang mình cư ngụ: Wisconsin! Chỉ vì, tại các tiểu bang này, nơi mà cơ sở đảng của đảng Dân Chủ có gốc có rễ từ lâu đời, đa số cử tri chỉ bầu cho đảng “của mình”.
Trong suốt hai tháng cuối cùng của cuộc tranh cử, tinh thần đảng phái phát triển đến cực độ, đến mức hầu phi lý. Hai đài truyền hình, một là  MSNBC ủng hộ Obama và hai là Fox News ủng hộ Romney, tấn công đối thủ của mình không thương tiếc. MSNBC chuyên đưa những thông tin hết sức tiêu cực về Romney và ngược lại Fox News đưa toàn những thông tin tiêu cực về Obama. MSNBC, cứ mỗi một trích đoạn phim (clip) tích cực về Romney, lại đưa lên 23 trích đoạn phim tiêu cực. Tỷ lệ này ít hơn ở Fox News: một trích đoạn phim tích cực so với 8 trích đoạn phim tiêu cực.

baucumy3
(Theo Pew Research Center)
Đây là một điều hoàn toàn bất thường đối với những đài truyền hình tự nhận mình là những cơ quan thông tin (khách quan và trung thực), Pew Research Center nhận xét.
Bức tường xanh: thắng lợi của Obama.
Cũng vì cái lối chọn cử tri đoàn mà nói là bầu cử toàn quốc, thực ra, lần bầu (tổng thống) nào cũng như lần nào, cuộc tranh cử thực sự chỉ diễn ra ở một số tiểu bang. Số tiểu bang này có thay đổi đôi chút, tùy năm, nhưng nói chung, mỗi đảng đều có các “tiểu bang ruột” của mình. Đó là những tiểu bang có cơ sở đảng vững mạnh, bảo đảm luôn luôn giành được đa số phiếu cử tri và do đó, tóm hết số cử tri đoàn tiểu bang.
Trong suốt 6 kỳ bầu cử tổng thống vừa qua, tính từ năm 1992, những tiểu bang sau đây luôn luôn bầu theo đảng Dân Chủ: Washington, Oregan, California, New Mexico, Minesota, Illinois, New York, Massachusetts, Hawaii, Vermont, Connecticut, Maryland, Delaware, New Jersey, Rhode Island. Những tiểu bang này được mệnh danh là “bức tường xanh” (blue wall), vì màu xanh là màu biểu trưng cho đảng Dân Chủ. Cũng trong thời gian đó, những tiểu bang Arkansas, Texas, Arizona, Mississipi, Alabama, Georgia, South Carolina, Utah, Oklahoma, Montana…mệnh danh là “bức tường đỏ” (red wall) vì màu đỏ là màu biểu tượng cho đảng Cộng Hoà.  Những tiểu bang còn lại được mệnh danh là các tiểu bang “tranh chấp” (swing states hay battleground states) gồm có Colorado,Florida, Iowa, Nevada, New Hampshire, North Carolina, Ohio, Virginia và Wisconsinvới tổng cộng khoảng 100 cử tri đoàn.
Rõ ràng là “bức tường đỏ” ở thế yếu hơn, vì bao gồm những tiểu bang rộng lớn nhưng lại ít cử tri đoàn. Yếu nhưng không hề là bất khả, vì trong quá khứ, đã nhiều lần, đảng Cộng Hòa “nhuộm đỏ” các tiểu bang xanh như thời của Nixon, và nhất là thời của Reagan: năm 1980, Reagan thắng 46 tiểu bang với 489 cử tri đoàn; năm 1984, Reagan thắng 48 tiểu bang với 525 cử tri đoàn. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay, nỗ lực của Obama là giữ vững “bức tường xanh” và chiếm lĩnh một số tiểu bang tranh chấp. Ngược lại, nỗ lực của đảng Cộng Hòa là giữ vững “bức tường đỏ”, tìm cách phá vỡ một vài tiểu bang thuộc “bức tường xanh” nhưPennsylvania, Minnesota and Michigan và tiếm chiếm các tiểu bang tranh chấp. Tuy Dân Chủ được lợi thế hơn nhờ cơ sở đảng được củng cố vững chắc tại nhiều tiểu bang hơn Cộng Hòa, nhưng do tình hình kinh tế yếu kém dưới thời Obama, nên các tiểu bang tranh chấp vẫn là “địa lợi” đối với Cộng Hòa.
Nhưng năm nay, Cộng Hòa đã thua vì không phá vỡ được “bức tường xanh” và chỉ chiếm được một trong 10 tiểu bang tranh chấp!
Thế là, bầu cử tổng thống Mỹ, tuy có tầm mức quốc gia, thực chất là một cuộc tranh cử gay gắt chỉ trong 10 tiểu bang. Tất cả tiền bạc, quảng cáo, công sức, nhân sự, tất cả và tất cả đều đổ dồn vào trong các tiểu bang tranh chấp. Trong lúc cả hai ứng cử viên lui tới các tiểu bang tranh chấp như Florida hay Ohio hàng chục lần, thì những tiểu bang như California, Oregan, không hề thấy bóng dáng Romney hay tiểu bang Texas, không hề thấy bóng dáng của Obama. Số cử tri đoàn ở các tiểu bang “bức tường xanh” hay “bức tường đỏ” gần như đã được quyết định sẵn trước khi đi bầu. Bởi thế mà ở các tiểu bang này, nếu bạn muốn bỏ phiếu cho ứng cử viên bạn yêu thích với hy vọng rằng lá phiếu đó sẽ góp một chút ý nghĩa nào đó cho thắng lợi của ứng cử viên yêu thích thì là một điều vô nghĩa.
Đó là cảm giác của tôi khi đi đến phòng phiếu (Massachusetts) vào chiều ngày 6/11/2012. Bầu hay không bầu cho Obama, thì Obama cũng thắng. Tôi chỉ nhắm đến việc bỏ phiếu cho các ứng cử viên quốc hội và “yes” hay “no” cho các câu hỏi khác trên phiếu bầu.
Đấu tiền
Ngoài tài năng và tiếng tăm, ứng cử và tranh cử Mỹ phải có tiền, thật nhiều tiền và có tài hùng biện. Đó là một cuộc đấu tiền và đấu chữ. Cả hai ứng cử viên đua nhau quyên tiền và tận dụng chữ nghĩa để tranh thắng.
Theo tài liệu của Center for Responsive Politics , chi phí cho các cuộc vận động tranh cử năm 2012 lên đến 6 tỷ đô la, trong đó, riêng chi phí cho bầu cử tổng thống là 2 tý 6. Đây là cuộc tranh cử tốn tiền nhất trong lịch sử Mỹ. Tiền được sử dụng để làm gì? Để chi dụng cho một bộ máy tranh cử khổng lồ được tổ chức quy mô trên toàn quốc. Thử xem Ban vận động tranh cử của Romney chi tiêu như thế nào:
-          356,8 triệu chi phí quảng cáo
-          123,9 triệu chi phí thư tín (mail)
-          48 triệu trả lương nhân viên
-          90,7 chi phí cho những cuộc tổ chức quyên tiền
-          20,8 triệu cho chi phí điều hành
-          31,4 triệu chi phí du hành
-          21,1 triệu chi phí tham khảo ý kiến
….
Ban vận động của Obama cũng chi tiêu trong những dịch vụ  như thế với số tiền sử dụng xê xích ít nhiều.[4]
Federal Election Commission (FEC) phụ trách theo dõi chi tiêu tranh cử, cho thấy hầu hết chi phí nhằm xây dựng hình ảnh của ứng cử viên bằng cách mua quảng cáo truyền hình, đăng báo, truyền đơn, vận động trên net, thư từ trực tiếp đến từng nhà, gọi điện thoại, vẽ và dựng biển quảng cáo, thuê mướn sân bãi, hội trường…Mùa tranh cử quả là mùa bội thu của các công ty kinh doanh và của các hệ thống truyền thanh, truyền hình, báo chí. Biết tiêu và tiêu đúng chỗ sẽ tạo  lợi thế cho ứng cử viên. Cliff Franklin và công ty Fuse Advertising là một trong những vũ khí bí mật của cuộc vận động tranh cử của Obama. Với tiêu đề “Obama for America”, họ đã giúp Obama kiếm phiếu của 93% cử tri da đen, 71% cử tri Latino và 73% cử tri Á châu.
Tiền này từ đâu ra? Do tiền quyên góp của ứng cử viên, do quỹ Đảng và do những nhóm tài trợ ngoại vi (outside groups) gọi là các super PACs (Political Action Committee) và các tổ chức 501(c). Đó là những tổ chức độc lập nằm bên ngoài đảng phái giúp cho các ứng cử viên tiêu tiền thoải mái. Chẳng hạn như các công ty  xây dựng nhà cửa của Bob Kerry (góp cho Romney $17,250,000), Sheldon & Miriam Adelson (góp cho Romney 20 triệu), công ty của Fred Eychaner (góp cho Obama 3 triệu 500), Wall Street (10 triệu rưởi cho Romney và 3 triệu 8 cho Obama), vân vân.[5]
Những nhóm này không đóng góp trực tiếp cho các ứng cử viên, nhưng có thể quyên tiền và tiêu tiền vô giới hạn trong việc vận động cho ứng cử viên. Trong những tuần lễ trước ngày bầu cử, những nhóm ngoại vi này đã tiêu tiền một cách khủng khiếp: từ 19 triệu/tuần vào đầu tháng 9 tăng lên đến 33 triệu/tuần vào đầu tháng 10 và 70 triệu trong tuần lễ bắt đầu từ ngày 21 tháng 10. Hầu hết những chi phí là dành cho quảng cáo. Kể từ đầu tháng 6 cho đến cuối tháng 10, hai ứng cử viên, các ủy ban đảng, và các nhóm hỗ trợ lợi ích bảo trợ 1,015,615 quảng cáo (trên một triệu), tăng gần 40% so với năm 2008.
Sáu tỷ đồng cho mùa bầu cử 2012! Một số tiền quá lớn trong lúc tình hinh kinh tế suy thoái. Để hình dung cái giá của một mùa bầu cử, hãy thử làm một con tính đơn giản, nếu số tiền sáu tỷ này được dùng vào việc khác ích lợi hơn:
-          giảm bớt khoảng 0.5% thâm thủng ngân sách liên bang mỗi năm (chừng 1,1 ngàn tỷ
đô la/1,1 trillion), hoặc
-          chi phí cho 4 năm tại đại học Harvard cho khoảng 39 ngàn sinh viên, hoặc
-          xây khoảng 27.051 nhà mới, trung bình mỗi cái $221,800, hoặc
-          chế tạo được 60 chiếc máy bay 737, hoặc
-          cung cấp ăn trưa miễn phí hàng ngày cho 11 triệu học sinh trong một năm, hoặc
-          trả lương tối thiểu (minimum wage) cho gần 400,000 công nhân trong một năm.
vân vân…
Đấu chữ
Có tiền, chưa đủ. Phải có chữ. Chữ đây không chỉ là bằng cấp và kiến thức. Khác hẳn với với những đại biểu quốc hội tiền chế qua hình thức “Đảng cử dân bầu” kiểu Trung Cộng hay Việt Nam hiện nay, các ứng cử viên phải là những tay hùng biện, nắm vững kỹ thuật tu từ, nắm vững kỹ thuật tranh biện, để vừa bảo vệ quan điểm của mình vừa tấn công đối thủ. Từ những đề tài lớn lao liên quan đến các chính sách của nước Mỹ cho đến những vấn đề dân sinh, xã hội, những vấn đề liên quan đến gia đình và cá nhân ứng cử viên: tôn giáo, cá tính, những lời phát biểu, các vụ tai tiếng tình ái, trốn thuế…Một cuộc đấu chữ (war of words). Ứng cử viên phải có khả năng ăn nói trước quần chúng (có khi lên đến hàng chục ngàn người), khả năng ứng biến trước những câu phỏng vấn lắc léo của báo chí, có khả năng ăn miếng trả miếng trong các cuộc tranh luận trực tiếp (debates)…Tóm lại, đó là những người của quần chúng.
Trong cuộc đấu chữ này, Romney có lợi thế hơn Obama, vì sau bốn năm cầm quyền, tất cả những nhược điểm của chính quyền Obama lộ ra rõ ràng, không cần phải mất công chứng minh. Chỉ cần lập đi lập lại những con số và hình tượng hóa chúng là đã đủ để tạo nên một  Obama bất lực và bất tài. Obama được dán cái nhãn là “Tổng thống một nhiệm kỳ” (one term president) hay “Tổng thống của phiếu lương thực” (President of Food Stamps). Bốn năm dưới chính quyền Obama là bốn năm của một nước Mỹ tệ hại: ngoại giao yếu kém, đi hạ mình xin lỗi người ta (apology tour), thất bại trong vụ Bengazhi (Lybia)…Nhất là tình trạng thất nghiệp. Romney không từ bất cứ cơ hội nào phê phán sự bất lực của Obama trong việc tạo ra việc làm (đến nỗi đến nỗi cưụ tổng thống Clinton, người ủng hộ Obama, phải gào lên: Romney chỉ muốn dân Mỹ thất nghiệp dài dài).
Trong lúc đó, Obama tập trung mọi nỗ lực tô vẽ đối thủ Romney như là một tay tài phiệt làm giàu bằng cách sa thải nhân công hay chuyển việc làm sang Trung Cộng hay Ấn Độ, gian lận thuế, không quan tâm đến khối dân nghèo, muốn giết kỹ nghệ xe hơi, cắt tiền già, tiền thuốc, tiền thất nghiệp, nay nói thế này mai nói thế nọ (flip-flops). Obama chế ra từ “Romneysia” ám chỉ sự hay thay đổi lập trường của Romney. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Rolling Stone, Obama còn văng tục (gọi Romney là bullshitter).[6]
Ngoài ra, cuộc đấu chữ còn được thể hiện tối đa trong các quảng cáo (nhất là trên truyền hình), điển hình là quảng cáo tiêu cực (negative ads). Quảng cáo tiêu cực chiếm đến 85% số lượng quảng cáo của Obama và chiếm đến 91% số lượng quảng cáo của Romney. Những quảng cáo này nhắm vào các khuyết điểm cá nhân, những lời nói hớ (gaffes) hay những phát biểu riêng tư bị tiết lộ… Do cuộc tranh cử sát nút nên nội dung quảng cáo càng ngày càng trở nên cay đắng, nhằm bêu xấu đối thủ hơn là thuyết phục công chúng về lập trường và chính sách. Nhất là ở các tiêu bang tranh chấp. Số lượng quảng cáo tràn ngập trên các hệ thống truyền thông đêm ngày với một nội dung tiêu cực quá lớn đến nỗi chúng trở nên bão hòa, nghĩa là gần như không còn tác dụng đối với người nghe và người xem. Khán, thính giả chỉ còn biết chịu đựng và chịu đựng. “Tôi không biết làm sao có thể sống cho qua thêm ba tháng nữa với những quảng cáo loại này”. Đó là lời phát biểu của Julie Petosa, một cư dân ở Florida, nơi cả hai ứng cử viên đều tiêu những số tiền lớn nhất của họ, theo một cuộc phỏng vấn của hãng ABC News.[7]
Khỏa thân Mỹ
Có vẻ như bầu cử Mỹ là một cuộc trình diễn ngoạn mục và vô ích. Một màn ném tiền qua cửa sổ. Một trò bôi bẩn lẫn nhau nhằm tranh đoạt quyền hành. Và rồi đâu cũng vào đấy, status quo. Vẫn như cũ.
Chắc chắn là không.
Bầu cử Mỹ là một hiện tượng Mỹ và cũng là một hiện tượng thế giới. Nó là một phần của tính cách Mỹ. Do hình thành trong những điều kiện vô cùng đặc biệt và riêng biệt, Mỹ là một đất nước khác hẳn với mọi đất nước. Đó là một đất nước “động”, không bao giờ “tĩnh”. Lịch sử của nó là lịch sử của một cộng đồng đa dạng, đa chủng, đa văn hóa, nên luôn luôn có những vấn đề và giải pháp và lại vấn đề và lại giải pháp…Cứ thế. Nó giàu, nó mạnh, nó văn minh, nó dân chủ. Nhưng không bao giờ nó cảm thấy hoàn hảo. Và vì thế luôn luôn có tranh cãi, có chống đối nhau về đủ thứ vấn đề. Từ giáo dục, kinh tế, tôn giáo, xã hội, ngoại giao cho đến cả vấn đề …tự do và dân chủ. Một đất nước luôn trăn trở về mình. Không phải trăn trở để bảo vệ một chủ thuyết, một sứ mệnh, một truyền thống hay một lãnh tụ nào. Nó chỉ trăn trở vì cần phải trăn trở. Thế thôi. Noam Chomsky chẳng hạn. Nhà trí thức nổi tiếng này luôn luôn đặt vấn đề về cái gọi là “dân chủ’ Mỹ. Ông gọi cái chính phủ được bầu bốn năm một lần này, thực chất cũng là một chế độ độc tài, một nền “độc tài bốn năm” (four-year dictatorship).[1]
Bốn năm một lầnnước Mỹ y như dừng lại để trắc nghiệm mình. Trong cả một quá trình dài tranh cử, khác với tinh thần “tốt khoe, xấu che” thường thấy ở các nước khác, nhất là những nước nặng tinh thần dân tộc, nặng tinh thần chủ thuyết, nước Mỹ tự lột trần mình, tự khỏa thân mình, tự phơi bày ra đủ thứ sẹo lớn, sẹo nhỏ, đôi khi phơi bày cả những vết thương đang còn mưng mủ hay những khuyết điểm hệ thống lâu đời không trị dứt được. Nó tự vả vào mặt mình, nó tự “diễn biến hòa bình” mình, tự tiết lộ, tự thú nhận những mặt trái xấu xa của nó cho kẻ thù, cho bạn bè năm châu bốn biển. Dường như nó không tìm cách che dấu cái gì. Với nó, không có gì gọi là nhạy cảm, không có gì gọi là đụng đến an ninh quốc gia, không có gì gọi là thể diện quốc gia. Ai muốn tìm khuyết điểm của Mỹ, chẳng cần tìm đâu xa, chỉ cần đọc báo Mỹ và đọc những bài diễn văn của các ứng cử viên.
Bầu cử Mỹ là một cuộc phỏng vấn lớn, kéo dài, để tìm ứng viên cho một cái “job”: tổng thống. Ứng viên cần có quá trình, cần kinh nghiệm, nhưng không phải là một nhân vật tiền chế, kiểu Tập Cận Bình hay Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng…Trong cuộc phỏng vấn này, các ứng cử viên – những người lãnh đạo tương lai của đất nước – được công dân của họ và đối thủ của họ săm soi, mổ xẻ, từ chuyện gia đình, con cái, sự nghiệp, tài sản, thói quen, các khuyết tật, ăn ở, đi đứng…, có lẽ không từ một chi tiết nào.
Trong bầu cử Mỹ, người ta chỉ trích, phê phán những người có quyền thế, có tiền bạc thì ở Việt Nam, những người có quyền thế, có tiền bạc lại chỉ trích, phê phán, thậm chí chửi mắng, lên án những kẻ thế cô, kể cả những người đang bị giam giữ trong tù.
Trong bầu cử Mỹ, mọi cánh cửa đều mở toang ra cho mọi người nhìn nhau và người ngoài nhìn vào thì ở Bắc Kinh, trong suốt thời gian có đại hội đảng Cộng Sản, chuyện quốc gia đại sự nhốt trong phòng kín như bưng. Bồ câu không được thả, cửa kính xe không được kéo xuống, đồ chơi điện tử không được bán…
Tóm lại, trong lúc cách đi tìm người lãnh đạo kiểu Mỹ là một vận động toàn xã hội thì ở những Trung Nam Hải hay Hà Nội hay Havana hay Bình Nhưỡng, tất cả đất nước được thu tóm vào tay một tập đoàn mà Lê Đình Nhất Lang gọi một cách hình tượng là “bọn tao” qua một bài thơ lạ và đặc sắc:
Bọn tao là một khối đặc 
Bọn tao già đi nhưng không lệ thuộc vào một niên đại 
Bọn tao không chấp nhận sự thông suốt 
Bởi sự thông suốt đe dọa tính đặc của bọn tao
Bọn tao ngăn cản mọi sự túa ra 
Bọn tao bưng bít 
Bởi sự túa ra làm cho bọn tao hở
Bọn tao chống mọi lực đẩy 
Bọn tao trì kéo 
Bọn tao kết chùm 
Bọn tao vinh danh quán tính và thần thoại quá trình quánh
(…)
Bọn tao biết trước sau rồi cũng bị toát hơi 
Hoặc nhão ra dưới sức vặn khổng lồ của những viễn kiến nhân loại 
Bọn tao nghĩ tới chuyện phơi khô 
Để dành và không bao giờ rửa 
Không bao giờ được rửa
(Lê Đình Nhất Lang)[2]
Bọn tao này là một nghịch đảo hoàn toàn với quần chúng trong bầu cử Mỹ.
Bọn tao thì cứng, thô và lì lợm, khô chết còn quần chúng thì ồn ào và sinh động.
Dịch chuyển
Chả thế mà trong bài diễn văn thắng cử khuya ngày 6/11 và rạng sáng ngày 7/11, Obama thú nhận: “Tôi biết rằng những cuộc vận động tranh cử nhiều lúc có vẻ nhỏ mọn và vớ vẩn. Và điều đó cung cấp đầy đủ chứng cớ cho những kẻ ưa nhạo báng rêu rao rằng nền chính trị của chúng ta chẳng có gì khác hơn là một cuộc đấu đá của những tay tự cao tự đại hay là lãnh địa của những quyền lợi riêng biệt.”[3]
Nhưng thực ra, theo ông,
“Nền dân chủ trong một quốc gia có 300 triệu dân có thể thật là ồn ào, thật là hỗn tạp, và thật là phức tạp. Mỗi người trong chúng ta đều có quan điểm riêng của mình. Mỗi người trong chúng ta đều giữ vững những niềm tin sâu xa. Và khi chúng ta trải qua những lúc khó khăn, khi chúng ta phải thực hiện những quyết định trọng đại cho xử sở, thì không khỏi khuấy động lên những cảm xúc mạnh mẽ, khuấy động lên những tranh cãi.”[4]
Đúng như thế. Làm sao mà tĩnh lặng, im ắng, nín khe, ổn định khi mà xứ sở này không bao giờ có sự hiện diện của cái tập đoàn “bọn tao”.  Ở đây chỉ có quần chúng, có mọi người, nên  bầu cử Mỹ ồn ào, hỗn tạp và phức tạp cũng là chuyện bình thường. Nó phản ảnh hiện thực xã hội và là động lực để đất nước này dịch chuyển. Không phải là để tiến lên, tiến tới, tiến đến chỗ giải quyết mọi vấn đề (kiểu các khẩu hiệu tuyên truyền), mà đơn giản chỉ là dịch chuyển. Biến dịch. Các kết quả bầu cử 6/11 cho thấy dấu hiệu của những thay đổi lớn lao trong những thập niên tới.
- Trước hết là sự tái đắc cử của Obama, một người da đen. Các thăm dò tại phòng phiếu cho thấy càng ngày càng có nhiều cử tri da màu quan tâm đến chuyện đi bỏ phiếu và trong số này, có đến 93% cử tri da đen, 73% cử tri Mỹ La Tinh (latino), 72 % cử tri Á châu bầu cho Obama.[5] Ngoài ra, Obama còn được sự ủng hộ của 55% cử tri phụ nữ và 60% cử tri dưới 30 tuổi.
- Đồng tính: Lần đầu tiên, ba tiểu bang (Maine, Maryland, Washington) đã chấp thuận hôn nhân đồng tính. Tammy Baldwin  (đảng Dân Chủ, tiểu bang Wisconsin) trở thành thượng nghị sĩ đầu tiên của Mỹ công khai tuyên bố đồng tính. Bà là một trong số 118 ứng cử viên đồng tính thắng cử trong các cuộc bầu cử tiểu bang và địa phương năm nay.
- Marijuana: Hai tiểu bang (Colorado và Washington) hợp pháp hóa một vài cách sử dụng marijuana(cần sa)[6].
- Vai trò của phụ nữ: Lần đầu tiên, phụ nữ ở Thượng Viện đạt con số kỷ lục với 20 nữ thượng nghị sĩ, trong đó, có 5 tân thượng nghị sĩ. Đặc biệt, ở tiểu bang New Hampshire, tất cả những viên chức dân cử hàng đầu đều là nữ: tân thống đốc Maggie Hassan, hai dân biểu liên bang, một mới đắc cử là Ann McLane Kuster (Dân Chủ) và một tái đắc cử là Carol Shea-Porter (Cộng Hòa), hai thượng nghị sĩ liên bang, một mới đắc cử là Kelly Ayotte (Cộng Hòa) và một tại chức là Jeanne Shaheen (Dân Chủ).
- Cộng đồng thiểu số: Một con số kỷ lục các ứng cử viên từ các cộng đồng di dân đắc cử vào quốc hội, trong đó, có 4 gốc Á Rập, 30 gốc châu Mỹ La Tinh (Latinos), 1 gốc Caribê và 10 gốc Á Châu.
Riêng về cộng đồng Á Châu, năm nay, có 35 ứng cứ viên ứng cử vào các chức vụ liên bang, so với 10 trong năm 2010 và 8 trong năm 2008. Trong số 10 người đắc cử, có 5 người mới: 4 là  dân biểu và 1 là thượng nghị sĩ.

baucumy2-1-200x300
Tammy Baldwin (tiểu bang Wisconsin), 
Thượng Nghị Sĩ đầu tiên công khai tuyên bố đồng tính.
 
baucumy2-2
Grace Meng, tân Dân Biểu gốc Đài Loan
 Democratic Convention
Tammy Duckworth, tân Dân Biểu gốc Thái Lan, 
cựu trung tá, bị cụt cả hai chân trong chiến tranh Iraq.
 baucumy2-4
Mazie Hirono (Nhật), phụ nữ Á Châu sinh ở nước ngoài đầu tiên 
và là Phật tử đầu tiên đắc cử Thượng Nghị Sĩ Liên Bang.
 
baucumy2-5
Mark Takano (Nhật), Dân Biểu da màu đầu tiên 
công khai tuyên bố là người đồng tính.

baucumy2-6
Hawaii’s Tulsi Gabbard (Thổ dân đảo Samoa), 
Dân Biểu đầu tiên theo Ấn Độ Giáo (Hindu)
 Với sự tái đắc cử tổng thống của một Obama da đen cùng với sự hiện diện của nhiều phụ nữ hơn và nhiều người từ các cộng đồng thiểu số hơn trong quốc hội, cuộc bầu cử lần này cho thấy một một bước ngoặc trong nền chính trị Hoa Kỳ. Một Hoa Kỳ đang thay da đổi thịt, một Hoa Kỳ đang dần dà tái định nghĩa chính mình. Đã từng có một thời, khuynh hướng bảo thủ chế ngự chính trường và xã hội Mỹ, mà cao điểm là thời của tổng thống Ronald Reagan với sự ủng hộ tối đa của giới cử tri bảo thủ và khối người da trắng miền Nam. Bây giờ thì thời kỳ đó đã hết rồi. Có một thứ nước Mỹ thuộc các thập niên 1950, 1960 và 1970 đã trôi vào quá khứ. Chỉ mới bốn năm trước đây, không ai tin rằng là những người da đen, những người đồng tính, những di dân Tây Ban Nha, di dân Á Châu và giới trẻ sẽ đứng chung nhau để thúc đẩy đất nước dịch chuyển. Bây giờ, chỉ dựa vào da trắng không sẽ dẫn đến thất bại.
Trước hết là do sự thay đổi dân số. Cuộc kiểm tra dân số năm 2010 xác nhận cái mà nhiều người đã tiên đoán: chưa tới một nửa trẻ sơ sinh sinh ra ở Hoa Kỳ là da trắng và cứ một trong ba người Mỹ bây giờ là thuộc nhóm thiểu số. Trong vòng 10 năm (từ năm 2000 đến 2010), dân số Mỹ La Tinh tăng hơn 15 triệu, từ 35,3 triệu đến 50,4 triệu; dân số da đen tăng hơn 3,6 triệu, từ 33,9 triệu đến 37,6 triệu; dân số Á châu tăng hơn 4 triệu, từ 10,1 triệu đến 14,4 triệu. Trong lúc đó, dân số da trắng chỉ tăng có 2,2 triệu, từ 194,5 triệu đến 196,8 triệu, chỉ chừng 1%.
Nhưng quan trọng hơn là sự thay đổi trong cách nhìn của người Mỹ: từ bảo thủ sang khoan dung. Hầu hết nước Mỹ bây giờ tự do, cởi mở hơn, ngay cả ở trong những tiểu bang có khuynh hướng bảo thủ.
Chẳng hạn chuyện ngừa/phá thai. Như chúng ta biết, trong năm bầu cử này, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ chống lại sắc lệnh chăm sóc y tế của chính quyền buộc các bệnh viện và trường học Công Giáo phải chấp nhận bảo hiêm y tế cung cấp tự do ngừa thai miễn phí vì cho rằng điều này trái với tự do tôn giáo. Hội Đồng cũng chống hôn nhân đồng tính, vốn nằm trên phiếu bầu của 4 tiểu bang. Thăm dò dư luận tại phòng phiếu (exit polling) của Reuters/Ipsos cho thấy 51% cử tri Công Giáo bỏ phiếu cho Obama so với 48% cho Romney. Cử tri Tin Lành da đen bỏ phiếu cho Obama 97% so với 3% cho Romney, trong khi cử tri Tin Lành da trắng bỏ phiếu cho Romney 69% so với 29% cho Obama. Điều này cho thấy các tín điều của giáo hội không ảnh hưởng nhiều đến quyết định của cử tri.
Hay chuyện sử dụng marijuana. Ngoài hai tiểu bang Colorado và Washington, 17 tiểu bang khác và Washington DC cũng hợp pháp hóa việc sử dụng marijuana, nhưng chỉ giới hạn trong mục đích y tế. Việc hợp pháp hóa này, nếu diễn ra trên toàn quốc, sẽ bắt đầu cho việc chấm dứt cuộc chiến tranh chống ma túy (war on drugs) là một cuộc chiến vô cùng tốn kém. Trong 4 thập niên qua, cuộc chiến tranh này đã ngôn của Hoa Kỳ chừng một ngàn tỷ đô la (trillion), bao gồm cả việc bắt bớ, xét xử và nhà tù. Năm 2010, có khoảng 1 triệu 6 người Mỹ bị bắt vì tội tàng trữ, buôn bán hay sử dụng marijuana. Theo các nghiên cứu,marijuana là một loại dược chất còn ít nguy hiểm hơn rượu và thuốc lá.[7]
Fareed Zakaria, phụ trách chương trình GPS của CNN, trong một bài báo viết trên Washingtonpost, nhận xét: Cái mà thế giới nhìn thấy trong tuần này qua cuộc bầu cử là một Hoa Kỳ “sắc nét, thực nghiệm, cởi mở và vô cùng đa dạng".[8] Càng lúc càng nhiều những thanh niên thập niên 60 mà con cái họ, bây giờ không những đã đủ tuổi đi bầu mà còn hoạt động chính trị tích cực, tiếp cận với những cử tri mới và  hình thành một quang phổ (political spectrum) chính trị mới. Những người muốn nhà nước đứng ngoài chuyện quan hệ đồng tính, cho phép sử dụng cần sa, và ngừa thai đồng thời cũng là những người muốn một chính phủ đa chủng và bao dung về mặt chủng tộc.
Đó là một cách nghĩ đang thấm vào xã hội. Theo Clara Rodriguez, giáo sư xã hội học tại Fordham University (New York), sau hơn 20 năm dạy học, bà thấy học sinh bây giờ quan tâm đến nguồn gốc chủng tộc của nhau hơn bao giờ hết. Học sinh bây giờ cảm thấy rằng họ có những điều cần học hỏi ở nhau. Hoa Kỳ sẽ sớm thuộc về những người cảm thấy một cách thoải mái khi thừa nhận rằng không hề có một đa số (hay thiểu số) thực sự, mà chỉ có đa dạng và liên kết. Những ai còn muốn dựa trên sự chia rẻ để nắm quyền hành sẽ, hoặc là bị buộc phải chấp nhận thay đổi hoặc tự rút về nơi cái cộng đồng khép kín của họ.
Bầu cử Mỹ là dịch chuyển Mỹ. Mỗi một lần bầu cử đánh dấu một bước mới về phía trước. Hình dáng tương lai của nước Mỹ như thế nào là tùy thuộc vào sự trăn trở sinh động của một quần thể người vô cùng đa dạng đang cùng nhau chia xẻ vận mệnh của cái xứ sở lạ lùng này.
Đó là nơi không chấp nhận sự hiện diện của bất cứ một thứ “bọn tao” nào.
Trần Doãn Nho 11/2012 


[1] http://en.wikipedia.org/wiki/United_States_presidential_election,_2012 . Các số liệu trên đây vẫn còn thay đổi cho đến khi có kết quả chính thức.
[2] News Channel, xem ở: http://www.wptv.com/dpp/news/political/popular-vote-election-results-2012-voter-turnout-lower-than-2008-and-2004-report-says
[4] Xem ở: http://www.washingtonpost.com/wp-srv/special/politics/campaign-finance/
[5] Các tài liệu liên quan đến quỹ tranh cử và quảng cáo, xin xem ở: 
-          http://www.washingtonpost.com/wp-srv/special/politics/campaign-finance/  
-          http://www.washingtonpost.com/wp-srv/special/politics/track-presidential-campaign-ads-2012/
[6] đồ cứt! Bản tin của CNN 25/10/2012:… The magazine’s executive editor Eric Bates passed along a message from his six-year-old daughter who said to tell the president, "You can do it," regarding his re-election. Obama responded, "You know, kids have good instincts. They look at the other guy and say, ‘Well that’s a bulls***ter, I can tell.”
[7] Cả hai phê tiêu đến 173 triệu tiền quảng cáo tại Florida (Obama tiêu 78triệu, Romney tiêu 95 triệu). Xem ở: 
http://www.washingtonpost.com/wp-srv/special/politics/track-presidential-campaign-ads-2012/