Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

Hạ Long - SỢI CHỈ THIÊNG LIÊNG


Hạ Long
Nhân đọc Tuỳ bút cuối đời của PHẠM QUỲNH

Trong cuốn Hoa Đường Tuỳ Bút, do Nhã Nam xuất bản 2011 tại VN, tác giả  Phạm Quỳnh, đã nhìn thấy và tiên liệu từ 1945 nền móng đạo đức của đất nước đang bị lung lay bởi đám đông hỗn hào :

- Cả cái lâu đài văn minh của nhân loại cũng ví như hàng đồ sứ nọ, chớ để cho con voi quần chúng ùa vào mà phá bậy.


- Quần chúng phải buộc bằng những sợi chỉ vô hình của đạo đức, luân lý, phong tục, tập quán, sợi chỉ mong manh nhưng cũng là sợi chỉ thiêng liêng, nhờ đó mà loài người mới thành xã hội có kỷ cương, nếu không thời chỉ là những đám đông ô hợp, hỗn hào, loạn tạp…những sợi chỉ vô hình đó, chúng ta phải biết giữ gìn mà tôn trọng. Mỗi khi đụng chạm đến, phải hết sức cẩn thận, vì đã đứt rồi không sao nối lại được nữa…một dân không biết kính nữa là một dân bất trị vậy. ( trang 21-22 bài 3 Chỉ Buộc Chân Voi)

Đấy là cái nhìn chân thành của Phạm Quỳnh vào thời điểm tháng 3-1945 khi đất nước đang trong cơn cuồng phong bác tạp hỗn hào. Thế kỷ trước, nhà Nho miền Nam trong buổi giao thời khi Pháp mới xâm lăng, khi gốc rễ Nho phong bật tung, từng than thở  trước một xã hội rối ren “con tôm cứt lộn đầu” hay, như Tản Đà than thở sau này : Văn minh ĐôngÁ Trời thu sạch, Này lúc cương thường đảo lộn ru !. Thời buổi 1945, gọi là kách mệnh, vô thần, phá đình chùa, bách hại vua quan, vô sản vô học đầu đường xó chợ nổi lên, lấy chân voi đạp vỡ lọ quý, phường thổ phỉ ăn cướp đội lốt ái quốc thương nòi, bọn hạ lưu mà chính Lenine gọi là lumpen proletariat đã được dùng như một công cụ làm cuộc giai cấp đấu tranh khốc liệt, tàn bạo.

Phạm Quỳnh phân biệt rõ ràng : nhuận thân (hoàn thiện, tu thân) là mục đích của văn học, trạch vật (ban ân tới muôn vật) là mục đích của chính trị, nhưng dù Nhuận Thân hay Trạch Vật (xem bài 4 Văn Học-Chính Trị tr. 27), văn học hay chính trị, thì vẫn phải lấy Trung-Hiếu là đầu (châm ngôn của Phạm Quỳnh treo tại văn phòng Thượng thư- tr.38), viết văn, làm thơ, làm nhạc…mà thiếu thiện căn, phụ bạc đạo lý cha ông, thì cái đuôi vô lễ, vô luân, tà khí, tà tâm…lòi ra, không giấu thiên hạ được.


Trong bài 6 : Chuyện Một Đêm Một Ngày, Phạm Quỳnh kể lại chi tiết đêm Nhật đảo chính Pháp, đánh đồn Mang Cá, ngày 9-3-1945, vua Bảo Đại đi săn về, tiếp quan chức Nhật, phần quan trọng nhất, Vua BĐ tiếp đặc sứ Yokoyama cùng 2 quan lãnh sự Watamata và Ishida, đề cập tới vấn đề độc lập của VN, mà Phạm Quỳnh đóng vai chính, hứa sẽ thuật tường sau này (tr. 43) -mà cụ sẽ không bao giờ còn cơ hội thuật lại cho hậu thế ! Phạm Quỳnh, cùng với cha con Ngô Đình Khôi bị VMCS bắt giam ngày 23-8-1945 và sau đó bị giết, có thể là vào đêm 6 rạng mùng 7-9-1945. Di hài mãi tới năm 1956 thời VNCH mới tìm thấy tại rừng Hắc thú, Thừa Thiên (2).

Phạm Quỳnh 1893-1945, học khoá đầu trường Bưởi Chu Văn An, tốt nghiệp thủ khoa bằng Thành Chung 1908 (cùng khoá còn có cụ Nguyễn Văn Ngọc tác giả Phong Giao Tục Ngữ…), sau ông vào làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ, khảo cứu bách khoa, chủ báo Nam Phong… và từng diễn thuyết nổi danh tại Hàn Lâm Viện Pháp, đề xướng thuyết lập hiến đòi Pháp xác định quyền căn bản cho dân VN, cho vua và quan VN, từ năm 1930. Năm 1932 ông vào Huế làm Ngự Tiền Văn phòng cho vua Bảo Đại, thăng Thượng thư Bộ Học, rồi Thượng thư Bộ Lại (như Thủ tướng) 1944-45, ông cùng với vua BĐ đòi Pháp trở lại hiệp ước 1884, theo đó Pháp giữ vai trò bảo hộ tại Bắc kỳ và Trung kỳ chứ người Pháp không có quyền cai trị trực tiếp. Bỏ lương báo Nam Phong 600 đ. một tháng, Phạm Quỳnh vào làm việc với vua BĐ với một hoài bão cao đẹp cho tổ quốc, không phải vì danh hay lợi.  Ông là người tranh đấu dai dẳng, ôn hoà mà không tương nhượng cho nền độc lập của VN theo lời nhận xét của chính người Pháp thời bấy giờ (1), chính ông là người viết bản tuyên ngôn Độc lập đầu tiên cho vua Bảo Đại vào tháng 3-1945 khi Nhật đảo chính Pháp, trả lại độc lập cho Việt Nam.


Chú Thích :
(1) Theo tài liệu  của sử gia Trần Gia Phụng, báo Thế Kỷ 21, năm 2007, số 221, tr 57-62, thì Phạm Quỳnh gia nhập hội Tam Điểm (FrancMaconnerie Pháp) tại Hà Nội khoảng 1920, HCM cũng vào hội Tam Điểm tại Pháp một thời gian ngắn, 6-1922, trước khi đi Mạc Tư Khoa với CS đệ Tam quốc tế, đầu 1923.
(2)   Phạm Quỳnh với kinh nghiệm nhà báo, nghị viên (Hội đồng thành phố Hà Nội), giao tiếp rộng với các giới Pháp, Nhật…ông đủ kinh nghiệm và khả năng tranh thủ độc lập cho VN theo hướng Quân chủ Lập hiến là hướng đúng đắn hợp tình hợp lý nhất cho VN vào thời điểm đó, ông là một đối thủ nguy hiểm nhất cho đường lối cực đoan tả phái, nên họ phải thanh toán ông trước rồi vây bọc vua Bảo Đại sau. Mất Phạm Quỳnh (do nhóm hương đảng Phạm Khắc Hoè, Ngự Tiền Văn Phòng, xúi dục) Bảo Đại chỉ còn là ông vua bù nhìn cho các thế lực tả, hữu lợi dụng, suốt từ 1945 đến 1955.

Mai Kim Ngọc - Dòng nước sâu


Mai Kim Ngọc

LTS. Bài này được trích từ cuốn sách 'Nguyễn Mộng Giác và Bằng Hữu' do bạn bè của nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết và xuất bản sau khi nhà văn qua đời. Cuốn sách sẽ được ra mắt trong buổi tưởng niệm Nguyễn Mộng Giác nhân 100 ngày mất của nhà văn, tổ chức tại Hội trường Văn Lang, 14861 Moran St, Westminster CA 92683 vào lúc 1 giờ trưa ngày thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012.

*

Giao tình trên ba thập niên của Giác với tôi bắt đầu bằng chuyện tử sinh và kết cục cũng bằng chuyện sinh tử. Câu chuyện nghe buồn, nhưng thật ra không buồn lại có nét tích cực. Hôm nay tôi sẽ khai triển điều này trong bài văn cuối cùng dành cho bạn. 


Câu chuyện tất nhiên liên hệ đến anh Võ Phiến, một nhà văn lớn như mọi người đã biết. Còn tôi thủa ba mươi năm trước thì tương tự như mọi y sĩ trung niên, bỗng dưng thấy cuộc sống của mình và của bệnh nhân có khi như bắt chước tiểu thuyết, và một vài kinh nghiệm trong nghề  có thể dựng thành truyện ngắn truyện dài. 
Ngắn gọn là tôi đưa anh Phiến xem xấp truyện vừa viết xong. Một nhà văn lớn như anh chắc đã khá đủ phiền toái vì đám người viết nghiệp dư quấy rầy, không xin ý kiến thì nhờ thảo cho một bài tựa. Nhưng biết vậy mà vì ham viết nên  tôi vẫn lầm lì đưa anh đọc truyện ngắn đầu tay của mình. Không biết vì nhân quả nào, hành động táo bạo lại tạo ra một chuỗi sự việc thuận lợi bắt đầu cho một giao tình văn học kéo dài trên ba thập niên với Giác.

Anh Phiến đưa truyện tôi cho Giác đọc. Khoảng một tuần sau tôi nhận được một bưu kiện nhỏ,  trong có lá thư chủ nhiệm tờ Văn Học cho hay sẽ chạy truyện ngắn của tôi ngay số tới.  Trong bưu kiện còn có cuốn Ngựa Nản Chân Bon, tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Mộng Giác sáng tác những tháng ngày ngồi bên đảo Ku Ku đợi thủ tục nhập cảnh Mỹ. Lá thư rất tâm tình do Nguyễn Mộng Giác ký, và cuốn Ngựa Nản Chân Bon có lời tác giả đề tặng ưu ái như của nhà văn cho nhà văn, tuy hồi ấy tôi chưa viết lách gì đáng kể. 
Tôi cảm động vì sự đằm thắm của tờ Văn Học. Nửa đời người sinh họat với báo chí y tế, tôi đã quá quen với những lá thư tòa soạn tuy rất đẹp rất lịch lãm, nhưng  gọn ghẽ không bao giờ dài quá 60 chữ dù để nhận đăng hay không nhận đăng tài liệu gửi đến. Giao tình trong sinh hoạt nhân văn với bạn đồng hương là một ấm tình không thể có một nơi nào khác.

Tôi tức thì đọc Ngựa Nản Chân Bon, thú vị với từng truyện ngắn, từ truyện đầu đến truyện cuối. Qua mỗi nhân vật, mỗi cảnh đời, Giác giúp tôi thấy được  phần nào người và việc miền Nam trong những năm tháng tôi đã ra ngoại quốc. Theo đề nghị của Thơ Thơ thuộc nhóm biên soạn  cuốn Tưởng Niệm Nguyễn Mộng Giác, hôm nay tôi ngồi viết lại những cảm nghĩ về anh với một hoài niệm êm đềm.

Điều tôi muốn nói trước tiên là con người Nguyễn Mộng Giác. Điểm đặc biệt đáng quý nơi anh là sự trung thực. Giác không bao giờ giả vờ yêu thương ai hay tỏ ra thích thú điều gì mà anh không thực tâm. Tôi nhớ đến tính cương trực của Phùng Quán, không dễ dàng xoay chiều theo những áp lực chính trị, xã hội, giao tế thời thượng. Ông Quán có bài thơ Lời Mẹ Dặn nổi tiếng về vụ này, với đọan thơ rất hùng truyền tụng phổ thông trong văn giới:
… Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu...

Có lẽ mỗi hòan cảnh, mỗi đối tượng cũng như mỗi đối phương mỗi khác, và Giác không phát biểu như ông Quán dù trong văn chương hay ngòai đời. Cũng có lẽ văn nạn của Giác không trầm trọng như của ông Quán, và chưa ai cầm dao dọa giết anh.

Nhưng ai theo dõi những sôi động của cộng đồng tị nạn khi Bolsa mới thành lập đều biết Giác cũng gặp khá nhiều khó chịu vì sự trung thực của mình. Lý do là anh không vờ đi được những nhược điểm của một số công chức quân nhân bất xứng của Đệ Nhị Cộng hòa, mặc dù anh kiêu hãnh vì miền Nam. Anh thường nói  dù thua trận, miền Nam vẫn có cung cách sống, truyền thống giáo dục, hệ thống tư pháp, nền tảng văn hóa nghệ thuật vân vân… cao hơn những người thắng trận. Trong Ngựa Nản Chân Bon (NNCB),  nhân vật của anh kính cẩn khi kể lại cái chết siêu việt của vị cao tăng tự thiêu vì đạo pháp, cái chết oai hùng của tư lệnh quân khu miền Tây hay của trung tá cảnh sát Sài Gòn tự vẫn tại tượng đài chiến sĩ trước quốc hội... Nhưng anh không quên nhắc tới quán nước Givral gần đó, nơi tụ họp của nghị viên và chính khách mà  một số bất xứng bất tài chỉ biết phe phỡn với nhau về những đề tài nham nhở.

Nhưng chuyện tôi muốn bàn hôm nay không phải những thương ghét nhất thời của nhóm này nhóm nọ, mà là cái ưu tư của Giác trong NNCB, và có lẽ gián tiếp hay trực tiếp trong nhiều tác phẩm của anh về một đề tài cao hơn mà một nhà văn nghiêm túc không thể né tránh. Đó là chuyện tử sinh. 

Giác dựng NNCB là cảnh bốn thuyền nhân tị nạn trên đảo Ku Ku, họp nhau uống ấm trà dã chiến tại lán của một linh mục đạo Gia tô, sau khi tu sĩ cử hành xong tang lễ cho một đồng hương xấu số. Khách của linh mục gồm một trung úy trẻ có thói quen nhà binh dứt khóat mọi chuyện, một thầy giáo trung học hình như dậy văn hay triết, một nhà báo bất đắc dĩ, và một ông cụ cán sự hưu trí từng trải, biết người, biết việc, biết đời, với kinh nghiệm sống trải dài từ hồi Pháp thuộc cho đến ngày miền Nam thất thủ… 
 
Nhân vừa dự đám ma về, mọi người bàn về cái chết. Nhờ quá trình và kinh nghiệm sống khác nhau Giác đã nghiên cứu và dành cho từng nhân vật, một quang phổ ý kiến nhờ đó mà được khai thác. Còn nữa, đám thuyền nhân xem ra rất thân nhau nên câu chuyện gần như không kiêng kỵ, thậm chí có người hỏi  linh mục về đức tin và về thái độ của nhà tu với chuyện tự vẫn dưới ánh sáng Phúc Âm. Câu chuyện nhờ vậy mà được ráo riết mổ xẻ cho đến ngọn nguồn.

Cái chết đầu tiên do linh mục kể. Kẻ bất hạnh là một học giả hay một lọai trí thức nào đấy, rất giàu về sách, còn nghèo mạt rệp về mọi phương diện khác. Hôm tự tử ông ta sai vợ đi chợ để rảnh rang thi hành ý định. Còn lại một mình, ông ta treo giây thòng lọng lên trần, không dùng ghế đẩu mà xếp sách thành chồng để leo lên. Chui đầu vào thòng lọng xong, ông đá cho chồng sách đổ.

 Ẩn dụ dùng chồng sách thay thế chiếc ghế đẩu khi treo cổ tự tử rõ ràng thích ứng với nhà trí thức chán đời. Sống với sách mà chết cũng với sách, quả là Giác dựng truyện công phu. Nhưng tôi thắc mắc là tại sao ông ta tự tử. Theo bố cục, sự việc chắc không ăn nhằm đến chuyện quốc cộng. Còn cảnh nghèo túng thì tôi nghĩ không đủ mạnh để làm nhà trí thức từ giã cuộc đời và bỏ lại vợ con trong cảnh bơ vơ. Kho sách bán ký cũng mang lại ít nhiều thu họach đủ cho ít nhất một thời gian. Cái trang bản thảo cuối cùng với dấu hỏi và dấu chấm than không thỏa mãn như một lý giải. Tại sao ta ra đời và tại sao cuộc sống chỉ là một chấm than lớn là những ý niệm hơi quá sang cho hòan cảnh nghèo túng của hai vợ chồng. Ưu tư cũng không thực tiễn và quá siêu hình để một con người trí thức bỏ lại cuộc đời cũng như trách nhiệm với vợ con. Tôi tiếc đã không hỏi Giác thêm về ẩn dụ của câu chuyện, như đã thóang dự tính khi đọc NNCB lần đầu. Nhưng  dù sao tôi nghĩ Giác đã xử dụng được cái chết này để đưa ra ý kiến của một giáo sĩ về đề tài tự vẫn và sự cấm kỵ của Phúc âm.

Rồi một người trong hội uống trà cho rằng cái chết tự vẫn bản chất có ý nghĩa cao siêu. Đó là một phản ứng tích cực cho thân phận con người. Đã không chọn được thời điểm cũng như nơi chốn khi ra đời, tự vẫn là dành lấy quyết định để chết thế nào, bao giờ, và ở đâu…

Khi mọi người đã kể lại và cho ý kiến của mình về những cái chết khả kính khác nhau, từ tử vì đạo, vì thế cuộc, vì dân vì nước, tới vì danh dự  trai thời loạn… cụ cán sự già mới phát biểu ý kiến. Cụ phát biểu khi cuộc trà của linh mục sắp tàn, có người hỏi cụ có sợ chết không. Cụ bảo sợ. Và chính xác hơn, cụ nói cái chết cụ sợ nhất là cái chết của một thây ma biết đi. Thây ma ấy là nhà văn Thanh Tịnh, người bạn học tài hoa đã sớm thành thần tượng của cụ với những bài như ‘Ngày Khai Trường’  trong Quê Mẹ. Cụ thấy ‘Ngày Khai Trường’  hay ho tầm cỡ  ‘La Rentrée des Classes’, một trích đọan  tác phẩm của Anatole France mà sở giáo dục Bảo Hộ đã cho in chung với những trích đọan tác phẩm của các nhà văn Pháp nổi tiếng khác để làm sách giáo khoa trung học. 

Nhưng gặp lại sau 75, thần tượng đã đổi thay để trở thành cái máy nói, chuyên quảng cáo cho ông Hồ. Thanh Tịnh suy tôn lãnh tụ bằng những lời lẽ cũng như điệu bộ nhờ lập đi lập lại nhiều lần đã nhuần nhuyễn như con múa rối có lắp sẵn dây cót và bài bản… 
 
Và cụ cán sự già lẩy thơ Chinh Phụ Ngâm. Chính xác hơn,  cụ đọc:
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon’

Dòng nước sâu ẩn dụ cho sự chết. Dòng nước  không đáy tất nhiên là đáng sợ. Nhưng nếu không dám nhảy vào thì cụ cũng nhất định không thành con ngựa gỗ, hay thảm hơn một thây ma biết đi như Thanh Tịnh để quảng cáo cho ông Hồ…

Truyện của Giác là những trằn trọc nghiêm túc về cái chết và những suy tư nặng tính siêu hình. Nói chung, thế hệ tôi dù không theo nhân văn đều được học ít nhiều về Triết. Những ai theo nhân văn khi lên đại học, thì vốn liếng về Triết tất nhiên dồi dào. Do đó, khi viết chúng tôi thường có xu hướng để Triết len lỏi vào văn bài, không bằng lời thì bằng ý. 

Tuy nhiên, những người như tôi triết một cách tài tử. Những phiền muộn của các đề tài thâm sâu, thậm chí đen tối, khi viết xong chỉ cần một giấc ngủ ngon là rũ sạch ra khỏi đầu. Còn Giác, tôi nghĩ chúng theo đuổi anh lâu hơn. Anh đủ ám ảnh về thân phận con người để dựng ra NNCB với chủ đề nghiêm chỉnh về chuyện tử sinh. 

Rồi chúng tôi ít gặp nhau. Anh vì sức khỏe bỏ tờ Văn Học, còn tôi thì một vài sinh họat mới làm xao lãng chuyện viết lách. Gần đây tôi nghe anh đau nặng, một căn bệnh ngòai chuyên môn của tôi nên tôi không trực tiếp giúp anh được chuyện gì.

Tôi thỉnh thỏang đến thăm khi anh còn ra ngòai được. Lúc đầu chúng tôi có khi còn đi ăn trưa với nhau, dùng lại cái món bí-tếch anh thích khẩu và về những chuyện văn chương anh tâm đắc. Bệnh anh dần dần nặng hơn, chuyện kiêng khem mỗi ngày mỗi gắt gao, và ly rượu đỏ cũng tuyệt đối không được đụng tới.

Bệnh anh bớt đi rồi lại tái phát, và anh ra vào bệnh viện gần như hàng tháng. Lần cuối đến thăm Giác, tôi nhìn thần sắc và nghe báo cáo của nhân viên y tế, biết anh không còn được bao lâu. Anh nằm li bì trên giuờng bệnh, lồng ngực di động lên xuống theo nhịp thở nặng nề. Giác  xấp xỉ cái tuổi 70 cổ lai hi, bệnh tật ngặt nghèo lại nhiều biến chứng, tôi chỉ mong anh ít đau đớn, điều mà các y sĩ của anh có thể gọi là thành công.
Ngự Thuyết và tôi đứng bên giường tưởng anh đang hôn mê, nhưng sau năm mười phút anh mở mắt. Anh tỉnh táo tức thì, câu chuyện mạch lạc như mới từ một giấc ngủ bình thuờng thức dậy. Gặp bạn đến thăm, Giác say sưa nói chuyện. Tất nhiên là chuyện văn học. Lần này đề tài là Sông Côn Mùa Lũ, với sự khó khăn khi viết đọan Bắc Cung Hòang Hậu Lê Ngọc Hân ra mắt Chính Cung Hòang hậu Phạm Thị Liên vợ cả vua Quang Trung. 

Anh cười, cái cười méo mó vì chưa lắp răng nhưng sung sướng và vui thú. Tôi không nhớ từng câu từng chữ chính xác, nhưng đại để anh nói đọan này là một thử thách cho người viết.  Hòan cảnh căng thẳng và đối chọi khi hai bà gặp nhau là chuyện thường tình của việc chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai, ngay trong truyện Kiều. Nhưng trong cảnh vương giả và gốc nguồn khác biệt của hai hoàng hậu, nhân tâm lại càng rầy rà và nhà văn lại càng vất vả. Vậy mà anh đã dựng được sự căng thẳng ngay từ khi Chánh Cung rót trà mời khách. Anh thú vị đã đặt được bàn tay thô kệch mưa nắng lao động của gái Bình Định bên bàn tay thanh tú ngọc ngà của công chúa Bắc Hà. Giác nghĩ chính anh cũng ấn tượng vì nghịch cảnh hai bàn tay, và nhân vật của anh là hai bà Hòang cũng ngỡ ngàng. Nhưng cột khéo thì mở cũng phải khéo, và anh đã dùng cậu bé Quang Toản làm gạch nối hai người đàn bà nguồn gốc và tư thế quá khác nhau…

Thấy anh vui vẻ chuyện trò, tôi nghĩ các bác sĩ của Giác chắc biết phong tục Việt Nam nên đã giấu anh tình trạng bệnh lý tuyệt vọng. Nhưng tôi lầm khi chúng tôi sắp ra về, anh nói ra đi  anh không còn gì tiếc nuối. Anh mãn nguyện với những  gì cuộc sống đã dành cho anh. Anh đã viết được những cuốn truyện anh muốn viết,  anh bằng lòng với sự thành đạt con cái đã gặt hái, và anh yên ổn ra đi. Giác bình thản và thư thái. Giọng anh chững chạc, không chút nghẹn ngào hay xúc động khi nói tới cái chết của bản thân. Giác không còn vẻ ưu tư tôi thường thấy nơi anh khi anh khỏe.

Tôi lại nhớ đến Ngựa Nản Chân Bon. Tôi nhớ đến cái  trăn trở về sự chết của đám thành viên hội uống trà dã chiến mà tôi nghĩ cũng là của chính tác giả. Tôi ôn lại những cái chết duyệt qua trong truyện ngắn ấy. 
Phê phán hay ngưỡng mộ ai thì NNCB quá rõ ràng. Nhưng Giác tâm đắc với cái chết nào, bây giờ tôi mới rõ. Cái chết của Giác không giống cái chết của các ông tướng tá oai hùng của miền Nam thời tháng tư 75. Thật ra anh không thất bại trong việc anh làm là viết văn. Anh cũng không thích nghi với cái chết kiểu cách trí huệ và đầy ẩn dụ cao siêu mà mơ hồ của nhà tư tưởng nọ khi ông ta leo lên chồng sách để treo cổ. Sau cùng, Giác không bao giờ chết như của con ngựa gỗ Thanh Tịnh nào đó mà tuy tim còn đập phổi còn thở nhưng lương tâm cùng liêm khiết đã ra đi chỉ còn để lại một thây ma.

Nếu mỗi chúng ta cuối cuộc đời đều đứng trước một dòng nước sâu có lẽ không đáy, thì dòng nước ấy không làm Giác sợ hãi. Giác tự tại lội xuống, không khẩu hiệu, không cường điệu, không đại ngôn…

Mai Kim Ngọc
Cali, tháng 8, 2012.
 



Trần Văn Nam - NHỮNG CHI TIẾT MỚI VỀ VĂN HỌC QUA PHỎNG VẤN CỦA NGUIỄN NGU Í


(Xin cải chính: Bút hiệu trong toàn bài xin sửa lại là NGUIỄN NGU Í”, thay vì Nguyễn Ngu Í)

TRẦN VĂN NAM

Với cuộc phỏng vấn vừa theo quy cách phỏng vấn vừa pha lẫn với hàn huyên tâm sự có tính chất thân mật do quen biết, nhà báo Nguyễn Ngu Í dẫn dắt ta vào sự tìm hiểu nghiệp văn của 12 nhà văn nhà thơ có tiếng tăm trong Văn Học Miền Nam trước 1975. Có biết bao nhiêu chi tiết về cuộc đời sáng tác biên khảo của họ được phơi bày, nhưng trong khuôn khổ vừa phải, người viết bài này chỉ kể ra một hai chi tiết gọi là mới chưa thường nhắc tới trong sách báo trước đây, chỉ có trong cuốn sách này của Nguyễn Ngu Í. Cuốn sách mang tên: “Sống Và Viết Với Nhất Linh, Lê Văn Trương, Lê Văn Siêu, Á Nam, Doãn Quốc Sỹ, Đông Hồ, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Lê Ngọc Trụ, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường”, xuất bản trước  1975, Xuân Thu tái bản tại California sau 1975. Để qua những chi tiết về một đời văn có nhiều ghi chép trong sách báo thì ta không tiếc vì chúng đã được lưu lại; nhưng nếu bỏ qua một số chi tiết mới chỉ có trong sách này của Nguyễn Ngu Í thì rất uổng (do biết mà không phổ biến). Một đôi lần ta có đọc trên sách báo trước đây về tấm lòng quý trọng văn học của ông Nguyễn Ngu Í; riêng trong sách được minh thị với vài dòng thủ bút của Lê Ngọc Trụ ghi nhớ “tấm lòng” và “tâm hồn” đặc biệt ấy của Nguyễn Ngu Í. Và độc giả cũng nhận ra điều này khi đọc trong Bách Khoa thời gian ông còn cộng tác với Tạp chí: Ông đồng ý đăng miễn phí vài lời nhắn tin như cải chính tên hay bút hiệu cho vài bạn trẻ mới đóng góp được một số bài thơ trên các báo; mới là giới trẻ nên họ nhờ cải chính khiêm tốn, nhưng ông sửa đổi lời lẽ cho có vẻ “mạnh miệng”, chững chạc. Bàng bạc trong cuốn sách này là tấm lòng và tâm hồn ấy qua những câu hỏi phỏng vấn, qua chợt nhớ đến một điều nào đó khi lắng nghe lời giải đáp của nhà văn. Nhưng bài viết này không cốt nêu ra hết những bộc lộ tâm hồn Nguyễn Ngu Í, chỉ cốt nêu ra một hai chi tiết mới về văn học của từng tác giả được phỏng vấn. Nhờ phỏng vấn rồi chợt nhớ, rồi được hồi đáp đầy đủ, mà ta biết thêm những điều mới. Những tiết lộ qua trò chuyện giúp cho ta biết chi tiết về nguyên nhân làm “thai nghén” tác phẩm (với đoạn viết về nhà văn Nhất Linh). Cũng kiểu ấy, ta biết thêm về thời cuộc có liên hệ đến văn học của một thời kỳ (với đoạn viết về nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải). Hoặc biết tỏ tường thời điểm lên vàxuống của loạt tiểu thuyết với nhân vật người hùng (trong đoạn viết về nhà văn Lê Văn Trương). Hoặc biết thêm sách nào bán chạy hoặc bán chậm; cũng như tác phẩm “Khu Rừng Lau” sáng tác từ lâu nhưng được sắp xếp lại ở HàTiên khi Doãn Quốc Sỹ làm Hiệu trưởng Trung học nơi đó, năm 1960-1961 (với đoạn viết vềnhà vănDoãn Quốc Sỹ). Hoặc cho ta biết rõ vì sao Nhóm Hàn Thuyên khi thì bị ngộ nhận là công cụ của Sở Mật Thám Pháp, khi thì bị ngộ nhận thuộc hệ-phái Đệ Tứ Quốc Tế (với đoạn viết về nhà biên khảo Lê Văn Siêu). Hoặc giúp ta trước đây nhớ mơ hồ nay biết đúng thời điểm nhà xuất bản “Yểm Yểm Thư Trang” không còn hoạt động, cũng như cho ta biết nhà thơ Đông Hồ có lần được phân công đi dự Hội Thơ Quốc Tế tại Bỉ-Quốc năm 1961, nhưng chuyến đi bất thành. Hoặc để biết vì sao nhà văn Sơn Nam bị ngờ vực từ trước 1975, dù phần lớn truyện của ông chỉ chuyên viết về khai phá đất đai phương Nam thuở  xa xưa, hoặc những chuyện ma chốn đồng quê Cà Mau. Nhờ phỏng vấn thân tình của Nguyễn Ngu Í, nhà văn Bình Nguyên Lộc tiết lộ một cách vui vẻ về vụ báo mình bị ém ra sao. Cũng nhờ qua phong cách quý trọng văn chương chữ nghĩa của Nguyễn Ngu Í, nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ tâm sự cơ duyên không ngờ đến giúp ông gắn bó với ngữ học. Với người đồng điệu trong cải cách viết chữ quốc ngữ (như viết “I ngắn” thay vì “y hay I dài”; dùng  “b thay cho dấu sắc” như  “tib thay vì tiếp” trong ý muốn loại trừ 5 dấu trong chữ Việt), nhà phỏng vấn Nguyễn Ngu Í tâm đầu ý hợp với dịch giả Vi Huyền Đắc. Qua tâm sự, Vi Huyền Đắc có ý truyền kinh nghiệm khi làm những tác phẩm đồ sộ như Bách Khoa Tự Điển Việt Nam; công trình lớn và khó tiêu thụ như vậy thì nên thực hiện bằng công sức của chính phủ hợp cùng ủy ban soạn thảo; còn tư nhân dù là nhóm hay đoàn cũng khó thành công. Với đoạn viết về học giả Nguyễn Hiến Lê, ngoài những kể lại đức tính cần mẫn, làm việc có giờ giấc rất trật tự và khoa học của học giả mà nhiều sách báo đề cập, Nguyễn Ngu Í còn có dịp cho ta biết thêm vài điều mới như thời cuộc nào khiến Nguyễn Hiến Lê bị kẹt ở thành phố Long Xuyên đến 7 năm, và nhờ chỉ làm việc ban đêm nên ban ngày rảnh rang khiến ông viết được cuốn sách đầu tay “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”. Đoạn viết sau cùng dành cho nhà văn Hồ Hữu Tường. Cómột thời gian ngồi tù dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm cùng Hồ Hữu Tường, nhà phỏng vấn Nguyễn Ngu Í (tên thật là Nguyễn Hữu Ngư, quê quán Bình Thuận) càng nghiêng về chuyện vãn tâm tình hơn là phỏng vấn đúng quy cách, nhờ vậy có những chi tiết mới giúp ta thêm hiểu biết nhà văn hóa này.


Cảm hứng nào là nguyên nhân để nung nấu thai nghén thành hình cuốn “Xóm Cầu Mới” của Nhất Linh? Ta biết nhờ một chi tiết mới phát lộ trong cuốn sách “Sống và Viết với…” của Nguyễn Ngu Í. Khi được phỏng vấn đề cập đến cuốn sách “Bèo Giạt” mới quảng cáo ở bìa sau cuốn tiểu-thuyết Bướm Trắng, Nhất Linh cho biết Bèo Giạt là tên khởi đầu thay vì “Xóm Cầu Mới” (Sách đã được các người con của Nhất Linh cho tái bản tại Nam California năm 2002, do nhà xb. Văn Mới ấn hành). Và nhà văn Nhất Linh nói rõ ông đã phác họa nội dung cuốn sách Xóm Cầu Mới do cảm hứng từ bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận. Các câu thơ làm ông như bị lảng vảng về ý tưởng những thân phận nổi trôi trong thời cuộc: “Bèo giạt về đâu hàng nối hàng/ Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”. Như vậy Xóm Cầu Mới của Nhất Linh viết từ cảm hứng bất chợt rồi được đào sâu thành cuốn tiểu thuyết lịch sử. Điều đặc biệt, đây không phải lịch sử làm nên do những nhân vật tên tuổi mà lịch sử do những đời thường, những thân phận bèo giạt mây trôi vì thời cuộc, bôn ba vì sinh kế.  Vậy đây lại là một bước ngoặt khác của Nhất Linh. Sau thời kỳ Tiểu thuyết Luận đề Đoạn Tuyệt; sau thời kỳ Tiểu thuyết Phiêu lưu Tâm lý Bướm Trắng; sau thời kỳ Tiểu thuyết lịch sử của trí thức tiểu tư sản (?) Giòng Sông Thanh Thủy, bây giờ là Tiểu thuyết Lịch sử của những nhân vật đời thường Xóm Cầu Mới. Từ lâu, ta vẫn nghĩ “Xóm Cầu Mới” khởi điểm từ lý thuyết viết tiểu thuyết lịch sử những đời thường, mà lý thuyết thì động cơ do lý trí. Còn cảm hứng thì động cơ do từ tâm hồn,rồi sau đó lý trí mới dàn trải xây dựng thành một truyện dài.

Và đây là chi tiết mới cho văn học trong đoạn viết về Lê Văn Trương. Nhờ cuốn sách này của Nguyễn Ngu Í mà ta biết rõ thời điểm lên và xuống của tiểu thuyết người hùng. Người hùng trong tiểu thuyết Lê Văn Trương không phải loại anh hùng lịch sử, loại võ nghệ cao cường, hay loại hoang đường dã sử. Đây là loại anh hùng thấy chuyện bất bằng chẳng tha, loại người hùng gần giống như trong ý nghĩ của Sơn Nam qua câu thơ “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” (Thấy chuyện bất nhân mà không can thiệp thì không phải là người tốt). Nguyễn Ngu Í rất tán đồng loại người hùng này của Lê Văn Trương, nên đoạn viết về Lê Văn Trương hào hứng với 39 trang, đứng đầu trong cuốn sách phỏng vấn này của Nguyễn Ngu í. (Hồ Hữu Tường, người đồng tù Côn Đảo, với 33 trang, đứng hàng thứ nhì). Theo Lê Văn Trương, những người ít từng trải đời, chưa đi khắp thiên hạ, thiếu kinh nghiệm chứng kiến, nên mới nói loại người hùng trong tiểu thuyết của Lê Văn Trương toàn  là “anh hùng rơm”, không tưởng, không thể có trong đời thường. Tiểu thuyết của Lê Văn Trương bán rất chạy vào những năm từ 1935 đến 1945. Đến năm 1964, nghĩa là sau 10 năm di-cư vào Miền Nam, tiểu thuyết Lê Văn Trương chỉ còn ít người đọc, đời sống của ông vất vả bệnh tật. Nhưng năm 1954 và vài năm kế tiếp, sách của ông vẫn còn bán chạy. Lúc ấy, với đời sung túc, ông thuê cả phòng riêng để viết tiểu thuyết ở một khách sạn trên Đại lộ Nguyễn Huệ Sài Gòn; có xe hơi; và mua nhà ở số 100/67 Trần Hưng Đạo gần đường Bùi Viện (thuộc khu vực Tây ba-lô bây giờ). Nguyên nhân sa sút, có phải vì tiểu thuyết của ông không còn hấp dẫn trước viễn ảnh chiến tranh với những dằn co về ý thức hệ, về triết lý Hiện Sinh, về các quan niệm sáng tác mới du nhập từ Tây phương, về thực tế đời sống kinh tế khó khăn lúc chuẩn bị bước  vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, lúc có các cuộc tranh đấu Phật Giáo chống lại chế độ Ngô Đình Diệm, tất cả những dồn dập ấy khiến tiểu thuyết của ông như thuộc về quá khứ không còn nữa.
Đoạn viết về Á Nam Trần Tuấn Khải có những nhắc nhở thời quần chúng Việt hết sức tán thưởng nhân vật “anh Khóa” trong thi phẩm “Bút Quan Hoài” của ông: anh Khóa được tiễn chân lên đường sang Pháp du học, du học gồm thâu kiến thức văn minh để khi trở về giúp nước thoát ách đô hộ (chắc đây là hoài vọng có được những nhà thông thái, nhà trí thức cấp cao, có thể tranh đấu chốn nghị trường với chính quyền Pháp?). Khi ông đi xe lửa từ Bắc vào Nam năm 1928, nơi nào phải ghé để đi từng chặng như lúc xuống xe ở Vinh - Đông Hà - Huế - Đà Nẵng-Qui Nhơn-Nha Trang-Sài Gòn (đi từng chặng vì đường xe lửa chưa hoàn toàn thông suốt từ Hà Nội đến Sài Gòn vào thời ấy), thì ông đều có dịp nghe người ta ngâm thơ hay đọc thơ anh Khóa. Nhắc nhở ấy cho thấy nguyện vọng nung nấu của toàn dân từ Nam chí Bắc muốn thoát ách đô hộ thực dân Pháp.Thi phẩm Bút Quan Hoài xuất bản năm 1924, được tái bản nhiều lần, lần cuối vào năm 1957 tại Sài Gòn. Riêng người viết bài này đã có thấy nó vào năm 1950 tại Tháp Chàm, nơi nhà người bạn học lớp Nhất Tiểu Học (lớp cao nhất bậc Tiểu Học, năm ấy còn phải thi bằng tốt nghiệp bậc Tiểu Học, thi tại Phan Rang): nhớ mang máng hình bìa vẽ người đàn bà gánh nước với màu đen trên nền màu vàng nâu; và cũng nhớ mơ hồ có câu thơ Tản Đà ghi trên hình bìa Bút Quan Hoài: “Non sông nặng một gánh tình/ Trời chưa cho nghỉ thì mình cứ đi”.

Đoạn viết về Lê Văn Siêu nhắc ta nhớ Nguyệt san in màu rất hiện đại vào thời 1955 hay 1956, Nguyệt san hình ảnh “Sáng Dội Miền Nam” do Lê Văn Siêu làm chủ bút. Nhớ mang máng trên báo ấy có bài tùy bút của nhà văn Mai Thảo viết về giờ khắc lúc gần sáng của Sài Gòn; với hình ảnh đen trắng những người uống cà phê nóng trút vào dĩa; với hình ảnh xe thổ mộ lắc lư ngọn đèn dầu từ ngoại ô đi vào thành phố; với hình ảnh ánh sáng bình minh bắt đầu đượm hồng trên cột thu lôi Nhà Hát Lớn (tức trụ sở Tòa Nhà Quốc Hội sau này dưới thời Việt Nam Cộng Hòa). Cũng nhớ mang máng đọc trên nguyệt san Sáng Dội Miền Nam 2 bài thơ của Vũ Hoàng Chương xuất hiện lần đầu tiên: Đăng Trình và Mây Sóng Tình Thơ. Nhờ một chi tiết mới, qua đoạn viết về Lê Văn Siêu, nó xóa tan những ngộ nhận Nhóm Hàn Thuyên (hiện diện từ năm 1939 ở Hà Nội). Lê Văn Siêu có chân trong nhóm nên biết rõ những ngộ nhận. Ngộ nhận thứ nhất: Nhóm Hàn Thuyên là công cụ của Sở Mật Thám Pháp, sở dĩ bị ngộ nhận như vậy vì nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh có chân trong nhóm quen thân với người bạn học Pháp lúc ấy với chức vụ Giám Đốc Sở Thông Tin- Báo chí và Tuyên truyền. Sở ấy có công việc riêng khác với sở Mật Thám. Ngộ nhận thứ hai là Nhóm Hàn Thuyên thuộc hệ-phái Đệ Tứ Quốc Tế, sở dĩ bị ngộ nhận như vậy vì nhóm có đăng bài và xuất bản sách của Hồ Hữu Tường. Thật ra, theo sự hiểu biết thân cận của Lê Văn Siêu thì cơ sở Hàn Thuyên do gia đình ông anh vợ của Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, đầu tiên chỉ là cơ sở nhà in làm việc thương mại. Sau nửa năm thành lập, cơ sở không đủ sống, nên Trương Tửu bày việc xuất bản sách, và khéo léo lèo lái thành công thương mại nhờ xuất bản những cuốn sách có giá trị về Chính Trị và Văn Hóa. Tóm lại Nhóm Hàn Thuyên không phải của Mật Thám Pháp, hay của Đệ Tam hoặc Đệ Tứ dù có sự cộng tác của Đặng Thái Mai hoặc Hồ Hữu Tường.

Nhất Linh và Doãn Quốc  Sỹ là những nhà văn lớn có những tác phẩm lớn để lại cho đời, nhưng Nguyễn Ngu Í dường như không chuẩn bị được nhiều câu hỏi để làm dồi dào cho cuộc phỏng vấn, cho nên đoạn viết về Nhất Linh chỉ có 9 trang, và Doãn Quốc Sỹ với 25 trang. Ta chỉ tìm được một ít chi tiết mới về văn học như nhà văn cho biết tác phẩm nào bán chạy nhất (cuốn Dòng Sông Định Mệnh), tác phẩm nào từ lâu ta vẫn tưởng phổ biến mạnh lại hóa ra bán chậm (cuốn Gìn Vàng Giữ Ngọc). Qua cuộc phỏng vấn này, Doãn Quốc Sỹ giúp ta nhớ lại thời điểm có vụ xung đột Bình Xuyên và chính phủ Ngô Đình Diệm, xảy ra năm 1955. Lúc ấy, Doãn Quốc Sỹ cư trú tại Đại Học Xá Minh Mạng ở Chợ Lớn, và vừa viết xong một tác phẩm văn học, cuốn “Trái Cây Đau Khổ”. Đạn súng lớn có khi rơi lạc vào Đại Học Xá, may mắn tác phẩm mới viết xong của ông không sao cả. Doãn Quốc Sỹ nói đến tác phẩm không bị tiêu hủy trong khói lửa, hàm chứa ý tưởng còn có biết bao tác phẩm văn chươngcủa nhân thế mất mát trong các cuộc chiến tranh quá dài ở Việt Nam.

Nguyễn Ngu Í nhắc cho ta nhớ về nhà thơ Đông-Hồ khi được mời dạy ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn kể từ niên khóa 1964-1965. Lúc ấy, ông có ý muốn soạn bộ Văn Học Sử Miền Nam từ thời đi mở đất sình lầy hoang phế của Thủy Chân Lạp. Dân đi khai phá vùng đất hoang thì phần đông là người nghèo tha phương lập nghiệp để sinh tồn, thì dĩ nhiên đâu có nhiều sáng tác văn chương, đâu có nhiều tư liệu văn học. Ước vọng soạn thảo ấy không dễ có tài liệu dồi dào, vì vậy hình như ông chỉ soạn thảo được có phần Văn Học Hà Tiên của các danh nhân Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích. Cũng qua phỏng vấn, ta ghi được để mà bùi ngùi thời điểm Nhà sách Yểm Yểm Thư Trang ở Sài Gòn không còn nữa tại đường Nguyễn Thái Học (trước là đường Kitchener). Nhà sách kế bên trường trung học tư thục năm 1953 vẫn còn dạy học sinh Việt với chương trình giáo khoa Pháp, đó là trường Lê Tấn Thành. Liên hệ tới điều này để ta biết Nhà sách Yểm Yểm Thư Trang đã cố công phát huy văn chương Việt, đã xuất bản nhiều sách của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho Miền Nam lúc ấy còn chịu nhiều ảnh hưởng học văn hóa Pháp. Một số trường tư thục vẫn dạy theo chương trình Pháp trước 1954, mặc dù lúc ấy đã có chính phủ Việt Nam Quốc Gia dưới thời Thủ tướng Trần Văn Hữu hay dưới thời Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm. Nhà sách Yểm Yểm Thư Trang tại đường Kitchener ngưng hoạt động vào năm 1961.

Về Sơn Nam, qua phỏng vấn phối hợp với chuyện vãn, Nguyễn Ngu Í tiết lộ cho ta biết Sơn Nam đã bị nghi ngờ rất sớm có liên hệ đến “Mặt Trận Giải Phóng”, từ năm 1965. Bởi vì Sơn Nam từng đi kháng chiến ở vùng rừng Cà Mau, đã từng được giải văn chương vùng kháng chiến với các tác phẩm “Bên Rừng Cù Lao Dung” và “Tây Đầu Đỏ”. Có thể đó chỉ là tác phẩm viết về kháng chiến chống Pháp không có gì đáng nghi ngờ, nhưng sự kiện sau hiệp định Geneve năm 1954 tại sao Sơn Nam không đi tập kết ra Bắc; làm gì mãi đến năm 1965 mới từ Cà Mau về Sài Gòn sống nghề viết truyện cho các báo. Có người nghi ngờ Sơn Nam đến Sài Gòn với nhiệm vụ gì đó. Biết bị nghi ngờ như vậy, qua tâm sự với Nguyễn Ngu Í, Sơn Nam cho biết dù có dồi dào đề tài về kháng chiến chống Pháp, nhưng ông chỉ chuyên viết chuyện ma hoặc chuyện quái đản vùng quê Miền Nam, một phần cũng vì các chủ báo yêu cầu để báo bán chạy. Nhưng Nguyễn Ngu Í biết Sơn Nam rất tâm huyết khi viết các truyện đi khai mở đất phương Nam thời còn “Dưới Sông Sấu Lội, Trên Rừng Cọp Đua”.

Bài viết này chủ yếu nêu ra những chi tiết mới về văn học liên hệ đến từng tác giả, qua phỏng vấn phối hợp với chuyện vãn. Vậy nên những điều cốt yếu của văn nghiệp mỗi tác giả nếu đã được đề cập nhiều trong sách báo, không cần nêu ra nữa. Do đó, ở đoạn viết về Bình Nguyên Lộc, ta chỉ lưu ý đôi điều mới lạ mà thôi, mới lạ nhưng cũng liên hệ đến đời văn. Như từ lâu ta đinh ninh truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc sáng tác từ hứng cảm vùng đất khai phá nào đó ở Miền Đông (các đề tài của Bình Nguyên Lộc lai vãng ở vùng này), mà thực ra ông lấy được hứng cảm từ hình ảnh Hòn Khoai cùng với Mũi Cà Mau, nơi có các bãi bùn mọc lên những cây mắm tiên phong giữ đất phù sa bồi tụ. Ông so sánh chúng như các tiền nhân cách nay hơn 300 năm, những đợt người đầu tiên đi khai phá mở đất vùng sình lầy Thủy Chân Lạp. Qua tâm tình thổ lộ cùng Nguyễn Ngu Í, nhà văn Bình Nguyên Lộc tiết lộ chuyện cay đắng về vụ báo của ông bị ém: Cơ sở Phát hành không  giao báo đầy đủ cho các đại lý, rồi ngày sau nói báo ế bị các nơi trả lại. Nhà văn biết báo mình bị ém, vì vết cắt của máy xén báo còn giữ nguyên dấu như khi mới ra lò từ nhà in (nếu báo phát hành khắp nơi trả lại thì không thể còn giữ nguyên dấu xén báo). Nhờ tâm tình thân mật mới có những điều kể nghe vui như trên, một nỗi buồn trong nghiệp văn chương chữ nghĩa của Bình Nguyên Lộc.

Nguyễn Ngu Í có vẻ rất hào hứng ở đoạn viết về Lê Ngọc Trụ, một phần vì nhà ngôn ngữ Lê Ngọc Trụ chuyên về cấu trúc ngôn ngữ Việt, tâm đầu với Nguyễn Ngu Í cũng là người đang muốn cải cách lối viết Việt ngữ (như làm sao để có thể viết mà không cần đến 5 dấu “sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”, như chữ nào thay thế cho y hoặc d…). Hứng thú hơn hết trong đoạn viết này của Nguyễn Ngu Í về Lê Ngọc Trụ, ở chỗ biết được duyên cơ nào Lê Ngọc Trụ trở thành nhà ngôn ngữ xuất sắc với tác phẩm “Chính Tả Việt Ngữ” (xuất bản năm 1951) và “Việt Ngữ Chính tả Tự Vị” (xuất bản năm 1960). Duyên cơ: do Lê Ngọc Trụ có thời gian 13 năm làm quản-đốc tiệm vàng cho cha vợ, thường tiếp xúc với khách hàng người Hoa Quảng Đông. Qua tiếng Việt nói giọng lơ-lớ của họ, ông lưu ý nguyên tắc biến âm từ tiếng Hán phát âm qua tiếng Hán Việt; rồi nghiên cứu cách biến âm từ tiếng Đức qua tiếng Pháp (hai bên có những tiếng mượn nhau nhưng phát âm biến đổi). Nhờ hiểu cách biến âm như vậy mà Lê Ngọc Trụ khám phá luật hỏi ngã trong tiếng Việt, và luật viết đúng chữ cuối trong vần. Công lớn của Lê Ngọc Trụ được áp dụng dạy từ bậc Tiểu Học với những nguyên tắc tất yếu khiến có thể viết đúng dấu hỏi dấu ngã, chữ cuối cùng là T hay C, có G hoặc không G (người Miền Bắc phát âm đúng, nhờ đó viết đúng, nên các nguyên tắc khoa học này hình như để dạy cho học sinh Trung Nam, và phải khởi đầu từ bậc Tiểu Học). Những phát kiến như vậy rất hay, cho nên Bộ Trưởng Giáo Dục khi ấy là ông Trương Công Cừu cố mời cho được Lê Ngọc Trụ giảng dạy lớp Chứng chỉ Ngữ Học Việt Nam tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Lớp chứng chỉ ngữ học này không khô khan như ta tưởng, mà rất thú vị nhờ truy ra nguyên ngữ của tiếng Nôm, và vạch rõ những biến âm do từ đâu. Tuy nhiên, nhà phỏng vấn cũng có lần thắc mắc tiếng thuần Nôm như trái “Mít” do từ nguyên ngữ nào, vì xứ Trung Hoa không có cây mít? (nhà ngôn ngữ nói là do nguyên ngữ Mật).

Vi Huyền Đắc cũng là người có những suy tư để cải cách viết Việt ngữ, có những ý tưởng hợp với Nguyễn Ngu Í, trong đó có sáng kiến muốn loại trừ 5 dấu trong cách viết tiếng Việt. Nên đoạn viết về Vi Huyền Đắc phong phú gồm 27 trang phỏng vấn cùng hàn huyên trong bữa cơm ở nhà Vi Huyền Đắc tại Ngã Năm Bình Hòa (Gia Định). Vi Huyền Đắc là dịch giả từ Hoa Văn và Pháp Văn. Trong khi hàn huyên, Vi Huyền Đắc nói ra những ví dụ về dịch thuật, dịch làm sao cho hợp với  cách nói cách viết của người Việt, không thể dịch sát với nghĩa của tiếng nước ngoài. Những ví dụ ấy thật thích thú, thật đáng nhớ để áp dụng khi dịch. Và Vi Huyền Đắc cũng từng là một người trong ban soạn thảo cuốn “Bách Khoa Tự Điển Việt Nam” do Đào Văn Tập chủ trì. Việc soạn cuốn sách này được phân công chu đáo, giờ giấc làm việc và bàn luận thật nghiêm túc. Rồi Đào Văn Tập mất, Đào Đăng Vĩ đem công sức tiếp tục việc soạn thảo, nhưng công sức tư nhân dù là một nhóm khá đông cũng chỉ có giới hạn, việc soạn sách phải bỏ dở dang. Vi Huyền Đắc qua suy nghiệm, có ý kiến thật chí lý: Công trình vĩ đại về học thuật như vậy phải giao cho chính phủ. Chính phủ mới có đủ nhân vật lực để thực hiện, chính phủ mới có đủ quyền uy phát hành sách đến các cơ quan. Như vậy, nhà nước vừa thu hồi tài chánh phải trả ấn phí cuốn sách đồ sộ và tiền công hậu đãi cho toàn ban soạn Bách Khoa Từ Điển; vừa phổ biến được khắp các ngành nghề công trình vĩ đại về chữ nghĩa, rất ích lợi lâu dài cho toàn thể dân chúng; để mọi nơi có thể tham khảo kho tàng văn hóa quốc gia.

Đến phần viết về Nguyễn Hiến Lê, dù rằng cũng do hàn huyên tiếp xúc thân mật tại nhà của học giả, nhưng ta cảm thức  được sự nể nang của Nguyễn Ngu Í. Nể nang dành cho các nhà văn khác cũng đều do thành quả văn nghiệp của họ, nhưng với Nguyễn Hiến Lê thêm cái nể nang giờ giấc làm việc rất nghiêm nhặt của ông: từ mấy giờ bắt đầu viết, từ giờ nào dùng bữa, lúc nào phải tức khắc không viết nữa vì đến lúc đi ngủ. Nghỉ là nghỉ, sau viết tiếp, vì Nguyễn Hiến Lê quen với công việc của ngòi bút, không cần đợi hứng tới thì mới viết được. Có người cũng từng thắc mắc, trước Đệ Nhị Thế Chiến, tức là chưa phải thời kỳ kháng chiến chống Pháp, học giả Nguyễn Hiến Lê làm gì ở Đồng Tháp Mười mà viết được cuốn “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”. Ta cũng nên lưu ý thời điểm năm 1935 thì Đồng Tháp Mười còn vô cùng hoang vu, ít ai dám tới. Nguyễn Hiến Lê nói với Nguyễn Ngu Í duyên cơ viết được cuốn sách ấy: năm 1935, ông là công chức Sở Công Chánh chuyên đi đo mực nước kinh rạch vùng Hậu Giang. Công việc đo mực nước chỉ làm vào ban đêm, ban ngày rảnh rang, ông giết thời giờ bằng cách viết du ký. Rồi thì xung-đột Việt Minh-Hòa Hảo xảy ra, ông bị kẹt ở thành phố Long xuyên đến 7 năm, làm nghề dạy học tại đó, từ năm 1947 dến 1953. Từ tâm sự của Nguyễn Hiến Lê qua Nguyễn Ngu Í, ta phải ngưỡng mộ ông là người tính toán làm ăn rất có kế hoạch. Tiến trình như sau: mỗi năm “Nhà xuất bản Phạm Văn Tươi” ấn hành 3 cuốn trong 5 bản thảo có sẵn của ông, và trong năm đó ông viết thêm 3 cuốn; cứ tiếp tục như vậy trong 4 năm thì ông đã có 12 cuốnsách xuất bản. Đến năm thứ năm thì hết giao kèo với nhà xuất bản Phạm Văn Tươi; ông thành lập “Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê” để vừa tái bản vừa có sách mới viết, như vậy cũng mỗi năm 3 hay 4 cuốn ấn hành. Nhưng sau 1954, đất nước chia đôi làm ông mất một nửa độc giả mua sách.Tuy nhiên, nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê vẫn đứng vững nhờ những cuốn sách của ông rất có ích lợi văn hóa. Nói những con số như trên cho dễ thấy kế hoạch của Nguyển Hiến Lê, chứ thật ra thì trồi sụt một hai cuốn, thường chỉ trồi sụt một cuốn mà thôi.

Phần cuối cuốn sách, Nguyễn Ngu Í cũng một cách thức vừa hàn huyên vừa phỏng vấn tìm hiểu đời văn nhà văn hóa Hồ Hữu Tường. Có một thời gian đi tù Côn Đảo cùng Hồ Hữu Tường dưới chế độ Ngô Đình Diệm (theo tài-liệu trong “Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc” thì tác giả Ng. Ng. Í bị an-trí ở trại cải-huấn Tân Hiệp Biên Hòa, vậy không phải đi tù Côn Đảo), nên đoạn viết về Hồ Hữu Tường được Nguyễn Ngu Í thân tình hỏi cặn kẽ từ thuở Hồ Hữu Tường làm báo thời Pháp-thuộc, cho đến lúc bị bắt ở Rừng Sát vì mưu định lợi dụng lực lượng Bình Xuyên (cũng là mưu định của vài nhân sĩ khác) để làm chuyện lớn nơi chính trường một khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Nhờ thân tình như vậy, Nguyễn Ngu Í được học giả tiết lộ vài điều dấu kín thuở viết báo bằng tiếng Pháp. Như năm 1935, giới viết lách chống thực dân đã đánh lừa được Sở Mật Thám, khiến người Pháp đinh ninh báo lén lút của họ chỉ có thể in tại Pháp mà thôi, vì các chữ in rất rõ và rất đẹp (thật ra làm báo tại một cái chòi vùng ngoại ô Sài Gòn). Đinh ninh như vậy, mật thám Pháp chuyển hướng truy tầm mãi tận Paris. Đó là do kế hoạch vận động bọn trẻ xin làm công nhân trong nhà in tối tân Ardin đường Catinat, học cách xếp chữ, rồi ăn cắp từ từ ngày một ít các chữ đúc sắc sảo của nhà in này. Và một tiết lộ cần nên hiểu rõ về báo Pháp ngữ “La Lutte” (Tranh Đấu), bắt đầu từ số 5 tháng 10 năm 1934 với Nguyễn An Ninh “đứng mũi chịu sào” cho cả các phe phái gồm Đệ Tam Đệ Tứ và Nhân Sĩ, họ cùng đồng tâm viết báo  và hô hào chống thực dân Pháp. Nguyễn An Ninh thuần túy quốc gia và rất uy tín với quần chúng Miền Nam, nên đã được mời làm vai trò làm trung gian điều hợp cho tờ báo. Những tác phẩm đáng lưu ý của Hồ Hữu Tường như “Tương Lai Văn Hóa Việt Nam”, “Phi Lạc Sang Tàu”, “Thằng Thuộc, Con Nhà Nông”, dĩ nhiên có nhiều đề cập trong phỏng vấn của Nguyễn Hữu Í; với những nét chính mà mọi người chắc cũng đã biết, nên xin không nhắc lại. Có phải không, đây là một chi tiết khá mới: Hồ Hữu Tường quan niệm đừng ngần ngại viết về mình, viết như vậy dễ trung thực hơn viết những điều chung chung mơ hồ trừu tượng; trái với quan niệm nên tránh tự-truyện vì “Cái Tôi Là Cái Đáng Ghét”. Tuy là tác phẩm chủ yếu phỏng vấn thân mật đời văn sống và viết, nhưng NguyễnNgu Í cũng không quên cung cấp cho ta tài liệu ghi chép theo lối biên-khảo tiểu sử của từng người. Sau đây là tư liệu để ta biết qua vài nét chính của “Thuyết Trung Lập Chế” do Hồ Hữu Tường cùng Võ Thành Minh hô hào trước lâu đài Hội Nghị Geneve chia cắt Việt Nam năm 1954: Miền Nam nên trở thành lãnh thổ của Liên Hiệp Quốc (có nghĩa là Miền Nam trở thành nước “Siêu Lập”). Và “Triết Lý Hòa Đồng” của ông như sau: Tổng hợp Văn Minh Kỹ Sư, Văn minh Chính Ủy, Văn minh Tu sĩ. Chắc ông có ý-kiến chủ trương nhà cầm quyền không nên chỉ toàn là chuyên viên các ngành khoa học; không nên toàn là nhà chính trị; không nên toàn là người của tôn giáo nào.

TRẦN VĂN NAM
City of Walnut, California, tháng 7 năm 2012

Nguyễn Lê Hồng Hưng - Hết Mê


Nguyễn Lê Hồng Hưng

Trong e mail trước anh hỏi trên biển thì làm sao biết được chuyện xảy ra trên đất liền, những ngày tàu lênh đênh  rảnh rang thì làm gì và tàu ghé bến có được lên bờ chơi không? Những câu hỏi mấy chục năm qua tôi đã nghe nhiều người hỏi, có lẽ từ đây tới ngày tôi nghỉ hưu vẫn còn có người gặp mặt tôi hỏi những câu tương tợ, thường những người trên đất liền hỏi cho có thôi chớ thiệt ra hổng ai muốn nghe câu đáp lại. Tôi phân vân có nên trả lời anh hay không thì chiều nay tôi nhận của anh một e mail nữa. Trong mail một mặt anh trách tôi dạo sau này hông muốn liên lạc với bạn bè luôn cả những lần về bờ cứ ‘ru rú ở nhà chơi với vợ’ và mặt khác anh than phiền: “Tao chán ngấy cái thế giới đàn ông giống như con chó giữ nhà và đàn bà là chủ nhân khó tánh; nấu nướng thì không biết, người ta nấu dọn ra thì chề cái môi đỏ chét chê nấu dở ăn không vô, mở miệng ra thì hậm hực, quanh co không thành thật; ra ngoài thì gian lận tuổi tác bằng cách tô lên tóc màu mè xanh đỏ, lắp lên mặt một lớp hoá chất dầy và không bao giờ thấy được mặt thật...” Anh  kể cho tôi nghe những phiền toái trong gia đình và ao ước được làm “Cánh chim bạt ngàn để khỏi phải vật lộn từ trong nhà ra tới xã hội với công việc và nhìn mọi tiêu cực hàng ngày xảy ra làm chướng tai gai mắt...”.


Tôi nhìn vào điện thoại biết tàu đương chạy ven bờ biển Thuỵ Điển, chuyện xác định vị trí con tàu trước kia thủy thủ muốn biết thì phải hỏi thuyền trưởng hoặc thuyền phó, bây giờ không cần hỏi, ngồi trong phòng cũng biết vị trí con tàu đương ở trên hải phận quốc tế hoặc vào hải phận nước nào. Thời buổi này một việc xảy ra trong một nơi xa xôi hẻo lánh trên trái đất chỉ vài giờ sau cả thế giới điều biết. Cũng như tôi biết chuyện buồn phiền của anh qua chiếc di động nằm gọn trong lòng bàn tay này.

Bây giờ là giờ rảnh của tôi và tôi đương ngồi sau lái tàu nhìn chiều Mùa Thu trên vùng biển Baltic. Trời không gió, mặt biển êm láng và nước biển xanh màu cẩm thạch. Nền trời trắng đục, mặt trời trốn đâu mất nhưng ánh sáng vẫn còn toả sáng đủ để phóng tầm mắt nhìn xa vô dãi đất liền mù mờ trong làn sương mỏng. Tôi trở vô phòng, để điện thoại lên bàn và ngồi xuống mở laptop. Thường ngày giờ này nếu đường truyền internet tốt thì tôi nối mạng tìm đọc cái gì đó, không thì gõ lên bàn phím những chuyện xy ra trong ngày hay một ý nghĩ vẩn vơ nào. Tín hiệu cho biết đường truyền internet khá cao nhưng tôi không nối mạng, tôi thấy mình cần gõ cho anh vài dòng, kể anh nghe một vài chuyện. Hy vọng khi đọc xong anh vơi bớt phần nào ưu phiền, không còn phẫn nộ và nhìn đâu cũng thấy cảnh chướng tai gai mắt.

Có một dạo tôi sống trong một xóm nhỏ miệt U Minh hạ. Nói là xóm nhưng thật ra chỉ vài ba trăm căn nhà lưa thưa cách nhau một hai công đất, day cửa ra dòng kinh. Khoảng giữa con đường cách nhà này qua nhà kia có một cây mắm hay cây bần gì đó mà lâu quá tôi quên mất rồi, gốc cây bự gần cả ôm, dưới gốc có miễu thờ cục đá cuội tròn bằng cái trứng ngỗng màu đen láng bóng mà người ta gọi là miễu ông Tà. Theo lời kể thì cục đá do một anh mò tôm càng mò được rồi đem để lên gốc cây, sau đó có người đồn ra khắp xóm rằng có điềm lạ. Nghe có điềm lạ bà con chạy tới xem và đem nhang, đèn, bông, trái ra chỗ cục đá bày ra cúng. May sao măm đó cả xóm được trúng lúa mùa. Nhờ trúng mùa lúa bà con trong xóm càng tin tưởng nhờ cục đá linh thiêng phù hộ, họ bèn rủ nhau góp tiền mua gạch ngói về cất lên cái miễu, đặt bàn thờ có lư hương, chưn đèn, riêng cục đá thì được bọc vô miếng vải màu đỏ kính cẩn để lên bàn thờ và đặt tên cho cục đá cuội là ông Tà. Về sau có dịp đi đó đi đây, tôi thấy nơi thờ bình vôi, chỗ thờ lưỡi tầm sét... những biểu tượng như vậy đều có những câu chuyện huyền thoại linh thiêng tương tợ như nhau. Dạo đó tôi cũng tin tưởng ông Tà như tất cả mọi người quê mùa ấy, mỗi khi đi cắm câu ngang miễu tôi tạt vào đốt nhang, đứng ngay ngắn trước bàn thờ ông Tà xá ba xá và cầu xin phù hộ cho câu được nhiều cá thì tôi sẽ cúng ông một nải chuối.
Từ ngày ra nước ngoài, sống chung chạ phần đông với dân có học, nhứt là sống trong đất nước văn minh, tôi nghĩ là người trí thức thì không ai mê tín dị đoan. Nhưng sau một thời gian, tôi mới biết mình lầm, biểu tượng lại xuất hiện khắp nơi, người ta đặt tên biểu tượng là Chánh Nghĩa.  Lúc còn ở U Minh tôi hổng biết tại sao bà con lấy tên ông Tà đặt cho cục đá, bây giờ tôi mới hiểu ra, có  Tà (Tà Nghĩa) tức phải có ông Chánh (Chánh Nghĩa), đúng quá xá rồi còn gì nữa. Dù sao đi nữa dân quê thờ ông Tà cũng không tổn hại tới ai, trái lại còn có lợi về mặt tinh thần nữa. Ở một nơi ho lánh quê mùa không có nhà hội, không hàng quán, nhân dịp ngày rằm mùng một bà con tụ tập trước miễu cúng quảy luôn tiện tán dóc, trao đổi chuyện hay, chuyện dở, chuyện mùa màng và nhờ vậy mà con nít với mấy đứa chăn trâu cũng kiếm ké được chút ít bánh, trái, xôi, chè. Ở nước ngoài những người thờ ông Chánh có phương tiện hơn, họ bày tiệc thù tạc, tâng bốc, vinh danh, phong chức cho nhau và phô trương kích thích lòng hận thù.  Họ tưởng rằng có ông Chánh trong tay tức có thần linh phù hộ cho một sức mạnh vạn năng có thể thay trời đổi đất, họ tụ tập lê la ông Chánh đi khắp chỗ đông người, vào nơi hội hợp chìa ông Chánh ra hù dọa. Đến chùa chiền cũng phải dành một chỗ thờ ông Chánh, nếu không thầy chùa khó mà ngồi yên gõ mõ công phu. Có người hiểu biết khuyên họ dừng mê tín nữa tức thì họ bài bác, chửi bới đôi khi dùng thủ đoạn ác độc hại người hoặc thượng cẳng tay, hạ cẳng chưn bề hội đồng người ta đến lỗ đầu máu tuông linh láng. Thiệt tình tôi không mấy hứng thú nói ra ba cái chuyện nặng nề này, nhưng muốn anh hiểu cho tôi vì sao không liên lạc với bạn bè. Hơn nữa đọc mail anh tôi thấy như cả một trời ưu phiền đương phủ xuống cái thân thể ốm yếu của anh, tôi muốn đem chuyện ông Chánh, ông Tà để cho anh thấy mê tín dị đoan nó đã thm vào máu tim của mọi tầng lớp người Việt ở khắp nơi chớ không riêng dân quê mùa dốt nát trong hóc Bò Tó nào ở miệt U Minh.
Làm cánh chim bạt ngàn đôi khi cũng gặp giông gió bão bùng, hổng khôn khéo lèo lái sẽ bị rơi nhào đầu xuống chết không kịp ngáp, tôi đã chứng kiến mỗi lần giông bão, chim va vô mui tàu chết hoài. Đứng trên bờ nhìn ra biển khơi rồi mơ ước viễn du và từ biển khơi trông về một nơi nào đó trong đất liền để mơ mộng chuyện trùm mền với vợ, giống như người đứng núi này trông qua núi nọ thấy núi nọ cao hơn núi này và ngược lại, thì cũng đâu khác nào chuyện mê tín dị đoan. Nếu anh chưa bỏ được đố kỵ, hận thù trong lòng anh, thì cho dù có là cánh chim đại bàng cõng cả trời mây, bay khắp chưn trời góc biển thì chuyện buồn phiền vẫn cứ bám miết theo anh như hình với bóng.

Kiến thức và lao động tạo nên tiếng tăm lừng lẫy và cả một gia tài lớn lao đưa ta lên địa vị cao tột đỉnh cũng chỉ là tạm thời, không gì bền vững. Nói chung bất cứ vật gì ta tạo ra và thu góp được, kể luôn cả vợ và con, khi chết đi chúng ta cũng để lại, không mang theo được một cái nào. Lên voi xuống chó của ngày hôm nay rồi sẽ lùi vào quá khứ. Người bạn đời mà ta thương yêu và sáng tạo ra biết bao ngôn từ đẹp đẽ để gọi, nào là người yêu quí, một na của anh hoặc của em... Trau chuốt những lời hoa mỹ và tặng bông hoa màu mè, những cử chỉ âu yếm, hôn hít làm đẹp lòng nhau chẳng qua vì chữ SỢ. Sợ mất nhau rồi không còn chỗ để nương tựa “đời mất em rồi anh sống với ai”. Mua chuộc, nài nỉ ỉ ôi thậm chí van xin tình yêu, cuối cùng không cách này thì cách khác tình yêu cũng lần hồi phai mất. Thân thể con người ta, từ kẻ bần cùng cho tới những người quyền cao chức trọng, ai ai cũng bị thời gian bào gọt hao mòn, teo tóp, bệ rạc và lăn lóc như cá đồng mùa hạn bị mắc cạn trên bùn lầy, lây lất ngoi ngóp hớp không khí sống qua ngày chờ đất khô rồi chết khô theo đất. Thân ai  nấy lo, hồn ai nấy giữ còn hổng xong nói chi nương tựa đỡ đần cho nhau, ai gánh vác ai đây.

Cha mẹ thương con vô bờ vô bến, con thương cha mẹ có giới hạn.  Tục ngữ Việt Nam có câu “cha mẹ thương con biển hồ lai láng, con thương cha mẹ tính tháng tính ngày”. Con bịnh cha mẹ buồn lo mất ăn mất ngủ; cha mẹ bịnh con dòm qua và hỏi han vài câu, đứa nào nghĩ tình tới thăm và nấu cho vài bữa cháo, đưa đi bác sĩ vài lần cũng là hiếu thảo lắm rồi. Bịnh dai dẳng năm này qua tháng nọ chẳng đứa con nào túc trực bên giường đâu. Khi con còn nhỏ xin tiền cha mẹ thì không ngần ngại; con khôn lớn lập nghiệp, dù nó thành công tột đỉnh, giàu sang nhứt bậc, cha mẹ lân la hỏi xin tiền cũng không dễ dàng gì. Trái ngược nhau hết, đây là sự thật và không lấy gì bảo đảm để nương tựa cho đời mình, vậy thì sao ta không coi việc lo liệu cho con cái là bổn phận, là một niềm vui, không lợi dụng lòng hiếu thảo mong báo đáp công đưỡng dục sanh thành, cũng như không bám cẳng gây phiền chúng để tự hành hạ tâm mình.  Suy cho cạn nghĩ cho cùng, có phải chúng ta đương sống trong cảnh trái chiều rồi ôm một đống khổ đau đến nỗi dùng lời lẽ thâm độc chê trách vợ, con và trong lòng sanh ra một chuỗi muộn phiền. Cuối cùng chính ta là thủ phạm gây phiền phức từ trong nhà lan ra xã hội mà ta hổng hay, cứ day ra hận đời, oán người....

Tuy nói là vậy nhưng tôi không có ý đả phá tuyệt đối khuyên anh từ bỏ đời sống trần gian đầy bạo loạn này để tôn thờ một tôn giáo nào đó và dồn hết thì giờ đi nhà thờ, nghiền ngẫm kinh Thánh hay là cạo đầu vô chùa gõ mỏ tụng kinh cho vơi bớt nỗi khổ niềm đau. Chúng ta chỉ cần bỏ ra một ít thời gian và bỏ đi sự đam mê các thú vui thường tình, dùng một phần thời giờ còn lại học hỏi và luyện tập thương yêu, loại hết thói quen ích kỷ và mở lòng vị tha để giữ thăng bằng trong cuộc sống xao động hiện nay.

Những ý tưởng với những mu chuyện vặt vãnh này tôi đã tìm tòi góp nhặt được và nghiền ngẫm là nhờ những ngày tháng lênh đênh trên biển và thời gian “ru rú ở nhà chơi với vợ”. Dĩ nhiên đây hổng phải ý của riêng tôi, mà là của những bậc cao nhân đã có sẵn trên đời ít ra cũng hơn hai ngàn năm trước. Tới nay tôi thấy những ý tưởng này vẫn còn giá trị, tôi đã lấy làm kim chỉ nam cho cuộc sống đời mình. Nhờ đó mà tôi đã dọn dẹp sạch sẽ rác rến lo âu trong lòng, tẩy hết dơ bẩn muộn phiền trong tâm trí và cũng không còn mê tín dị đoan nữa. Một người không mê, tức là người tỉnh, một người tỉnh táo thì thoải mái, sung sướng biết bao và không dại gì biến mình thành nhà đô vật để “vật lộn từ trong nhà ra ngoài xã hội”.

Chuyến này tàu khởi hành từ cảng Hamburg, đi ngang kinh đào Kill vào vùng biển Baltic, chuyển và nhận hàng các nước thuộc scandinavian. Mùa Thu vùng này rất đẹp, tuy hơi lành lạnh nhưng trên biển nước vẫn xanh và lờ mờ trong sương vài cánh buồm trắng. Trên bờ cây đã trổ lá vàng và bắt đầu rơi rụng...  Ngày mai tàu ghé Stockholm, thủ đô nước Thụy Điển, mỗi lần tới đây lòng tôi rộn rã, tâm hồn phơi phới. Tôi rất thích thành phố sạch sẽ, nhứt là con người ta sống rất hiền hoà và rất là nhân bản. Nhìn đất nước con người nơi đây tôi ngậm ngùi nhớ và thương cho dân Việt mình quá. Biết đến bao giờ người Việt mới có cuộc sống an bình, trong một xã hội văn minh với những con người hiền lành và chứa chan tình cảm, để những người anh, em nhìn nhau với tấm lòng đầy thương yêu không nhỏ nhen, không đố kỵ và không hận thù.

Nguyễn Lê Hồng Hưng
Baltic 20-9-2012




Nguyễn Mộng Giác - NGỰA NẢN CHÂN BON

Nguyễn Mộng Giác


Gió vi vu làm nền cho lời ca thánh: ...”Nhờ công ơn lân tuất của Chúa ta, Đấng đã từ cao cho 'Mặt trời mọc' đến thăm viếng. Và soi sáng cho những ai còn ngồi trong u tối và trong bóng chết, để dắt chúng ta trên con đường an lạc. Lạy Chúa xin cho các linh hồn được yên nghỉ muôn đời và được hưởng ánh sáng nghìn thu. Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta thì dù có chết sẽ được sống lại, và ai sống mà tin ta thì không phải chết đời đời”.



Vị linh mục đọc kinh Lạy Cha... và rảy nước thánh lên chiếc quan tài đóng vội bằng gỗ ván thuyền. Vợ người quá cố khóc thảm thiết, và lúc bấy giờ lời cầu nguyện lại làm nền cho tiếng khóc. ”Lạy Chúa, xin thương người quá cố này là tôi tớ Chúa. Xin đừng theo việc làm mà phán xét họ, họ vốn một lòng một ý với Chúa. Lại nữa, khi còn sống họ đã ở cùng đoàn thể các tín hữu, với một lòng tin tưởng thành thực. Xin vì lòng nhân từ Chúa, cho linh hồn Giu-se họp đoàn thể cùng các Thiên Thần Chúa trên trời. Nhờ Chúa Ki Tô, Chúa chúng con. Amen”. Quả phụ nín khóc. Dường như một lúc nào đó, tạm quên đau khổ nàng lắng nghe lời ca thánh, và bất chợt nhận thấy lời nguyện chung gần gũi với nỗi lo lắng và niềm mơ ước riêng tư. Hoặc niềm đau xót đã đến chót vót, khiến nàng bàng hoàng ngơ ngác, như người đã lên đến ngọn đỉnh trời, lo âu nhìn vực thẳm quanh mình, không biết làm gì nữa giữa chốn mây khói bàng bạc và gió thổi. Vị linh mục tiến thêm một bước để làm dấu thánh giá trên quan tài... ”Lạy Chúa xin cho linh hồn Giu-se được nghỉ yên muôn đời, và được hưởng ánh sáng nghìn thu. Xin cho linh hồn Giu-se được nghỉ yên. Amen. Mong cho linh hồn này và linh hồn mọi tín hữu, nhờ lòng lân tuất Chúa được nghỉ ngơi bằng an. Amen”.

Đã đến giờ hạ huyệt. Từng nắm cát rơi rào rào trên tấm ván thiên, lâu lâu có lẫn tiếng sỏi rơi khô. Góa phụ lại nức nở khóc. Chẳng mấy chốc bên bãi đáp phi cơ trực thăng lập chon von trên sườn núi có thêm một ngôi mộ. Những người đưa tang lần lượt xuống núi, lòng nặng trĩu đẩy bước chân mau.

Chờ cho góa phụ về xong, vị linh mục mới cởi áo lễ và mời mấy người bạn thân về lán mình uống trà. Họ vui vẻ nhận lời, mỗi người có lý do hoàn toàn khác nhau. Viên trung úy từng học ban triết ở đại học Văn Khoa trước khi bị động viên muốn bàn với linh mục vài vấn đề thuộc tín lý đạo Thiên Chúa liên quan tới cái chết và sự phục sinh. Ông nhà giáo muốn có dịp đưa ra nhận xét về ý nghĩa tang lễ. Cụ cán sự công chánh hồi hưu muốn quên một ám ảnh khó chịu và muốn thưởng thức trở lại vị trà thơm Đài Loan sau mấy tuần uống trà HCR nhạt thếch.

Họ cùng vui vẻ xuống núi. Trong khi vị linh mục lui cui xuống bếp nấu nước sôi, ba người bạn cởi áo ngoài ngồi chờ trên những chiếc ghế làm bằng thân dừa cắt từng đoạn ngắn. Trời hôm ấy hơi bức, nên họ ăn mặc hết sức ”thoải mái”. Người nào cũng vận quần đùi. Cụ cán sự công chánh mặc chiếc áo thun tay cánh mầu xanh dương, trước ngực vẽ hai đứa trẻ cầm vợt vũ cầu với hàng chữ ”Joanna is my childday friend”. Lúc được tàu khoan dầu vớt, cụ bỏ quên áo nhà binh rách lưng dưới ghe nên một thủy thủ Tây Đức phải nhín bớt phần quà Noel gửi cho con trai giúp cụ đỡ rét. Ông nhà giáo có lẽ cũng gặp cảnh huống tương tự, nên mặc cái áo polo trắng có in hình một cô gái Hawai tóc đen dài quấn lơ là tấm khăn vải hoa thật sặc sỡ. Cô gái đứng cười lẳng lơ dưới gốc dừa, trong khi ông giáo phải cười ngượng nghịu mỗi lần có ai nhìn chăm chú vào ngực mình.

Viên trung úy thì giữ được cái áo treillis cho đến tận cầu tàu đảo tị nạn, nhưng luật lệ ở đây không cho phép mặc đồ nhà binh, nên anh phải cởi áo nộp cho cơ quan quản lý trị an và xin một áo may-dô có vẽ chiếc trực thăng trên hàng chữ đỏ viết vội Ku Ku Camp. Vị linh mục đem nước sôi nấu trong lon pâté hộp lên. Ông cũng mặc quần đùi, khoác thêm cái áo sơ-mi trắng cũ. Ngồi chờ nước trà quanh cái bàn gỗ ép xiêu vẹo, cả bốn trở thành những người bình thường. Khó lòng đoán được quá khứ, nếu chỉ nhìn mái tóc dài và cách ăn mặc của họ.

Viên trung úy ghiền cà phê không tha thiết mấy với chuyện uống trà, dù là trà Đài Loan thượng hảo hạng... nên không chịu kiên nhẫn chờ. Vị linh mục vừa ngồi xuống, anh đã vồ vập hỏi:

“Lúc giảng kinh trên thánh đường, Cha có nghe chị ấy kể lể những gì không?”

Cụ cán sự công chánh ngăn lại:

“Chầm chậm đã nào! Trà chưa đượm đâu. Vội gì!”

Linh mục do dự chưa biết phải theo phái già hay phái trẻ. Ông quay về phía nhà giáo, bắt gặp ánh nhìn khuyến khích. Linh mục cười rồi đáp:

“Có chứ!”

Anh trung úy liền hỏi:

“Cha có bực mình không?”

“Không.”

Ông giáo tò mò hỏi:

“Chị ấy nói gì thế?”

Linh mục đáp thay cho anh trung úy:

“Lúc ấy tôi đang hát: ”Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta thì dù có chết cũng sẽ sống lại, và ai sống mà tin ta thì không phải chết đời đời” - ”Góa phụ”, xin lỗi, phải nói cho đúng hơn là ”chị ấy” vật vã bên quan tài kêu khóc ”Em đã cầu nguyện liên tiếp bao nhiêu ngày mà Chúa có cho anh sống được đâu! Làm sao sống lại đây, anh ơi là anh!” Họ chỉ mới yêu nhau, và trốn cha mẹ dắt nhau sang đây trước khi làm lễ cưới. Chị ấy chưa nhận phép bí tích, chưa hiểu ý nghĩa sự sống lại.”

Ông nhà giáo quên cả tính e dè cố hữu, chen vào hỏi:

“Ở chỗ riêng tư xin hỏi thật Cha: Cha có tin ở sự sống lại không?”

Câu hỏi bất ngờ gây thích thú cho mọi người, kể cả vị linh mục.

Ông chậm rãi đáp, giọng tâm sự:

“Tôi cũng xin thật thà đáp các bạn rằng đức tin đến với tôi không theo đường thẳng, lúc vào chủng viện tôi không đặt câu hỏi ấy. Tôi còn nhỏ tuổi, vào chủng viện hay không, có nghĩa đơn giản là vâng lời bố mẹ hay cưỡng lại. Tôi là một đứa con ngoan. Sau nhiều năm học giáo lý, tôi dần dần hiểu tầm quan trọng của câu hỏi, nhưng câu trả lời còn mập mờ. Nếu tôi tiếp tục ở lại chủng viện, có lẽ lý do chính là tôi sợ làm điều khác thường, điều gây ra tranh luận hoặc tệ hơn nữa là gây tai tiếng. Cuối cùng tôi xác quyết rằng có. Các bạn thấy đấy, nếu không khẳng định với tất cả niềm tin, tôi đã trở thành một người tu xuất rồi.”

Thấy nét mặt viên trung úy có thoáng ngờ vực, linh mục hỏi:

“Còn anh, anh tin không?”

Trung úy đáp ngay:

“Cha đừng phiền. Tôi không tin. Hình như Feuerbach hay Marx có nói rằng tôn giáo luôn luôn mang tính chất của nữ tính. Tôi không nhớ rõ ai nói vì sau mấy năm, mớ kiến thức triết học ít ỏi đã rỉ sét cả rồi. Nhưng câu nói trên thì nhất định đúng.”

Vị linh mục mỉm cười bao dung, lắc đầu chầm chậm:

“Rắc rối đấy. Không tin có sự sống lại thì sẽ không trả lời được nhiều câu hỏi hóc búa mà thiết thân: ”Từ đâu ta đến đây? Sống để làm gì? Chết rồi sẽ về đâu? Ý nghĩa của bao nhiêu bất công đau khổ trên quãng đời ngắn ngủi?...”

Viên trung úy không chờ thêm được, cắt lời vị linh mục:

“Những câu hỏi vô ích! Tại sao phải hỏi vậy? Chính cách đặt câu hỏi như thế là dấu hiệu của nữ tính hoặc của tuổi già. Người Pháp có một cách phân biệt tuổi già và tuổi trẻ, sức-mạnh-tự-tin và sự-yếu-đuối-chịu-đựng thật hay. Gặp một bức tường chắn lối đi, tuổi trẻ xem đó là một ”Obstacle à franchir”, tuổi già lại xem như một ”Surface à étudier”. Không nên trở lại những điều đã rồi như ”từ đâu ta tới đây”? Đau khổ ư? Bất công ư? Hãy gắng thu xếp ngay trong đời này chứ đừng nhờ vả hoặc hứa hẹn lần hồi. Còn cái chết? Tôi đoán được ý Cha: Chỉ có Thiên Chúa ban sự sống nên cũng chỉ có Thiên Chúa mới quyết định sự chết và cho sống lại. Không. Không. Chính con người dựng tượng Chúa thì con người có thể quyết định được cái chết. Điều quan trọng là dám hay không? Tôi cho rằng những người thực sự tin ở mình là những kẻ dám tự vẫn. Không chọn được lúc và nơi sinh ra, thì ít nhất cũng dám chọn cho mình lúc và nơi chết đi!

Không khí tranh luận có vẻ căng thẳng. Cụ cán sự hồi hưu vội nói:

“Tuổi trẻ thì lúc nào cũng thế, nhưng kinh nghiệm do lớp già chúng tôi thu thập được bằng cuộc đời thăng trầm, không phải đáng vất cả đâu. Chúng tôi đã từng u đầu vì nhiều bức tường cao, nhiều lần vì hăng tiết vịt, rồi mới cẩn thận ”nghiên cứu” nó. Tôi dịch étudier thành chữ ”nghiên cứu”, có đúng không nhỉ?”

Nhà giáo cười lớn rồi bảo:

“Cụ dịch hay lắm. Thâm lắm! Cụ mỉa mai khéo quá! Nhưng ta uống trà đi chứ. Nguội mất!”

Linh mục chủ nhà nhớ lại phận sự của mình, cười xuề xòa rồi mời:

“Các bạn uống trà đã. Mời cụ, mời anh. Trung úy uống trà đi. Chuyện đâu còn đó. Tôi xin trả lời trung úy về chuyện tự vẫn, sau khi ta thanh toán xong ”ấm” trà này. Xin cụ đừng cười. Tôi vẫn thường khoe với các giáo hữu cái rề-sô tự tạo và cái ”ấm Thiết Quan Âm” đặc biệt HCR này.”

*

Rán thu xếp mọi sự trong đời này? Ai lại không muốn thế. Tôi cũng mong ước như trung úy. Và tôi tin rằng những con người dùng đồ đá thời tiền sử cũng khao khát ”thu xếp” gọn gàng cuộc đời mình với các phương tiện thô sơ. Chúng ta không biết họ có tìm được cách nào không, nhưng những di tích khảo cổ tìm thấy chứng tỏ họ chỉ tìm được một nền văn hóa tạm phù hợp với đời sống thực tế, còn những điều khó khăn, họ cũng hẹn lần hồi hay nhờ vả đến thần linh. Từ bấy đến nay biết bao thế hệ đã sống cuộc đời của họ trên quả đất này, và theo chỗ tôi biết, loài người vẫn chưa thu xếp xong. Triết lý, thần học thường nhắc đến chữ ĐẠO. Con đường của nó luôn mời gọi sự khai phá, mời gọi khởi hành. Cho nên những cuộc tranh luận về sự sống và phục sinh khó lòng đi cho đến một kết luận được mọi người công nhận. Con đường “đạo” để cất chân bước và sống trọn với niềm thao thức chân thành, chứ không phải cho kẻ đứng bên lề ”nghiên cứu” lạnh lẽo. Tôi dài dòng như vậy để giải thích vì sao thay vì dùng lý luận, tôi lại kể một câu chuyện để trả lời trung úy. Không. Tôi giới hạn trong vấn đề nhỏ thôi. Vấn đề tự vẫn để xác lập sự cao cả tự tín của con người. Tôi cũng xin nói thêm rằng câu chuyện này tuy có thực nhưng vẫn giống với chuyện tiểu thuyết. Nó không vraie, mà vraisemblable. Tôi xin dịch là “dường như có thực”, được không cụ? Tôi nhấn mạnh hai tiếng ”dường như” vì những điều người vợ nói với tôi, các bản thảo, sách vở người chết để lại, quang cảnh căn phòng trên gác xép lúc tôi đến, cùng những tìm hiểu của tôi sau này qua sách báo ở thư viện đều là những chứng liệu mờ ảo, có thể như thực theo nhận định và khả năng tổng hợp yếu kém của tôi, nhưng chưa chắc đúng là sự thực nếu chính người chết hồi sinh và đứng ra kể lại cách ”thu xếp” của mình. Tiện hơn hết các bạn xem đây như một thứ dụ ngôn. Hồi ấy tôi vừa được đổi về giáo xứ X. Công việc của một Cha xứ mới đến giáo xứ lần đầu bề bộn như thế nào, các bạn tưởng tượng được rồi. Tòa giám mục địa phận cho phép vị Cha xứ tiền nhiệm ở lại giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi một thời gian, nhưng thú thật, vị ấy đi rồi, tôi cảm thấy bối rối. Giáo dân chiếm một nửa dân số ở vùng này, và vì ở sát một căn cứ Mỹ, nên thành phần dân chúng hết sức phức tạp. Gần giống như một đống rác vậy.

Nhưng là rác Mỹ còn nhiều thứ phế thải đáng giá, nên ruồi nhặng tứ phương dồn về đây. Gái điếm, ma cô, trộm cắp, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ. Tòa giám mục phải đổi vị Cha xứ tiền nhiệm về địa phận khác vì Cha ”cứng” quá, muốn mọi người phải sống đúng theo tinh thần Phúc âm, kể cả các quan chức nên va chạm nặng với chính quyền địa phương. Nhà cửa dựng vội quanh khu quân sự Mỹ thì luộm thuộm, sặc sỡ một cách lõa lồ với đủ thứ bảng hiệu tiếng Mỹ như Steak house, Laundry shop, Bar, Car washing, Room for rent. Các bạn đừng cười, có cả bảng quảng cáo ”Beautiful roommate for you” nữa. Theo lời khuyên của Cha tiền nhiệm, tôi bắt đầu tổ chức lại các hội đoàn và bình thường hóa các sinh hoạt phụng vụ. Những giáo dân đến tiếp xúc với tôi, đúng như trung úy nói, hầu hết là đàn bà. Gái điếm bị lính Mỹ bỏ ngang đến cầu cứu Chúa. Mà gái điếm ế khách toan hoàn lương cũng có. Không thiếu những bà mẹ lo lắng thấy con sa vào cám dỗ, hoặc những người vợ xanh xao mất chồng. Cho nên tôi không ngạc nhiên khi đang tập hát cho ca đoàn nhà thờ thì một người đàn bà ốm yếu, mặt hốc hác, mắt thâm quầng hớt hải đến tìm. Tôi nghĩ thầm: ”Lại thêm một bà mẹ mất con nữa đây”. Người đàn bà vừa gặp tôi đã quì xuống van lơn trong nước mắt:

“Con van Cha! Xin Cha đến ngay cho! Nhà con đang hấp hối. Xin Cha làm phép giải tội cho nhà con!”

Tôi vội đi ngay. Căn nhà ván ọp ẹp nghèo nàn nhưng không thuộc vào loại ”ăn xổi ở thì” như những Laundry shop, Bar, Room for rent vây quanh. Thoạt nhìn tôi đã đoán chủ nhà thuộc loại công chức nghèo lỗi thời, quyết giữ nếp nên kiên nhẫn đi ngược gió. Loại nhà hạng tiểu công chức ở phố huyện như các bạn thường thấy: Một cửa lớn và hai cửa sổ lá sách không lắp kính, phía trước có hàng rào gỗ thấp ngăn con nít ra đường, bàn ghế gỗ loại chắc và rẻ ở phòng khách, cái tủ chè đựng vài cái ly, bộ chén tách, hộp trà, đôi lọ thuốc cấp cứu gia dụng... Chỉ nội việc giữ nguyên gian phòng khách cổ lỗ bám bụi truyền thống chứ không sửa thành Room for rent cũng đủ chứng tỏ ”khuynh hướng bảo thủ” của chủ nhà. Tôi có thiện cảm ngay. Tôi chỉ hơi ngờ ngợ khi nhìn quanh không tìm thấy bàn thờ Chúa.

Người đàn bà dẫn tôi qua một cửa ngăn có treo tấm màn cửa đã hoen ố cũ kỹ. Gian sau tối om và ẩm mốc. Ngay sau cửa ngăn có một cầu thang bằng gỗ dẫn lên gác xép. Người đàn bà thấy tôi dọ dẫm bước, liền nói:

“Xin lỗi Cha. Để con đi thắp đèn.”

Tôi quen dần với bóng tối nên đáp:

“Khỏi cần. Cha đã thấy rõ các bậc cấp rồi.”

Người đàn bà đi sau vẫn chưa yên tâm, run run nhắc:

“Cha vịn vào thanh gỗ kẻo ngã.”

Tôi leo thang chầm chậm, tò mò đưa mắt nhìn xuống phòng sau. Ngoài hai chiếc giường con hẹp màn gối bừa bãi, gian giữa chứa toàn sách là sách. Không có tủ kệ gì cả. Một miếng ván kê lên hai viên gạch, thế rồi trên đó chồng chất so le hết lớp sách này đến lớp sách khác, cao quá tầm người. Tôi khựng lại. Nếu người đàn bà không đẩy lưng tôi giục giã, giọng pha lẫn sợ sệt:

“Xin Cha nhanh cho. Nhà con nằm trên đó.”

Có lẽ tôi đã dừng lại để ngắm khung cảnh lạ mắt bất ngờ ấy rồi.

Lên khỏi thang gác, tôi còn gặp bất ngờ khác lớn hơn. Gác xép thoáng khí hơn tầng trệt, cũng chồng chất toàn sách. Ánh sáng chiều tà dọi từ cửa sổ phía tây nhuộm vàng mọi thứ, kể cả người đàn ông đang nằm ngửa trên sàn gác. Quanh ông, sách vở, giấy tờ vất lung tung. Người vợ không dám lên khỏi cầu thang, ló đầu sợ sệt hỏi:

“Thưa Cha, nhà con còn sống không?”

Tôi vội bước đến chỗ người chồng nằm. Người đàn ông đã già, khoảng trên dưới sáu mươi. Hai mắt trợn. Lưỡi thè ra, nước miếng còn đóng bọt hai bên mép. Đũng quần ướt. Tôi đâm hồ nghi. Chăm chú nhìn kỹ chỗ cổ áo, tôi thấy có vết bầm tím xây xát quanh cái cổ xanh xao. Tôi vội ngước lên trần nhà, hy vọng mình đoán sai. Nhưng không. Một đoạn dây thừng còn treo lơ lửng, khẽ lay động khi có gió thổi. Tôi thất vọng, hơi giận khi quay lại nói với người vợ:

“Ông ấy thắt cổ tự vẫn mà!”

Người vợ đã lên khỏi cầu thang, đứng nép vào vách ván. Đoán được tâm trạng của tôi, bà ta phân bua:

“Nhưng nhà con chưa chết. Hơn nữa, lúc còn sống...”

Người vợ ngập ngừng, rồi dừng lại. Có lẽ bà chợt thấy câu nói của mình có mâu thuẫn vô lý. Tôi cúi xuống đưa tay sờ lên chỗ trái tim người chồng. Không cảm thấy gì cả. Sờ lên tay chân. Còn mềm nhưng bắt đầu lạnh. Khuôn mặt khắc khổ bất động, cái nhìn trợn trừng mờ đục, vừa giận dữ vừa chới với. Tôi quay lại nói dứt khoát:

“Ông nhà chết rồi!”

Người vợ bật khóc nức nở, rồi sụp xuống quì bên cạnh tôi. Giọng bà hối hả thống thiết:

“Con van Cha. Cha hiểu giùm con. Không phải con lừa dối Cha. Lúc con lật bật cắt dây đem nhà con xuống, nhà con vẫn còn thở. Nhà con có lầm bầm gì đó, con nghe hình như nhà con muốn xưng tội. Trước đây đôi lần nhà con cũng có ý đó. Thế nào nhà con cũng viết trên bản thảo. Xin Cha tin con. Con van Cha. Xin Cha làm phép giải tội cho nhà con. Con van Cha! Con lạy Cha!”

Nói xong, người vợ khóc lớn hơn. Tình cảnh tôi thật khó xử. Rõ ràng người đàn ông này đã tự ý quyết định cái chết của mình, đã cướp đoạt quyền năng Thiên Chúa, đã ”dám chọn cho mình lúc chết và nơi chết” như trung úy vừa bảo. Còn cái ý định muốn xưng tội từng viết đâu đó trên tờ bản thảo nào đó nằm lây lất khắp gác xép, thì đáng ngờ lắm. Làm sao cho khỏi đi ngược với tín lý? Nếu không có những chồng sách và khung cảnh ”ngược gió” đầy khắc kỷ vừa gây thiện cảm cho tôi, có lẽ tôi đã từ chối dứt khoát từ lúc đầu. Tôi mới về một giáo xứ lạ và phức tạp, các bạn hiểu cho, tôi cần giữ một số nguyên tắc. Tôi do dự chưa biết phải làm thế nào; chỉ vì chất khắc kỷ ấy đã thuyết phục tôi. Cuối cùng khuôn mặt xanh xao thống khổ và đôi mắt van lơn của người vợ khiến tôi nhượng bộ. Tôi hỏi tên thánh của người chồng. Người vợ mừng rỡ cho biết tên Bao-ti-xi-a. Tôi làm phép giải tội. Nhưng làm xong, tôi lại sợ đã làm điều trái với Phúc âm. Hy vọng còn lại của tôi là sẽ tìm được ý muốn xưng tội của người chết giữa đống bản thảo. Tôi đã đoán không lầm. Người chết là một nhà văn, một nhà tư tưởng từng xuất bản nhiều sách và đăng nhiều bài tiểu luận trên tạp chí.

Việc đầu tiên của tôi là hỏi cặn kẽ về nguyên do cái chết. Người vợ được thỏa nguyện nên lấy lại đủ bình tĩnh để nghe và đáp. Cho đến chiều hôm trước, người chồng chưa tỏ điều gì khác thường. Mái tôn rỉ sét, mưa dột vào gian giữa tầng dưới, nên người vợ thấy chồng cặm cụi xếp dọn lại đống sách cũ, không lấy làm ngạc nhiên. Ông xuýt xoa tiếc rẻ những cuốn bị thấm nước hoặc bị mối đục, rồi bê hết những cuốn sách quí có đóng bìa da gáy in chữ vàng lên gác. Cẩn thận hơn, ông đem chiếc ghế đẩu theo để làm giá. Những hành động đó bình thường, hoàn toàn bình thường. Người chồng thức khuya, vật vã khổ sở với đống bản thảo. Chuyện đó cũng bình thường nốt. Điều bất thường duy nhất là buổi sáng, người chồng cứ thắc thỏm chờ đợi cái gì, lâu lâu nhắc người vợ sao đã trưa chưa đi chợ. Người vợ hẹn chiều. Người chồng ậm ừ khó chịu, rồi im lặng... Lúc 2 giờ, người chồng dặn vợ nếu đi chợ nhớ mua cho ông bánh thuốc lào loại 888. Dù thức ăn còn đủ đến sáng hôm sau, người vợ bắt buộc phải ra chợ huyện. Lúc trở về, ông đã thắt cổ tự vẫn rồi. Tôi thắc mắc:

“Tại sao chồng sách quí lại đổ vương vãi thế kia?”

Người vợ có vẻ lo âu, ngập ngừng nhìn xác chồng một lúc như ngại người chết nghe thấy, rồi mới đáp nhỏ:

“Nhà con không dùng cái ghế đẩu. Nhà con xếp chồng sách cho cao, leo đứng trên đó để...”

Bà liếc nhìn đoạn dây thừng đong đưa, mặt xám xanh, không nói tiếp được. Tôi hiểu. Thật khéo chọn cách chết. Đúng là ”cái chết chín chắn hàm súc” của một nhà tư tưởng suốt đời nhọc nhằn với đống sách vở. Tôi đưa mắt nhìn chiều đổ của đống sách quí. Đúng lắm. Sách đổ theo một chiều, cái chiều người chồng đã lấy đà ẩy ngã chồng sách kê sau khi đưa cổ vào thòng lọng. Tôi tò mò muốn xem những cuốn sách được lựa chọn làm chân đế cho cái chết tự nguyện. Các bạn đoán thử xem những cuốn gì!

Biết vị linh mục muốn áp dụng kỹ xảo của những tay kể chuyện nhà nghề, ưa chọn chỗ hấp dẫn nhất làm phút giải lao, ba người kiên nhẫn chờ nhà tu chầm chậm uống hết ca nước trà. Viên trung úy mất kiên nhẫn trước tiên, nên hỏi vội:

“Ông ta là nhà tư tưởng ư? Cha cho biết tên được không?”

Linh mục đáp:

“Rất tiếc, như đã nói từ đầu, tôi muốn giữ nguyên cái chất vraisemblable của câu chuyện. Những cuốn sách quí tôi tìm thấy ngay dưới chân xác chết là bộ Tứ Thư bằng chữ Hán, Kinh Viên Giác và Lăng Nghiêm do Viện Phật Học Nam Việt xuất bản, bản Đạo Đức Kinh xuất bản tại Hồng Kông, Nam Hoa Kinh do Nhượng Tống dịch, bản dịch kinh Coran bằng tiếng Pháp, bộ Tư Bản Luận của Karl Marx, bộ Luận Về Lịch Sử của Toynbee, cuốn sách mỏng: Bài học lịch sử của Ariel & Will Durant, cuối cùng, dĩ nhiên phải có bộ kinh Cựu và Tân Ước. Trung úy thấy đấy, một người đã bỏ cả đời đọc đi đọc lại bao nhiêu cuốn kinh sách để gắng trả lời các câu hỏi bức thiết ”Ta từ đâu đến? Sống làm gì? Chết về đâu? v.v...”, để gắng ”thu xếp”. Ông ấy tìm được gì chưa? Lúc đó tôi cũng hỏi như vậy. Tôi quay lục tìm đống bản thảo bừa bộn. Đọc kỹ các tựa đề và số thứ tự ghi ở góc trên mỗi xấp bản thảo, tôi mới khám phá ra nhiều điều thú vị khác. Không. Các bạn yên tâm. Lần này tôi không bắt các bạn làm thầy bói nữa đâu. Hóa ra đống bản thảo chỉ có vẻ bừa bộn bề ngoài. Đọc kỹ, tôi thấy tác giả đã xếp riêng từng khóm, mỗi khóm luận về cũng một loại đề tài. Kỹ lưỡng hơn, trong mỗi loại có xếp thứ tự các bài viết theo thời gian. Bài viết xưa nhất viết năm 1940 về phong trào đấu tranh của thợ mỏ Cẩm Phả. Bài mới nhất ”viết” một ngày trước khi tự vẫn, xếp vào loại siêu hình học, chỉ đơn giản là một trang giấy học trò với một dấu hỏi và một dấu than lớn nét run run bằng mực viết nỉ. Tôi đã đoán như thế này, không biết các bạn có đồng ý không. Nhà văn đã chuẩn bị kỹ cho cái chết của mình, chuẩn bị trong sáng suốt và tự chủ. Từ nhiều hôm trước, ông đã lục và đọc lại tất cả những bài mình viết từ gần 40 năm nay, đọc thật kỹ rồi mới phân loại, ghi số. Thu hoạch kết quả suy nghiệm bao nhiêu năm, ông mới ”viết” bản thảo sau chót. Một dấu hỏi, và một dấu than. Ông quyết định tìm cái chết. Ban đầu ông định tìm cái ghế đẩu, và muốn vợ con bạn bè còn ở lại khỏi hiểu lầm, ông xếp chồng sách quí và xấp bản thảo ngay ngắn bên cạnh cái ghế. Nhưng tới lúc leo lên ghế để thắt thòng lọng, nhà văn chợt tìm ra một chân lý. Những chuẩn bị cẩn thận vừa làm có ý nghĩa gì trước cái chết? Sách quí ư? Nó có giúp ông hiểu gì thêm về cuộc đời? Những điều ông suy luận ư? Nó ”thu xếp” được gì cho ông và cho đồng loại? Ông tự thấy lẩm cẩm. Ông nhấc cái ghế đẩu đặt vào góc phòng, quyết định dùng chồng sách thay vào. Còn bản thảo, làm gì bây giờ? Đây mới thực là máu thịt, là mồ hôi nước mắt của đời ông! Ông muốn vất tung tóe cho xứng với dấu than trong bản thảo cuối. Nhưng niềm kiêu hãnh tuyệt vọng của người cầm bút ngăn ông lại. Ông vẫn vất chúng đi, từ trên chồng sách quí. Nhưng vất theo từng xấp, từng loại! Những bài báo và sách của nhà văn về sau tôi tìm đọc ở Thư Viện Quốc Gia xác nhận dự đoán của tôi. Nhà văn đã gặp bế tắc về tư tưởng. Ông hăm hở mở đường, nhưng về già thì gặp tuyệt lộ. Điều đáng yêu (hoặc đáng thương tùy theo lượng bao dung của từng người) là đến phút chót, ông ấy vẫn hy vọng cách chết của mình mang một message, một thứ sứ điệp nào đó.”

Cụ cán sự hồi hưu hỏi:

“Rồi Cha có tìm được bản thảo ghi ý muốn xưng tội không?”

Vị linh mục đáp, thật trầm tĩnh:

“Có, tôi tìm ra ngay.”

Đoán biết ba người bạn chờ đợi, linh mục tiếp:

“Tôi tìm ở dấu than của bản thảo cuối cùng.”

*

Điều dễ đoán là ngay sau khi vị linh mục dứt lời, viên trung úy giành nói trước:

“Xin Cha đừng buồn. Tôi xin nói ngay là tôi không đồng ý với cách suy luận của cha. Cha vừa nói hành động cuối cùng của nhà văn đó đáng yêu hoặc đáng thương tùy theo lượng người. Nếu tôi không lầm, cha cho là đáng thương chứ gì? Tôi cho thật đáng yêu! Đáng kính! Cha đã lầm lẫn ở một số điểm quan trọng thuộc phương pháp suy luận. Tuy cha có cẩn thận không dám xác định câu chuyện vừa kể là có thật, là vraie, mà chỉ vraisemblable, dường như có thật. Còn xa với ”dường như có thật” lắm lắm! Cha quan sát khung cảnh gác xép để tưởng tượng ra diễn tiến cái chết, rồi dùng các bản thảo đọc vội lẫn sách báo do người chết viết để kiểm chứng. Phương pháp ấy không thể tái tạo sự thật được. Này nhé, những gì chúng ta cảm thấy, nghĩ ra phần lớn đều mông lung, phức tạp. Khi định được ý, ta đã loại bỏ không thương tiếc một số yếu tố không phù hợp với lý trí, hoặc ước lệ xã hội. Rồi từ lúc định ý cho đến lúc viết thành chữ, ta lại phải đơn giản hóa, hệ thống hóa để người khác hiểu được. Chữ viết là một thứ đồ nguội, tệ hơn nữa, một thứ đồ hộp có chỉ dẫn tỉ mỉ cách pha chế cho tiện lợi đối với kẻ phàm tục lười biếng.

Cái nóng hôi hổi đang bốc hơi, cái còn chảy máu không thể diễn ngay thành chữ. Cho nên đọc những gì người ta viết để tìm hiểu họ là điều đáng ngờ. Nếu vạn bất đắc dĩ không có cách nào khác thì chỉ nên tin những gì họ viết vào ba thời điểm sau đây: Thứ nhất là những tác phẩm thời niên thiếu, lúc họ chưa nổi danh nên chưa tự uốn nắn bản ngã vì cái hào quang giả tạo. Tôi tin những gì Marx viết lúc còn trẻ giá trị gấp mấy trăm lần bộ Tư Bản Luận. Thứ nhì là những gì họ viết lúc về già. Khổng Tử thú nhận đến 70 tuổi mới hiểu đôi chút về lẽ Dịch. Có lẽ lúc ấy, ”Ngài” nhớ lại cái thời cắm cúi san định Thi, Thư, Lễ, Nhạc, sẽ không khỏi đỏ mặt vì lẩm cẩm quá. Thứ ba là những gì họ nói họ viết lúc rong chơi. Rong chơi thì khỏi cần làm dáng làm bộ với ai nữa, có nói điều gì cũng khỏi sợ đồ đệ chộp lấy ghi thành kinh lưu cho hậu thế. Con người thật của Khổng Khưu chỉ hiện ra khi ông ao ước thấp lè tè, ao ước được tắm một phát ở sông Nghi, hóng mát ở đền Vũ Vu, rồi dang tay hát nghêu ngao mà về. Ngoài ba thời điểm đó ra, những gì một người viết đều có tính cách bất thấu quang, đều opaque. Nhưng thôi cứ tạm nhận như ý cha, là ông ấy tuyệt vọng trước khi tự vẫn đi. Con người ở cảnh tuyệt lộ đã đáng thương chưa? Thưa cha, chưa. Ngược lại, ngay trong trường hợp bế tắc, tuyệt vọng, cái chết tự ý vẫn hết sức cao cả. Bắt chước cha, tôi xin kể một câu chuyện có thực.”

Vị linh mục bẻ lại:

“Có thực theo tiêu chuẩn gì? Theo những điều anh nghe, hay theo lời đồn đại?”

Trung úy đáp:

“Theo những điều tôi thấy. Cha yên tâm, tôi cố gắng hạn chế các suy luận chủ quan, để chỉ còn những dữ kiện thô, chưa trau chuốt. Hồi ấy vòng phòng thủ cuối cùng ở Xuân Lộc đã vỡ, Sài Gòn ở trong tình cảnh tuyệt vọng hoảng loạn. Ông Thiệu từ chức giao ghế cho cụ giáo già sau khi hứa sẽ ở lại với ”anh em binh sĩ” chiến đấu đến đồng đô la cuối cùng. Không biết cụ giáo có chống gậy lên Tân Sơn Nhất tiễn gia đình người bạn chiến đấu hay không; có lẽ cụ mệt quá, chán cho nhân tình thế thái không hợp lẽ Quốc Văn Giáo Khoa Thư quá, nên cụ vội trao ghế cho Big Minh. Ông Minh vơ đầu này đầu kia vẫn không đủ người lập nội các, định gọi điện thoại mời ai thì đã nghe chị sen anh tài xế người đó đáp là ông chủ đã xách va-li lên Tân Sơn Nhất rồi. Kẹt nhất là Bộ Quốc Phòng. Giao cho ông tiến sĩ luật cái bộ súng đạn, Big Minh không yên tâm chút nào. Chất nổ, xe tăng, máy bay đâu có chịu học luật! Nhìn quanh chỉ toàn các tướng về vườn lâu nay chuyên mở tiệm nhảy đầm, nuôi gà, làm thầu khoán. May còn có ”anh cả Trường Sơn” dòng dõi hoàng tộc để giao khoán cái Tổng Tham Mưu. Anh cả lên ti-vi chửi bọn chuột nhắt hèn nhát không lo đánh đấm mà chỉ lo trốn, rồi ngay hôm sau, chính anh cả cũng làm chuột nhắt. Ở các bến tàu, sân bay, thiên hạ chen chúc nhau, nếu cần dày xéo chém giết nhau để tìm một chỗ ra đi. Lính rã ngũ vất quần áo súng đạn đầy hai lề xa lộ, chỉ mặc độc cái quần đùi thất thểu qui cố hương. Cướp bóc lan tràn khắp phố phường. Cái cảnh chợ chiều ấy, các bạn đã chứng kiến tận mắt, tôi khỏi cần phải dài dòng. Tôi chỉ nhắc sơ lược để lưu ý các bạn rằng hồi ấy chúng ta hoang mang cùng cực, không có lấy một chút gì để tin tưởng nữa. Cùng thất trận, nhưng chúng ta khác xa với tình cảnh dân tộc Đức và Nhật năm 1944, 1945. Họ còn được niềm kiêu hãnh. Các sĩ quan Nhật mổ bụng tự vẫn với lương tâm bình yên và một niềm tự hào ngút ngàn. Chúng ta hồi đó có gì? Không có gì cả. Ngoài lòng trung thực ra, chúng ta không có gì làm vốn để dám lên ti-vi chửi bới ”lũ chuột nhắt”, mà cũng không đê tiện đến nỗi chửi xong vội vã cuốn gói ra đi. Không biết các bạn thế nào, thú thực hồi ấy, tôi dùng dằng bất quyết. Ra đi thì không muốn. Ở lại thì e ngại. Cuối cùng phải tìm đủ lý luận để trấn an mình. Nào là mình chỉ là hạng sĩ quan nhép ngồi bàn giấy, không tội tình gì phải lo sợ. Nào là thà làm cái xác chết bón cho cây Việt Nam hơn là làm kẻ tha hương lơ láo! Đất nước thống nhất rồi, Nam Bắc một nhà, bây giờ ta có dịp ”nối vòng tay lớn”. Một ông bạn thi sĩ của tôi làm ngay bài thơ tả khoái cảm lúc ngồi xe lửa hạng nhất có couchette đi du lịch từ Sài Gòn đến tận ”Mục Nam Quan”, đến mỗi ga vẫy tay chào những người anh em thân ái, đùa với em bé, hàn huyên với cụ già, tay bắt mặt mừng với đôi mắt rướm lệ. Chung chung thì bọn chúng ta đều lãng mạn như vậy cả. Hoặc bỏ ra đi, hoặc ở lại với cái ”mộng thanh bình”. Không như Nhật năm 1945, rất ít người nghĩ đến chuyện tử tiết! Tử tiết để làm gì? Cho ai? Cho những ông tướng chiến đấu đến đồng đô la cuối cùng à? Hay cho cụ giáo? Cho ông Minh? Phải có một niềm tin sắt đá vào cái gì đó, hoặc một niềm kiêu hãnh cao cả nào đó, người ta mới tử tiết được chứ! Cho nên tôi hết sức kinh ngạc khi nghe tin một số tướng tá ở Vùng 4 đã tự vẫn chết, sau khi căn dặn cấp dưới chuẩn bị kỹ thủ tục ”bàn giao” theo lệnh tân Tổng Thống. Người dễ dãi vô tư tiếc rẻ giùm họ. Việc gì tự làm khổ thân thế! Sao không khôn ngoan như anh cả Trường Sơn? Người ưu tư thì hoang mang. Nhưng bao nhiêu chuyện đổi đời dồn dập đến sau 30 tháng Tư 75 khiến thiên hạ không còn tâm trí đâu nghĩ đến họ nữa. Lâu lâu nhớ lại, họ thấy thương, và phục, một cách mơ hồ thuần cảm tính.

Nếu không tận mắt chứng kiến một cái chết tương tự, có lẽ tôi cũng giống như bao nhiêu người khác. Hôm ấy là ngày 2 tháng Năm 75, ba anh em tôi, một đứa Hải Quân lái tầu tuần duyên ở Nha Trang, một đứa phi công AD6, một đứa Chiến Tranh Chính Trị Quân Đoàn I, may mắn đoàn tụ ở Sài Gòn trước ngày 30 tháng Tư, sáng hôm ấy mở cả caisse Champagne (Champagne dân hôi của khuân từ kho lương thực Mỹ ở quân cảng về bán rẻ rề ở chợ Tân Định, mỗi chai 300$), cắt nguyên một cái đùi jambon (cũng nhãn hiệu Mỹ cùng xuất xứ) ra nhậu mừng hòa bình và đoàn viên. Chúng tôi hân hoan, ”hồ hởi” chờ đợi một ông anh tập kết ra Bắc năm 1954 sắp về. Thằng em Hải Quân định về Cần Thơ mua vườn, đào ao nuôi cá. Thằng lái AD6 muốn lên cao nguyên khai hoang, hai vợ chồng sẽ sắm đôi ngựa để chiều chiều thắng yên phi trên đồi cao nhìn xuống cảnh thung lũng như những lúc nhìn từ buồng lái AD6. Thật khôi hài mà cũng thật cảm động! Nhậu xong, chúng tôi dứt khoát với quá khứ bằng cách đem hết đồ nhà binh, thẻ bài, mũ mãng cân đai ra hỏa thiêu. Mẹ chúng tôi cười chảy cả nước mắt. Thôi, thế là từ nay hết thắc thỏm lo âu mỗi khi nghe tin chiến sự! Qua được bao năm bom đạn mà lũ con trai còn trở về đầy đủ, chẳng những thế, không đứa nào bị thương tật, còn phước nào lớn hơn! Chúng tôi đèo nhau trên hai chiếc Honda đi xem phố xá. Cờ đỏ, khẩu hiệu vải đỏ, bảng cơ quan nhà nước màu đỏ. Ở đâu cũng đỏ ối. Ở đâu cũng chói lòa. Chúng tôi ra đường Lê Lợi. Người chật như nêm. Xe hơi, xe Honda phun khói mù mịt, chờ thật lâu ở các ngã tư mới nhích được một bánh. Người đi bộ thì xúm quanh các toán bộ đội, xe tăng. Thấy đi xe bất tiện quá, chúng tôi gửi xe đi bộ. Mệt, khát, tôi đề nghị vào Givral tìm cái gì để uống. Hai đứa em đồng ý ngay, nhưng trong tiệm kem cũng chật cứng. Các bạn nhớ, dân Sài Gòn hồi đó vung tiền qua cửa sổ vì những cuộc nhậu nhẹt lu bù. Sợ chẳng mấy chốc tiền cũ không xài nữa, hoặc nghe nói cách mạng chủ trương sống tiết kiệm khắc khổ, không ăn bây giờ về sau lại tiếc. Tìm không ra ghế, chúng tôi qua công viên trước Quốc Hội đứng đợi. Hai pho tượng Thủy Quân Lục Chiến vẫn chỉ súng vào cái nhà hát vắng đào kép. Tôi đang trỏ lên ngọn cây trước Quốc Hội bảo các em:

“Nếu những cây này biết nói và viết, thì chắc chúng đã trở thành những nhà viết sử tài ba.”

Thì một người đàn ông khoảng 40 tuổi mặc áo mưa mầu xanh đậm loại Không Quân đến gần chúng tôi. Cậu lái AD6 tưởng gặp một xếp lớn cùng binh chủng, sửa lại thế đứng để chờ chào theo thói quen quân kỷ.

Nhưng không! Người đàn ông không quen biết gì với chúng tôi cả. Qua khỏi ghế đá chúng tôi ngồi, ông ta tiến đến chỗ bục đặt tượng, ngước nhìn hai anh Thủy Quân Lục Chiến một lúc. Thằng em Hải Quân của tôi khôi hài:

“Chắc là một người anh em vừa từ Bắc vào!”

Tôi hỏi:

“Sao biết?”

“Trời bức người đông thế này mà mặc áo mưa là một sự lạ. Loại áo nhà binh này, dân Sài Gòn đang giấu hoặc đốt đi không ai dám mặc. Chỉ có ”người anh em” vừa mua được chiếc áo tốt mới dám mang đi khoe phố mà thôi!”

Chúng tôi cười, phục đứa em thông minh. Người đàn ông khác thường trở thành mục tiêu quan sát của chúng tôi. Ông ta đứng nhìn hai pho tượng khá lâu, rồi nhìn quanh như có ý chờ đợi ai. Nét mặt ông khắc khổ, lo lắng. Tôi đoán ông đi lạc, không biết đường về cơ quan. Nếu không có lòng tự ái của kẻ thua trận, có lẽ tôi đã tiến tới gần chỉ dẫn giùm lối về cho người anh em rồi. Làm thế thì còn mặt mũi nào! Mới hai ngày đã sợ sệt quì lụy với kẻ chiến thắng đến thế sao! Hai đứa em tôi cũng nghĩ như vậy, nên cả ba chúng tôi vẫn ngồi nguyên chỗ cũ.

Người đàn ông nhìn quanh quất một lúc, rồi đứng nghiêm, nhìn thẳng về phía Quốc Hội. Ông ta mở cái gói giấy từ đầu vẫn kẹp ở nách bên phải ra. Hình như tay ông hơi run. Chúng tôi càng tò mò hơn. Đang cúi xuống mở nút dây buộc, đột nhiên ông ngước lên nhìn thẳng về phía chúng tôi. Ánh nhìn đầy thảng thốt ngờ vực. Tôi sợ ông ta khó chịu vì chúng tôi tò mò, nên nhìn tránh đi nơi khác. Hai em tôi cũng vậy. Lúc tôi quay lại, đã thấy ông ta đội cái mũ két sĩ quan lên đầu và đang cởi hàng nút cái áo mưa. Lạ thật! Ông ta điên chăng? Vài người dạo phố bắt đầu tò mò thắc mắc như chúng tôi. Người đàn ông cởi áo mưa thật nhanh, và khi ông ta vất chiếc áo mưa xuống, chúng tôi đều sững sờ:

Ông ta mặc nguyên bộ lễ phục của sĩ quan chuyên nghiệp đào tạo từ trường sĩ quan cảnh sát, với quân hàm trung tá vàng chói. Không để cho chúng tôi ngạc nhiên lâu hơn, ông đứng thẳng người, mắt nhìn thẳng về hướng Quốc Hội, và rút súng lục từ quần ra tự bắn vào đầu. Tiếng súng nổ nhỏ thôi, nhưng ba anh em chúng tôi đều bàng hoàng sợ hãi. Tôi bật đứng dậy. Viên trung tá ngã ngửa ra, nằm thẳng, đầu hướng về phía Quốc Hội. Thân ông oằn lên một chút, rồi nằm trở lại thế ngửa, hai chân dãn ra. Hình ảnh cuối cùng tôi thấy được là hai chân người hấp hối cố gắng... cố gắng hết sức để khép lại cho đúng thế nghiêm.

Người hai bên phố ùn ùn kéo đến. Chúng tôi sợ rắc rối nên chạy qua phía Givral, cố tìm cho được một chỗ để vừa giải khát cho đỡ hồi hộp vừa quan sát tiếp chuyện sắp tới. Khách đã bỏ đi nhiều nên cả ba chúng tôi tìm được chỗ ngồi. Nhưng có ai dọn kem cho chúng tôi đâu. Bên kia cửa kính hiệu kem sang trọng có máy lạnh, chúng tôi chỉ thấy toàn lưng với lưng. Có tiếng xe cứu hỏa hú còi. Đám đông sợ hãi chạy dạt xa hai pho tượng. Nhờ thế, tôi mới thấy xác viên trung tá đã được phủ bằng một tấm vải trắng. Tấm vải hơi ngắn, nên chỉ phủ được thân người và cái đầu.

Đôi chân người chết khép chặt, mũi giầy thẳng lên bầu trời đúng theo thế nghiêm. Về sau tôi được biết tấm vải là cái khăn phủ bàn của hiệu kem Givral.”


Ông giáo nghe đến đó, cảm động kêu lên:

“Thật là oái oăm! Tại sao có sự trùng hợp kỳ lạ vậy?”

Vị linh mục hỏi:

“Ông nói gì thế? Cái gì trùng hợp?”

Ông giáo ngồi chờ cho bớt xúc động rồi đáp:

“Phải. Đúng là một sự trùng hợp oái oăm! Cha thử tưởng tượng xem.

Trên tấm khăn trải bàn hiệu Givral ấy, đã dính bao nhiêu nước mồm nước dãi của bọn đào kép từng gấu ó nhau trong cái nhà hát lớn. Đứa này tố đứa kia buôn thuốc phiện. Đứa kia tố đứa nọ buôn lịch cởi truồng. Đứa ngụy hòa, đứa thân Cộng. Đứa bảo không có đàn ông làm sao có đàn bà. Đứa bảo không có đàn bà làm sao có đàn ông. Đứa đòi quyền đái ngoài đường. Đứa đòi thừa nhận con hoang. Tấm khăn bàn ô nhục ấy phủ được khuôn mặt và thân thể người chết, nhưng có phủ được đôi chân nghiêm chỉnh đâu. Viên trung tá tự vẫn trước Quốc Hội vì còn nghĩ khi kéo qua Givral giải lao, chúng chỉ làm bẩn được tấm khăn liệm nhỏ xíu. Chúng không lấy thúng úp voi được!”


Anh trung úy không ngờ câu chuyện kể của mình có ý nghĩa lớn lao như vậy, đỏ mặt vì sung sướng lẫn ngượng ngùng. Anh thêm tự tin khi nói tiếp:

“Câu chuyện của tôi chỉ có vậy, thưa cha. Chỉ là một số những ghi nhận còn thô, xù xì không trau chuốt. Tôi không dám nhận cách suy diễn lý thú của bạn nhà giáo, vì nó tượng trưng quá. Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này: Dù ở trong hoàn cảnh tuyệt vọng, hành động tự sát của ông trung tá vẫn xác định trọn vẹn được ý nghĩa cuộc đời mình. Cha từng hỏi: Sống để làm gì? Vâng! Tôi ”thu xếp” câu hỏi đó lại, thành câu trả lời này: Không thể chấp nhận được cuộc sống không có ý nghĩa! Một tên đánh thuê có lẽ sống của tên đánh thuê. Kẻ phiêu lưu tìm ý nghĩa trong tư tưởng chủ não: Điều quan trọng không phải ở chỗ vì sao ta bỏ đi, mà ở chỗ cái mới ta sẽ tìm thấy. Cái chết của viên trung tá khiến tôi liên tưởng đến cái chết của Mishima, tác giả Kim Các Tự. Dường như (xin Cha nhớ cho đây là lần đầu tôi dám nói một điều ”dường như có thật”), dường như trung tá muốn nhắn với bạn bè và kẻ thù của ông rằng: Tuy thất bại, ông vẫn phải được kính nể như một địch thủ nghiêm chỉnh. Một cách ”thu xếp” cuộc đời trọn vẹn đấy chứ, thưa cha!”
*

Hai người đã phát biểu ý kiến của mình. Nhiệt tín của nhà tu, lòng đam mê tự tin của tuổi trẻ, cộng với sự quá khích háo thắng thường thấy trong các cuộc tranh luận, đã khiến vô tình họ trở thành những người đối địch không khoan nhượng. Những tiếng ”thu xếp”, ”dường như là có thật” trao qua trả lại hoài, cuối cùng thành tiếng mỉa mai. Vị linh mục và trung úy cũng nhận thấy điều đó, nên sau khi trung úy dứt lời, linh mục mỉm cười gật gù, tỏ ý chấp thuận một phần không nhỏ lập luận của đối thủ.

Tuy thế cụ cán sự hồi hưu vẫn chưa yên tâm. Cụ thích sự hài hòa, ghét tất cả cái gì quá khích. Cho nên cụ sợ vị linh mục lại sắp nhập cuộc. Thấy nhà tu im lặng mỉm cười, cụ lại hiểu lầm rằng linh mục muốn biểu lộ lòng rẻ rúng, khinh khi. Cụ muốn xoay câu chuyện sang phía dễ dãi. Cụ cán sự hồi hưu hỏi ông giáo:

“Hồi trước ông làm gì mà thông thạo sinh hoạt ở Quốc hội đến thế?”

Ông giáo đáp:

“Trước tôi dạy học. Trường Nguyễn Trãi bên Khánh Hội, cụ biết chứ?”

“Vâng. Tôi có mấy đứa cháu cũng học ở đấy. Ông siêng đọc báo lắm nhỉ?”

“Không có đâu ạ. Bị bắt buộc đấy!”

“Sao thế?”

“Mấy năm Mỹ qua, vật giá lên cao quá. Đồng lương giáo sư không đủ sống. Nhà tôi lại hẹp, không có phòng nào dư để sửa thành ”Room for rent”. Vì thế, tôi xin thôi dạy, ra làm quản lý trị sự cho một tờ nhật báo.”

Biết thế nào ba người cũng hỏi, nhà giáo tiếp luôn:

“Báo Tranh Đấu, chắc cụ và cha có đọc. Trung úy thì tôi không dám hỏi, vì báo tôi ”già” lắm, thuộc phái thủ cựu. Tôi có cậu em rể làm chủ bút, nên giới thiệu giúp cho. Sau ”giải phóng”, tôi khổ sở vì tờ báo liên miên.”

Trung úy hỏi:

“Sao thế?”

“Tờ Tranh Đấu bị xếp vào loại phản động, mập mờ vuốt ve giới lao động mà thật sự là CIA của Mỹ. Các ông ấy bảo vậy. Khốn nỗi chủ nhiệm, chủ bút, các biên tập viên chính đều ra đi cả, còn trơ một mình tôi ở lại. Tôi trở thành đầu têu của một ”cơ quan tình báo” núp sau hoạt động báo chí. Cho đi tù là phải!”

Mãi đến lúc đó, ba người mới biết nhà giáo hiền hòa ít nói đã từng nếm mùi tù đầy khá lâu. Cụ cán sự hồi hưu hỏi:

“Ông bị bắt năm nào?”

“Năm 1976. Đợt hơn 200 nhà văn nhà báo bị bắt một lượt sau vụ nổ plastic ở công trường Con Rùa.”

Trung úy vội hỏi:

“A, như vậy cùng một lượt với Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Hồ Hữu Tường, Mai Thảo, Duyên Anh chứ gì?”

“Phải. Nhưng Mai Thảo thoát được, mãi về sau mới trốn khỏi Việt Nam qua Mỹ.”

“Nghe nói có cả Thanh Tâm Tuyền, Vũ Hoàng Chương?”

“Thanh Tâm Tuyền trình diện học tập theo sĩ quan chế độ cũ. Còn Vũ Hoàng Chương bị bắt trước đó vì một bài thơ.”

Ba người bạn của ông giáo không ngờ tìm được một người am tường giới văn nghệ báo chí như vậy, họ thay nhau hỏi ông giáo đủ thứ chuyện.

“Vào đó họ tách riêng ra hay nhốt chung với ngụy quân ngụy quyền?”

“Không. Ngụy quân ngụy quyền được ”hưởng” chế độ học tập cải tạo, đầu tiên thuộc quân quản. Chúng tôi là tù 100% với đầy đủ lệ bộ: Trát tống giam của Bộ Nội Vụ, khám xét nhà, còng số 8, xe đưa rước đến tận xà lim...”

“Họ nhốt ở đâu? Chí Hòa à?”

“Đầu tiên ở Phan Đăng Lưu, trước mặt chợ Bà Chiểu đó. Sau một thời gian họ phân loại, mỗi người mỗi ngả.”

“Họ phân loại cách nào?”

“Họ phân loại sẵn từ trước. Các bạn nhớ là mãi 1976 họ mới bắt. Như vậy ngoài tài liệu sách báo có sẵn trước 1975, họ còn hơn một năm để tìm thêm tài liệu, thu thập các bản báo cáo của kẻ nằm vùng, dân xu thời nịnh hót, kẻ sợ hãi thái quá. Quá đủ thời gian để họ tính sổ nợ. Ngành nào tính sổ nợ ngành ấy. Có lẽ văn nghệ báo chí là ngành phức tạp, nên tính có hơi chậm.“

“Rồi họ hỏi các ông những gì?”

“Họ hỏi ít thôi. Chỉ bắt chúng tôi nghe thì nhiều.”

“Thì vẫn những bài bản quen thuộc ”Đất nước ta giàu đẹp, nhân dân ta anh hùng”. ” Tình hình và nhiệm vụ mới”, ”Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng...”

“Không. Họ xem chúng tôi như những tên ”biệt kích nguy hiểm” trên mặt trận tư tưởng, nên muốn phanh phui cho ra ”âm mưu thâm độc của Mỹ Ngụy trên mặt trận văn hóa văn nghệ”. Nào cuộc đấu tranh quyết liệt giữa phe đế quốc tư bản với lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới; nào chính sách toàn cầu của đế quốc Mỹ. Chính sách ấy áp dụng riêng ở Việt Nam như thế nào, Mỹ đã ra lệnh cho ngụy quyền Sài Gòn làm những gì. Bọn chóp bu ngụy quyền nhận lệnh quan thầy Mỹ rồi ra lệnh cho bọn bồi bút ra sao. Cuối cùng đến phần chúng tôi: Viết bài báo đó theo lệnh tên CIA nào? Được trả bao nhiêu đô la? Cuốn truyện, bài thơ đó xuất bản đúng lúc Mỹ đang chủ trương ”thay màu da cho xác chết” tức là ”Việt Nam hóa chiến tranh”. Giả vờ chống Mỹ, giả vờ đề cao tình tự dân tộc để phục vụ chính sách đó phải không? Đại khái chúng tôi nghe những lời như vậy. Cả một hệ thống lập luận đồ sộ từ chủ thuyết triết học ”khoa học và tiên tiến” nhất. Nhờ nó mà cái âm mưu thâm độc nham hiểm về văn hóa văn nghệ của Mỹ bị vạch trần. Bọn bồi bút biệt kích các anh đã làm gì trong âm mưu ấy?”

“Rồi ông trả lời ra sao?”

“Tôi ngớ ra, miệng há hốc chẳng hiểu gì cả. Chẳng hiểu mà không dám hỏi, không dám cãi, vì cái hệ thống luận lý đồ sộ quá, tôi hãi hùng. Trời hỡi! Té ra việc bỏ dạy, làm kế toán kiếm thêm tiền chợ cho ”má bầy trẻ hài lòng” của tôi nằm trong một âm mưu thâm hiểm và bao quát cả toàn cầu! Tôi một mực kêu oan với cán bộ chấp pháp, thưa tôi chỉ lo trị sự kế toán như chạy mua giấy, trả tiền nhà in, trả nhuận bút theo phiếu chi của tòa soạn, nhận tiền đăng quảng cáo... Họ khó chịu, bảo tôi vung tiền ra thuê bọn bồi bút viết chửi cách mạng, tức là một thứ cai thầu văn nghệ mà còn kêu oan. Họ hỏi ai ra lệnh cho tôi thôi dạy để gài vào tòa báo, núp bóng sau cái dạng một thầy ký lẩm cẩm. Tôi bảo tôi chưa lẩm cẩm, và chính vợ tôi gài tôi vào tòa báo. Họ bực quá, đuổi tôi về xà lim. Hai tháng sau, tôi gặp một cán bộ chấp pháp khác, chuyên viên về văn hóa văn nghệ thực dân mới được biệt phái qua Bộ Nội Vụ để tìm hiểu, làm việc với chúng tôi. Anh này còn trẻ, ăn nói nhã nhặn, vừa hỏi vừa mời tôi hút thuốc thơm Phù Đổng.”

“Anh ta có nói gì khác không?”

“Khác chứ. Anh ta nói có sách mách có chứng. Anh đã đọc kỹ từ số 1 đến số 1092 của nhật báo Tranh Đấu, từ bài xã luận cho đến mục rao vặt. Anh ta phân tích cho tôi thấy các bài xã luận đã chuyển mục tiêu trong từng giai đoạn như thế nào, và các giai đoạn đó phù hợp với ba giai đoạn ”chiến tranh cục bộ, chiến tranh toàn diện và Việt Nam hóa chiến tranh” trong sách lược xâm lăng của đế quốc Mỹ ra sao. Kỳ diệu hơn nữa là ngay cả mục rao vặt cũng biến đổi theo ba thời kỳ. Cũng may cho tôi là...”

Nói đến đó, nhà giáo ngừng lại, cười bẽn lẽn. Vị linh mục hỏi:

“May là ông được trắng án chứ gì?”

“Trắng sao nổi! Không phản động thì ngụy hòa. Không ngụy hòa thì ngụy dân tộc. Không ngụy dân tộc thì đồi trụy. Không đồi trụy thì nhảm nhí. Mà nhảm nhí, đồi trụy, ngụy dân tộc, ngụy hòa lại là hình thức tinh vi hơn của phản động. Chạy trời không khỏi nắng đâu!”

“Thế thì may cái gì?”

“May cho tôi là có mấy lần thằng em rể giận vợ hay càm ràm chuyện tiền nong, bỏ sở lên Đà Lạt chơi mấy ngày liền. Chủ nhiệm than quá, bắt tôi gánh mấy kỳ xã luận. Tôi phải đem báo cũ ra xào nấu chắp vá đến toát mồ hôi.”

“Nguy rồi. Chắc họ chất vấn dữ lắm?”

“Không. Tôi đề tên em rể tôi. Tòa báo nào cũng vậy, ai viết mặc, nhưng cứ để tên một số người có thế, cho đỡ rắc rối.”

Nhà giáo lại đỏ mặt lên, ấp úng thú nhận:

“Mấy bài báo đó bị anh chấp pháp chuyên viên cho là quan trọng, trích dẫn tùm lum tà la mới chết chứ! Anh ta bảo nó báo hiệu bước chuyển tiếp từ: ”khuynh hướng phản động trực diện” của tờ Tranh Đấu qua “khuynh hướng ngụy dân tộc”.

“Ha ha! Ông viết gì trong đó mà quan trọng thế?”

“Hôm ấy kỷ niệm giỗ tổ Hùng Vương. Tôi xào nấu lại bài ”Cảnh quê hương đẹp hơn cả” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư học hồi còn nhỏ.”

Cả bốn người đều cười. Cụ cán sự hồi hưu nhận xét:

“Ông chỉ nhún nhường giấu mình, để khôi hài cho vui đấy thôi! Nghe ông luận giải từ cái khăn trải bàn hiệu kem Givral ra bao nhiêu lời chửi xéo bọn đào kép nhà hát lớn, tôi biết ông thâm lắm. Viết xã luận, phải biết!”

Nhà giáo vội nói:

“Cụ dạy quá lời!”

“Không quá lời đâu. Ông đừng vờ vịt. Tôi phải bắt ông trả nợ. Cha và anh trung úy đây đã phát biểu về chuyện tự vẫn. Bây giờ đến lượt ông.”

“Đâu dám qua mặt cụ.”

“Tôi đã có ý kiến rồi, nhưng để sau cùng. Ông nói trước đi.”

Nhà giáo không có cách nào thoát, đánh làm mặt nghiêm, và nói:

“Vâng. Tôi phải rán nói vậy. Kể lan man phất phơ, chứ lý luận chặt chẽ thì chịu thua thôi!”

Hồi đó trong trát bắt giam chúng tôi, Bộ Nội Vụ có ghi rõ hình phạt tập trung cải tạo ba năm. Hai chữ ”cải tạo” thì anh em chúng tôi đều hiểu cả. Còn ”tập trung” thì chịu! Hiểu theo nghĩa đen, chúng tôi an ủi nhau: ”Thôi có anh em quen biết, có bó chân bó cẳng thì cũng còn có người đồng cảnh ngộ hàn huyên đỡ buồn. Tập trung chứ có phải biệt giam đâu! Nghĩ thế nên mới vào Phan Đăng Lưu, tôi yên lòng. Sau một thời gian chới với vì hệ thống lập luận đồ sộ tôi vừa nói, tôi dần dần làm quen với cuộc sống mới. Riết rồi cái gì cũng quen, chắc các bạn đều đồng ý với tôi như vậy. Thời gian qua mau, thoáng một chốc đã đủ ba năm. Chúng tôi có một cách lập luận lẩm cẩm nhưng hữu hiệu: Trước kia với bao nhiêu hiểu biết và ràng buộc của một người thường thường bậc trung, mình chỉ có thể làm như vậy, bây giờ mình trả nợ như vậy cũng đúng thôi. Lúc vui, chúng tôi còn bắt chước cách nói của giám thị hoặc cán bộ chấp pháp, thường đùa với nhau: Trước gây tội lỗi như vậy vì mù mờ, ”phải thôi”, bây giờ chịu tập trung cải tạo, ”tốt thôi”! Có thể nhiều bạn bè bên ngoài hoặc đã ra đi chờ đợi ở chúng tôi những hành động ngoạn mục, lẫm liệt, đại khái như cái chết của viên trung tá, trung úy vừa kể. Tôi nghe nói ở Sài Gòn người ta loan truyền khá nhiều huyền thoại, theo ước mong của thiên hạ chứ không theo thực tế. Vài người trong chúng tôi được choàng vòng hoa kiểu đó. Nhưng là người trong cuộc, tôi xin thành thật nói ngay rằng sự lương thiện không cho phép ai nhận bừa vòng hào quang. Các bạn tính, chúng tôi có gì đâu để tỏ ra lẫm liệt? Trung úy vừa bảo lúc ấy giới nhà binh hoang mang tuyệt vọng, không có lấy một thần tượng hoặc một niềm tin để kiêu hãnh. Giới chữ nghĩa chúng tôi cũng vậy. Tuy cùng cầm bút, nhưng chúng tôi khác biệt nhau về tuổi tác.

Rồi do tuổi tác mà cách tham dự hoặc nhận định về lịch sử khác hẳn nhau. Lớp dấn mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp ở tuổi đôi mươi rồi vỡ mộng vào thành như Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, vừa ấp yêu thời kỳ kháng chiến như một kỷ niệm đẹp, vừa viết văn chống Cộng. Lớp trẻ lớn lên sau Hiệp định Genève tán đồng huyền thoại kháng chiến của đàn anh nhưng khó chịu khi đọc văn chống Cộng của họ, thầm chê họ lẩm cẩm. Lớp trẻ hơn nữa dồn hết sức chống Mỹ, và mơ màng một ”cuộc cách mạng xã hội không đổ máu”.

Tóm lại thế hệ nào cũng thầm lặng khâm phục người Cộng sản tuy họ cùng khốn khổ vì cuộc chiến tranh do người Cộng sản chủ động. Càng về sau, cái mốt chung của thời đại là khuynh tả. Tiến bộ, sáng suốt, nhân đạo, thuận chiều tiến hóa tất yếu, đồng nghĩa với khuynh tả. Chính tôi cũng vậy. Quay sang đề cao tình tự dân tộc, tỏ thái độ phản chiến hay hô hào bảo vệ đạo đức trước ảnh hưởng ngoại lai, đều là cái bóng của khuynh tả, và khuynh tả là cái bóng của sự khâm phục thầm lặng đối với bên kia. Trong lúc đó bên này có gì? Trung úy đã nói giúp tôi rồi. Thành thử khi bị bắt, chúng tôi tự an ủi: ”Thôi, trước sau gì cũng phải trả nợ cho xong!”

Khốn nỗi người ta đòi nợ nhiều quá, chúng tôi tối tăm mặt mũi. Cái thân ốm của tôi gánh sao nổi món nợ của đế quốc toàn cầu? Chúng tôi bàng hoàng, rồi ấm ức. Cho nên đúng ba năm mà chưa được thả về, chúng tôi giận thật sự. Thế này là thế nào? Giấy trắng mực đen còn đó! Rõ ràng mặt đấy mặt này chứ ai! Làm gì bây giờ? Chẳng ai biết phải làm gì cả. Chống lại kẻ một lần ta lỡ khâm phục, khó lắm, khó y như đi đòi nợ một ông thầy học cũ. Các bạn tưởng tượng xem, ở trong cảnh huống ấy mà nghe tin một người có uy tín trong văn giới can đảm tuyên bố tuyệt thực để phản đối, bọn chúng tôi xúc động đến mức nào. Vừa hãnh diện quàng vừa tự xấu hổ. Ít ra cũng phải có một người dám làm một cái gì chứ! Anh em chúng tôi xì xào bàn tán bới nhau, vừa mừng vừa lo. Người bảo:

“Ông ấy làm tới đấy. Xưa ông ấy nổi tiếng bốc!”

Người thì bảo:

“Biết đâu là tin phịa để mua vui!”

Có người lo:

“Ông ấy như lửa rơm. Bốc đó rồi xìu đó. Sợ không bền!”

Người ta đem cả văn nghiệp ra để hy vọng hay lo lắng, và ai cũng có vẻ hợp lý cả. Đào bới bấy nhiêu cuốn tiểu thuyết thì chứng minh cái gì không được. Huống chi tiểu thuyết có bao nhiêu loại nhân vật, dữ, hiền, khôn, dại, hào hiệp, bần tiện, hiền triết đạo tặc, thiên thần, ác quỉ, kẻ dâm dục, người bất lực, hạng nào cũng đủ, mỗi hạng mỗi cách nói, chứng minh cái gì cũng có sẵn.

Chúng tôi chờ, dọ dẫm phản ứng của ban giám thị trại giam... Không phải chuyện phịa, vì chính giám thị khu chúng tôi cũng xác nhận. Thật đáng mừng. Tin vui đi nhanh qua nhiều ngõ ngách. Có thể nói dù bị kiểm soát gắt gao, chúng tôi vẫn có thể thông báo cho nhau tin từng giờ:

”Giám thị đã xuống phòng giam và tịch thu phần cơm anh ấy nhường cho bạn.”

“Nhà bếp được lệnh bớt một phần cơm phòng số 8. Chính giám thị xuống chia cơm.”

“Anh ấy đã bị chuyển sang khu biệt giam. Từ nay việc lấy tin chắc khó!”

“Người ta bắt đầu kiểm soát nước khu biệt giam. Chính giám thị đi chia nước chứ không giao cho ban trực nhật.”

“Đã có lệnh không được mang nước uống cho anh ấy!”

Mọi người bàng hoàng. Thế này là thế nào? Họ quyết bỏ mặc cho anh ấy chết khát ư? Nhịn đói thì cuộc tranh đấu còn kéo dài được 10, 15 ngày. Có sâm, nhung, lê táo như các thầy Ấn Quang hồi trước kéo tháng này tháng nọ dễ dàng. Nhưng không uống gì cả được bao lâu? Bắt đầu có nhiều lời bàn ra tán vào. Người lãng mạn quyết tin rằng anh ấy sẽ đi đến cùng, lẫm liệt, hào sảng như các nhân vật chính của anh ấy. Người hoài nghi xét lại: Có thể, có nên dùng phương pháp đấu tranh bất bạo động đối với một chế độ chuyên chính hay không? Người ba phải thì quay sang lo cho sức khỏe vốn kém của anh ấy. Mọi người nóng ruột như đứng trên lửa. Chờ đợi khiến phòng giam thêm nực, phòng thêm tối. Chờ một ngày. Chờ hai ngày. Đến ngày thứ ba, thì có tin chánh thức đáng tin cậy từ khu biệt giam cho biết anh ấy xin ăn trở lại. Phòng chúng tôi đột nhiên ồn ào như cái chợ. Mạnh ai nấy nói. Thế lày là thế lào? Các bạn đừng cười. Tôi nhại câu nói liệu ”Thế lày là thế lào?” của giám thị khu B đến nỗi nhập tâm thành tật. Hỏi gì thì hỏi, sự thật vẫn cứ là sự thật. Từ đó về sau, chúng tôi nhận được tin ”hoàn toàn chính thức từ giới hữu trách có thẩm quyền” công khai loan báo. Tin nào cũng đều khiến chúng tôi đau nhói trong lòng cả!”

Cụ cán sự hồi hưu nói:

“Có khi chưa tới ranh giới sống chết, người ta vẫn hành động giống như một người bình thường với đầy đủ những cao cả lẫn hèn yếu. Theo ký họa của một người họa sĩ đương thời thì hoàng hậu Pháp Marie Antoinnette vẫn cố tỏ ra bệ vệ hách dịch dù ngồi trên xe cây dẫn ra chỗ đặt máy chém. Một tử tội đi đến pháp trường vẫn cúi xuống phủi một vết bẩn trên chiếc áo đang mặc.”

“Vâng. Tôi thấy phải hiểu anh ấy như một người bình thường. Thần tượng hóa anh ấy theo mong ước lãng mạn của mình là lỗi của mình, không phải lỗi anh ấy. Theo cách đó, tôi nghĩ không nên siêu hình hóa cái chết. Gán cho nó một ý nghĩ quá quan trọng là cái lỗi của tinh thần duy lý Tây phương. Tại sao không xem nó như một loại sinh hoạt của đời sống sinh vật y như tìm mồi, làm tổ, sinh con, bài tiết, thậm chí cắn mổ nhau để vui chơi hoặc tranh ăn. Quan trọng hóa cái chết thành ra làm hại nó. Đặt cho cái chết một mục tiêu, là làm hại nó lần thứ nhì. Cái lỗi của chúng tôi, và của cả anh ấy, là muốn dùng cái chết để làm một cái gì đó. Ta mặc cả với Thần Chết, ta so đo, ta vòi vĩnh, cò kè thêm bớt. Ta tính đến chuyện thành bại. Cho nên khi thấy không thành công được, thấy chết chỉ thiệt thân, ta bèn dừng lại. Tôi nhớ lúc nãy trung úy có bảo tuy thất bại, kẻ thù vẫn phải kính nể trung tá như một kẻ thù nghiêm chỉnh. Tôi đồng ý với phần sau câu nói, nhưng xin lỗi nhé, tôi bác bỏ phần đầu: ”Tuy thất bại”. Tại sao nói chuyện thành bại ở đây? Gắn thêm cho cái chết một cái đuôi chỉ tổ làm vướng dáng đi tự nhiên của nó thôi! Giả sử bây giờ có ai bảo hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối ông Diệm, nhất định ta sẽ chê người đó là cận thị rồi! Câu chuyện của tôi đến đây chấm dứt. Nếu là cán bộ chấp pháp, các bạn sẽ xếp nó và loại nào: Phản động? Đồi trụy? Ngụy dân tộc? Hư vô chủ nghĩa? Chắc không nặng án thế đâu! Quá lắm chỉ thuộc loại nhảm nhí, tuy tôi vẫn nhớ ”nhảm nhí cũng là hình thức tinh vi của phản động.”

*

Nhà giáo vừa dứt lời, cụ cán sự hỏi liền:

“Xem cái chết là tự nhiên à? Anh sợ chết không, nói thực đi?”

Ông giáo cười, quay hỏi vị linh mục:

“Cha sợ chết không?”

Cha xứ nghiêm chỉnh đáp:

“Không. Tôi tin sự sống đời đời trong nước Chúa.”

Ông giáo hỏi trung úy:

“Còn anh?”

“Chưa sợ. Tôi còn khỏe. Hơn tháng nay, tôi chưa phải bước chân lên bệnh viện lần nào.”

Ông giáo hỏi ngược lại cụ cán sự:

“Thế cụ có sợ chết không đã?”

Cụ cán sự hồi hưu đáp ngay:

“Sợ chứ!”

Ông giáo bật cười lớn:

“Sợ chết sao còn dám vượt biên? Cụ luống tuổi rồi đi đâu cho khổ. Gió bão, tù tội, đói khát, sơ ý một chút là chết. Tại sao phải đi?”

“Tôi sợ một cái chết khác ghê gớm hơn.”

Ba người hơi thất vọng, đoán thế nào cụ cũng xổ một lô những lời chống Cộng thật đúng bài bản, như ”vô thần khát máu” như ”tam vô chủ nghĩa” vân vân và vân vân. Họ đã nghe những thứ đó chán chê từ thời ông Diệm. Cụ cán sự để mặc cho các bạn thất vọng, từ từ uống cạn ca nước trà nguội, rồi mới nói:

“Tôi không sợ chết nói chung, nhưng sợ riêng một số cách chết. Chết đứng như Từ Hải, thảm mà oai. Chết mà đi như Dracula chỉ dùng để dọa con nít. Tôi luống tuổi, mặn ngọt chua cay của cuộc đời nếm tê cả đầu lưỡi, từng ”nghiên cứu” cái chết kỹ lưỡng lắm, nên nghiệm thấy cái chết đáng sợ nhất là cái chết mà vẫn còn sống, sống mà vẫn chết.”

Nhà giáo cười rồi hỏi:

“Nghĩa là ngắc ngư? Bị bại liệt à?”

“Không, đây là một cách tự vẫn đặc biệt. Rắc rối quá phải không. Để tôi kể quách cho các bạn nghe cho rồi!”

Tôi hơn các bạn những hai chục tuổi, từng sống dưới sáu chế độ: Pháp thuộc, Nhật thuộc, Tàu phù thuộc, Cộng sản thời kháng chiến, Chế độ quốc gia từ thời ông Diệm, à quên, từ Bảo Đại đến ông Thiệu, cuối cùng là Cộng sản sau 1975. Nếu kể HCR nữa thì đến bảy. Anh em, bà con, con cái, bạn bè, lần lượt chết khá nhiều, mỗi người mỗi kiểu. Không thiếu những người tự tìm lấy cái chết, trong đó có một con trai của tôi. Các bạn đừng lầm. Tôi không kể về cái chết của nó đâu. Nó chết tầm thường, tự nhiên, một cái chết lãng xẹt vì một con điếm thúi. Chuyện tôi sắp kể liên quan đến một người bạn cũng từng sống dai nhách như tôi vậy.

Ông ấy cũng là một nhà văn. Thời chúng tôi còn phải học ”Nos ancêtres sont des Gaulois”, thú tiêu khiển hiếm lắm. Ngoài vài ba thứ cờ bạc bị nghiêm cấm, lũ học trò chúng tôi chỉ tìm vui trong thú đọc sách. Mà sách lại hiếm, khó mua khó mượn.

Cầm được một quyển sách trên tay đã được các cô kính nể khâm phục lắm rồi. Huống chi là viết sách! Bạn tôi thuộc vào số ít con người đáng nể ấy, lúc chưa được hai mươi. Đã thế sách bạn tôi viết lại được trích giảng cho học trò học thuộc lòng. Tôi dám tin chắc rằng các bạn cũng đã thuộc lòng đoạn văn của bạn tôi.

Mọi người đều tò mò hỏi:

“Cụ đọc thử xem?”

Cụ cán sự hồi hưu chớp chớp đôi mắt lộ vẻ cảm động. Cụ nhớ lại cái thời xa xưa đã mất, run run đọc:

Hằng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều...

Ba người cùng kêu ồ, nhà giáo ê a đọc tiếp:

Và trên không có những đám mây bàng bạc...

Trung úy nói:

“Bài Ngày tựu trường của Thanh Tịnh.”

Vị linh mục cũng nói:

“Trong tập Quê Mẹ. Bài đó nổi tiếng trong giới học trò chẳng kém gì bài La Rentrée của Anatole France. Cụ có quen với Thanh Tịnh à?”

Cụ cán sự nói:

“Đấy. Cha vừa hỏi: ”Cụ có quen với Thanh Tịnh à?” Gần xuống lỗ mà còn được hỏi như vậy, huống chi thời đi học được là bạn của Thanh Tịnh, mày mày tao tao với một ”nhà văn”, ôi chao, hân hạnh biết chừng nào. Khỏi cần nói chắc các bạn cũng biết tôi đã bắt chước Thanh Tịnh từng dáng đi, điệu nói, cách để tóc, cách ăn mặc. Tôi còn lén viết một bài văn đặt nhan đề ”Hôm khai trường” với đầy đủ lá rụng, mây bay, chơi diều, chơi bi, rồi chép sao nhiều bản gửi đi các báo ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Tôi chuẩn bị đón nhận sự nổi tiếng. Sáng tác của tôi gửi đi mà chờ mãi không có gửi lại. ” Tài ba” của tôi bị các cặp mắt phàm tục đố kỵ ở các tòa soạn lơ là, tội nghiệp thân tôi. Tôi tủi thân, đâm ra ganh ghét bạn. Ánh sáng của Thanh Tịnh làm mờ hào quang của tôi. Phải xa anh ta mới dựng sự nghiệp được. Thầy mẹ giúp tôi thỏa ước - vì sau đó gia đình tôi dời đến tỉnh khác. Cách mạng tháng Tám. Rồi tản cư. Tôi đã trở thành một thanh niên có bằng Cao đẳng Tiểu học. Tên nghe lạ phải không? Hồi ấy Trung học đệ nhất cấp gọi là École primaire supérieure, đậu Trung học đệ nhất cấp thì gọi là đậu bằng Thành chung hoặc Cao đẳng Tiểu học. Trước cách mạng tôi đang học dở ngành trợ giáo nên trong kháng chiến, tôi phụ trách một trường bình dân học vụ, rồi làm hiệu trưởng trường cấp hai. Chưa có thời kỳ nào tôi đam mê hào hứng với công việc của mình như thời ấy. Cảm và nói là một, nói với làm cũng là một. Bây giờ nghĩ lại thấy hồi đó mình lãng mạn đến quá khích.

Tôi tin tưởng tuyệt đối vào cuộc kháng chiến, nên làm gì tôi cũng xung phong hàng đầu. Chịu gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật là một niềm vinh dự. Cũng như các bạn cùng thế hệ, hai tiếng ”độc lập” làm cho tôi say mê. Vì độc lập tôi sẵn sàng hy sinh tất cả. Thiếu thốn ư? Có độc lập sẽ có tất cả. Yêu nhau mà chưa lấy được nhau ư? Hẹn ngày độc lập. Lấy nhau mà không thể sống bên nhau? Hẹn ngày độc lập! Độc Lập là cái chìa khóa mở mọi cánh cửa, kể cả những cánh cửa có ổ khóa rỉ sét. Còn giữ lại làm gì những tư tưởng ủy mị lỗi thời từng làm yếu đuối thanh niên, làm trì chậm cuộc đấu tranh giành độc lập. Chỉ cần nghĩ như thế chúng tôi lao vào cuộc cải tạo tư tưởng đầy dằn vặt, thống hối, lo âu, hoảng hốt. Ôi những đêm tự phê bên ánh đèn dầu sau giờ dạy học, những tháng ngồi trước trang giấy đáng sợ, để moi óc ghi lại tất cả những tư tưởng, cảm giác, hành động bạc nhược hèn yếu. Chúng tôi xưng tội công khai, khóc lóc, thống hối công khai. Cầm một cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là một cái tội. Chúng tôi đã nghĩ như vậy, và thù ghét cái bóng tiểu sư sản trong con người mình một cách chân thành. Thưa cha nếu không sợ phạm thánh, tôi dám so sánh cái không khí thời đó giống với không khí của Phúc âm. Quả thật như vậy. Cũng có những ”Đấng Cứu Thế” và những lời tiên tri. Cũng có hứa hẹn sự sống vĩnh hằng và sự xả thân, nghĩa là đầy đủ yếu tố cho một thời huyền thoại. Có kể như vậy các bạn mới hiểu sau 30-4, tôi ngơ ngác đến bậc nào khi thấy anh em bộ đội thản nhiên mua sách Chưởng, sách Tự Lực Văn Đoàn bán xôn ngoài hè phố để đọc. Kể cả quyển sách Quê Mẹ mà thời kháng chiến, tôi lãnh phần mổ xẻ phân tích để lôi ra tính chất ủy mị, bạc nhược. Anh giáo sư, tôi phải bắt chước anh để hô hoán lên: ”Thế lày là thế lào?” Rồi tôi gặp hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Lạ thật. Tôi không hiểu gì hết. Hay lớp trẻ sau này có bản lĩnh hơn chúng tôi thời trước? Tôi nhận thấy họ hiền hậu, có học thức, lễ độ, nhưng ánh mắt không ngời lên, khuôn mặt không đăm chiêu, khắc khổ. Có lẽ họ có bản lĩnh thực! Bao nhiêu năm được đào tạo trong truyền thống cách mạng phải khác bọn trẻ ủy mị bị thực dân đầu độc chứ! Nhưng lập luận của tôi không vững. Tôi lần lượt gặp những nhà phê bình nghiêm khắc lên án sách chưởng Kim Dung nhưng mê truyện chưởng hơn mê gái. Phần nào trong ông ta mê ”chưởng” và phần nào trong ông ta chửi ”chưởng”? Khúc trên hay khúc dưới? Sao có thể cùng làm một lúc hai việc đối chọi nhau một cách thản nhiên? Nói ở chỗ thân mật khác hẳn chỗ công khai. Nghĩ chân thật nhưng viết phải theo bài bản, và điều ấy tự nhiên! Tôi còn nghe nói khi họp chi bộ, các đảng viên cũng được thoải mái hơn xưa nhiều, khỏi phải đăm đăm hoặc lên gân. Trước khi họp có kẹo lạc, thuốc lá, nước trà. Lúc đó ăn nói vung vít, kháo chuyện thoải mái về đủ thứ vấn đề. Hăng máu chửi cả thủ trưởng cấp cao cũng không sao. Chê Đảng vài điều cũng được nốt. Muốn hát nhạc Ngụy? Được. Lật vài trang chưởng bỏ dở đọc tiếp? Được. Nhưng khi bí thư chi bộ nhắc: ”Đến giờ rồi, các đồng chí vào làm việc” thì vẫn những con người ấy nhưng khuôn mặt, lời nói, tình cảm, tư tưởng hoàn toàn đổi khác. Người vừa chửi thủ trưởng có thể hết lời ca tụng. Người vừa đọc truyện chưởng gay gắt lên án văn hóa thực dân mới. Người vừa nấu cám heo bằng điện nhà nước hô hào các đồng chí tiết kiệm của công, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa. Trời hỡi! Thế này là thế nào? Lớp trẻ khó hiểu quá đối với tôi. Họ phân thân rối mù nên tôi không biết lúc nào mới gặp đúng họ.

Tôi phải chờ các bạn cũ cùng thế hệ. May mắn cho tôi là vài tháng sau, nhân ngày kỷ niệm sinh nhật Hồ chủ tịch, phòng giáo dục quận (nơi con gái tôi làm việc) có tổ chức một buổi nói chuyện. Đề tài là ”Cuộc đời của Hồ chủ tịch”. Báo cáo viên, trời ơi, may mắn quá, đúng là thần tượng thời trẻ của tôi, đúng Thanh Tịnh. Trung tá Thanh Tịnh. Tôi hồi hộp chờ ngày gặp lại bạn cũ. Tôi tìm đọc lại cuốn Quê Mẹ để bồi hồi nhớ thời thơ ấu. Tôi tự trách tôi bất công. Tài ba tôi đâu có ra gì đâu mà đòi làm nhà văn! Đã thế, thời kháng chiến, lợi dụng lúc cách biệt, tôi đã ”trả thù” bằng cách đem cuốn Quê Mẹ ra mổ xẻ, chê lên chê xuống. Tôi sẽ mời Thanh Tịnh về nhà, nài cho được một đêm nằm bên nhau rủ rỉ đủ thứ chuyện tâm tình. Bây giờ già rồi, còn ngại gì nữa. Tôi sẽ nói hết, thú nhận hết, từ việc lén viết bài ”Hôm khai trường” cho đến việc lên án cuốn Quê Mẹ. Tôi sẽ không xưng tên ngay để sau buổi nói chuyện dành cho bạn một ngạc nhiên lớn.

Than ôi, chính Thanh Tịnh dành sẵn ngạc nhiên để tặng tôi. Thanh Tịnh già rồi. Thanh Tịnh nhà văn nhỏ nhẻ dễ thương thành Thanh Tịnh trung tá. Thời gian mà. Có gì đáng kinh ngạc đâu.

Nhưng tôi sững sờ khi Thanh Tịnh bắt đầu nói. Thiên hạ đồn không lầm. Thanh Tịnh đã thành báo cáo viên chuyên nghiệp chuyên ca tụng bác Hồ. Đi đâu, lúc nào, bao nhiêu năm nay, Thanh Tịnh chỉ nói về đề tài ấy, gọt dũa luyện tập từng câu từng chữ, để ý đến cả cách nhíu mày, cách đứng nghiêm, mắt nhìn lên chiêm ngưỡng khi nhắc đến Bác. Nghe Thanh Tịnh báo cáo một lần, lần sau đến nghe nữa có thể đoán trước trung tá sắp khóc ở đoạn đó, sắp cúi đầu im lặng ở đoạn kia, sắp ưỡn ngực hô hào ở đoạn khác... Đúng là một cái xác ướp biết đi biết nói, quan trọng nhất là ca tụng không biết chán.

So sánh với các cung phi bị giam kín nơi lăng tẩm các vua chúa đã chết thời xưa, Thanh Tịnh còn may hơn nhiều. Nhưng một nàng cung phi mới bị ông hoàng si bỏ quên, đã dám nghĩ:

Dang tay muốn dứt tơ hồng

Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.

Thanh Tịnh có bao giờ dám nghĩ thế không? Than ôi! Thanh Tịnh, người bạn nhỏ của tôi, ”địch thủ” của tôi, thần tượng của tôi, niềm mơ ước của tôi! Bạn không có cách tự vẫn nào dễ chịu hơn ư? Bạn đã chọn cách chết chậm chạp nhất, khắc kỷ nhất, chết mà vẫn sống, sống mà coi như đã chết. Bạn tự nguyện làm cái xác ướp để dễ hầu cận một cái xác ướp khác.

Tôi bỏ về trước khi trung tá Thanh Tịnh kết thúc bài nói chuyện, lòng hối tiếc khôn nguôi. Cách tự vẫn tôi kể, nhạt nhẽo lắm phải không? Nó kéo dài quá, như một màn kịch vụng lê thê làm khán giả chê chán! Nhà tư tưởng của cha lấy thế đẩy ngã chồng sách là xong, để lại cả một lô messages, một lô sứ điệp. Ông trung tá đoành một cái, được bạn nhà giáo khen là thâm trầm. Nhà văn bỏ dở cuộc nhưng được bạn bè thông cảm. Còn bạn tôi, than ôi, biết làm sao đây! So với các bạn, tôi chịu lỗi đã kể chuyện buồn và nản. Biết làm sao được! Trong Chinh Phụ Ngâm có câu:

Dòng nước sâu ngựa nản chân bon

Tôi có khác nào con ”ngựa nản chân bon” ấy!! Gần kề bên dòng nước sâu là cái chết, tôi phải làm gì? Lấy hết sức hí lên cho vang động núi rừng? Uống nước suối độc tù hãm bên cầu Nại Hà rồi lăn ra chết? Hay là nhảy đại qua vực để hy vọng đạp vó lên Mé Vĩnh Cửu?

Làm gì thì làm, nhưng tôi nhất định không vì ”nản chân bon” mà làm con ngựa gỗ. Tôi mệt quá rồi! Xin cha cho tôi chút nước!”

Linh mục rót khoảng nước còn lại trong lon pâté vào ca cụ cán sự già. Cụ bưng lên uống. Nước chảy qua hàm răng thưa, nhểu cả ra hai mép. Bàn tay cụ cán sự run run. Đến lúc đó, linh mục mới thấy một người trần thế muốn ”thu xếp” cuộc đời mình gặp thật lắm gian nan, nhất là những người trung thực. Linh mục thầm cầu xin: ”Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời và được hưởng ánh sáng nghìn thu...”

Nguyễn Mộng Giác