Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

Trần Hữu Thục - Đọc sách: Lý thuyết Trung Hoa về hư cấu của Ming Dong Gu

Trần Hữu Thục

        Nguyên văn tác phẩm có cái tên khá dài: Chinese Theories of Fiction: A Non-Western Narrative System (1) (Các lý thuyết Trung Hoa về hư cấu: Một hệ thống thuật sự phi-Tây phương). Tác giả họ Cố (Gu), đọc theo âm Hán Việt là Cố Minh Đống, sinh năm 1955, hiện là giáo sư tại trường Rhodes College, Tennessee, giảng dạy về thơ và tư tưởng đối chiếu. Trong phần tóm lược nội dung cuốn sách sau đây, tôi sẽ dùng Ming Dong Gu (MDG), là tên chính thức được tác giả sử dụng trong tất cả các bài viết của mình. MDG khá nổi tiếng trong giới hàn lâm Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng như Đài Loan. Ông dạy tại nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ và viết nhiều tiểu luận bàn về văn học đối chiếu giữa Đông và Tây. Chinese Theory of Fiction là tác phẩm in thành sách thứ hai của ông. Tác phẩm đầu tiên là Chinese Theories of Reading And Writing: A Route to Hermeneutics And Open Poetics (2)



          Văn học Trung Hoa có một truyền thống lâu dài, nhưng con đường phát triển của nó không theo cùng một cách như Tây phương. Nó chịu ảnh hưởng nặng nề của hoàn cảnh lịch sử và những quan điểm đặc thù Trung Hoa. Từ lâu, khi nghiên cứu văn học Trung Hoa, hầu hết học giả đều xem xét bằng các tiêu chuẩn Tây phương, đưa đến những hiểu lầm và cái nhìn thiên lệch. Qua Chinese Theory of Fiction, MDG đưa ra một cách tiếp cận mới, vừa dựa trên tính đặc thù của văn chương Trung Hoa vừa vận dụng các lý thuyết văn học Tây phương. Mục đích của tác phẩm là hệ thống hóa lý thuyết văn chương Trung Hoa, bắt một nhịp cầu giữa văn chương Trung Hoa cũ và mới, giữa Trung Hoa và Tây phương, giữa truyền thống và hậu hiện đại. Từ đó, “quốc tế hóa” lý thuyết truyện hư cấu Trung Hoa (internationalization of Chinese ficton), đưa nó hòa nhập vào trào lưu hư cấu toàn cầu (Lời tựa). Cũng trong ý hướng đó mà MDG chọn tựa đề Chinese Theory of Fiction thay vì Theory of Chinese Fiction vì theo ông, Chinese Theory of Fiction hàm ý trình bày ý tưởng mang tính Trung Hoa về hư cấu như một loại văn chương bất chấp truyền thống văn hóa trong lúc Theory of Chinese Fiction thì lại hàm ý xem hư cấu Trung Hoa là sản phẩm văn hóa của một truyền thống đặc thù (trang 10).

          Ngoài phần mở đầu và kết luận, tác phẩm gồm bảy chương, phân tích từ các khái niệm căn bản của truyện hư cấu Tây phương và truyện hư cấu Trung Hoa, bản chất của truyện hư cấu, bước ngoặt thẩm mỹ trong truyện hư cấu Trung Hoa. Sau đó, MDG dành hai chương, bàn kỹ về hai tác phẩm quan trọng nhất của văn học Trung Hoa là Kim Bình Mai và Hồng Lâu Mộng trước khi đưa ra giải pháp nhằm “quốc tế hóa” lý thuyết hư cấu Trung Hoa trong chương bảy và phần kết luận. Nhiều và rất nhiều tên tuổi của các học giả, sử gia, nhà văn, nhà nghiên cứu được trích dẫn,  trong đó có một số quen thuộc hay tương đối quen thuộc như Aristotle, Platon, Sigmund Freud (1856-1939), Roland Barthes (1915-1980), Jacques Derrida (1930-2004), Roman Jakobson (1896-1982), Victor Mair, Jean Baudrillard, Terry Eagleton, Umberto Eco, Andrew Plaks, Robert Scholes, Kenneth Dewoskin, William Nienhauser, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Tư Mã Thiên (145BC-90AC), Ban Cố (32-92), Lưu Tri Kỷ (661-721) Kim Thánh Thán (1610-1661), Mao Tôn Cương (thế kỷ 17), Trương Trúc Pha (1670-1698), Bồ Tùng Linh (1640-1715), Phùng Mộng Long (1574-1645), Lỗ Tấn (1881-1936), Hồ Thích (1891-1962), Trần Dần Khác (1890-1969) cùng nhiều học giả chuyên nghiên cứu về văn chương Trung Quốc trứ danh khác hiện nay như Vương Như Mai, Trương Vũ, Văn Nhất Đa, vân vân. (3)

          Trong bài viết sau đây, tôi tổng hợp và tóm tắt một số luận điểm nổi bật của MDG mà tôi chú ý khi đọc nhằm giới thiệu cùng bạn đọc một đề tài vừa xa lạ vừa gần gũi cùng những khám phá mới mẻ, thú vị. Cũng xin lưu ý là, tuy dựa theo trình tự mà tác giả khai triển đề tài, nhưng bài viết không nhất thiết theo thứ tự của các phần và các chương đuợc sắp xếp trong cuốn sách.

          Fiction và xiaoshuo

          MDG mở đầu cuốn sách (chương 1) bằng cách xác định ý nghĩa của từ xiaoshuo đối chiếu với từ fiction.
          Hư cấu (fiction) (4) là một ý niệm Tây phương, có hai nghĩa: 1. đó là một thể loại văn chương; và 2. đó là một cách viết. Là một thể loại văn chương, nó khác với thơ và kịch. Là một cách viết, nó đề cập đến những tác phẩm bằng văn xuôi được dựng nên bằng cách “bịa đặt” (fabrication). Từ tương đối gần với ý niệm về truyện hư cấu trong văn chương Trung Hoa là là xiaoshuo (5), nghĩa là tiểu thuyết, theo nghĩa hiện đại của từ này. (Trong tác phẩm của MDG, để khỏi lẫn lộn, chữ xiaoshuo được tác giả để nguyên và in nghiêng (Italic) theo hệ thống phiên âm pin yin trong suốt tác phẩm; ở đây tôi cũng sẽ để nguyên từ này để chỉ tiểu thuyết Trung Hoa nhằm mục đích phân biệt với từ “hư cấu” hay “truyện hư cấu” dịch từ chữ fiction

          Theo Victor Mair, thì hạn từ Trung Quốc dùng để chỉ hư cấu, hsiao-shuo (6), nguyên nghĩa là “câu chuyện nhỏ” (tiểu= nhỏ, thuyết = câu chuyện). Hiểu như thế thì về căn bản, xiaoshuo khác hẳn với tiếng Anh. Chữ fiction tiếng Anh xuất phát từ tiếng la-tinh là fingere, có nghĩa là form (tạo ra), fashion (nặn ra) hay invent (bịa ra). Như thế trong lúc xiaoshuo là để chỉ những chuyện gẫu, chuyện phiếm, chuyện tầm phào (gossips), những lời đồn đãi (rumors) thì từ tiếng Anh chỉ những gì được sáng tạo bởi nhà văn. Xiaoshuo ghi lại một số điều vụn vặt được xem như đã xảy ra, còn hư cấu gợi ra một điều gì do nhà văn tưởng tượng từ trong đầu rồi viết ra. Khi gọi là hư cấu, tác giả muốn nói tác phẩm chẳng phản ảnh cái gì có thực ở bên ngoài. Còn khi gọi là xiaoshuo, ta hiểu ngay đó là tường thuật một chuyện tầm phào (tr. 19, 20). (7)
          Cách hiểu đơn giản đó đưa đến một sự ngộ nhận là có hai loại xiaoshuo khác nhau, xiaoshuo của thời kỳ đầu của nền văn học Trung Hoa và xiaoshuo sau này, tức là sau khi xuất hiện Hồng Lâu Mộng vào thế kỷ 18 và nhất là sau cuộc “tiểu thuyết cách mệnh” vào đầu thế kỷ thứ 20. Xiaoshuo đầu chỉ những câu chuyện nhỏ, xiaoshuo sau mới chính là hư cấu theo cách hiểu hiện nay. Không chấp nhận cách hiểu sai lệch đó, MDG ngược dòng lịch sử để tìm về ý nghĩa của xiaoshuo. Theo ông, tài liệu sớm nhất đề cập đến ý niệm về xiaoshuo được tìm thấy trong sách của Trang Tử. Tuân Tử, trong phần nói về “chính danh”, cũng có nhắc đến một ý niệm khác, tương tự như khái niệm của Trang Tử. Nhưng trong cách dùng của họ, xiaoshuo chỉ quy cho những đề tài hay ý tưởng tầm thường về siêu hình, luân lý. Người đầu tiên sử dụng từ xiaoshuo để chỉ cái mà ngày nay ta hiểu là tiểu thuyết là Ban Cố (Ban Gu/32-92).

Xiaoshuo là gì? Ban Cố giải thích như sau trong “Hán Thư Nghệ Văn Chí”: “Tiểu thuyết gia giả lưu/cái xuất vu bại quan/nhai đàm hạng ngữ/đạo thính tống thuyết giả chi sở tạo giả”. Do sự lầm lẫn về cú pháp, câu này của Ban Cố đã bị diễn giải sai, do đó đưa đến cách hiểu giới hạn như cái nhìn của Victor Mair ở trên. MDG diễn giải lại như sau: “Trường phái tiểu thuyết xuất phát từ những viên quan nhỏ trong triều. Chúng là những chuyện tạo ra do những kẻ ưa trò chuyện trên đường, trong ngõ hẻm lúc nhàn rỗi và do những kẻ hóng chuyện tầm phào và các lời đồn đãi ngoài đường”. Trong câu này có chữ “tạo”, ý nghĩa chẳng khác gì từ “invent” (sáng tạo) trong tiếng Anh. Như thế, những người trên đường phố là những kẻ đầu tiên kể chuyện, sau đó những viên quan nhỏ nghe ngóng rồi ghi lại. Họ ghi lại để làm gì? Ban Cố cho biết các vua muốn biết phong tục tập quán của dân gian, nên sai thành lập những bộ phận chuyện đi thu nhặt chuyện dân gian để tường trình lại cho vua. Có điều, họ không phải chỉ nghe sao ghi vậy mà còn chế biến chúng. Để mô tả cách chế biến của họ, trong một đoạn khác, Ban Cố dùng chữ “chuyết” (hay chuế), có nghĩa là khâu (stitch together). Như thế từ những chi tiết sống thâu lượm được, các viên quan “khâu” lại thành những câu chuyện hay ho, tức là xiaoshuo. Nhưng không phải viên quan nào cũng viết được xiaoshuo. Ban Cố cho biết: “Xiaoshuo do những người có một tinh thần “phóng giả vi chi” (phóng khoáng) soạn”(tr. 27). Trong “Hán Thư Nghệ Văn Chí”, Ban Cố xếp những người viết xiaoshuo ở phần “Chu Tử” (hạng người quý tộc hay có địa vị), đặt họ nằm cuối trong 10 trường phái bao gồm Khổng Giáo, Đạo Giáo, Mặc Giáo, Pháp Gia, Nông Gia…Ban Cố liệt kê tất cả chừng 1380 tác phẩm cho thấy thời đó, có rất nhiều xiaoshuo đã được viết ra, nhưng tiếc thay, qua thời gian, đã bị thất lạc (tr. 26).

MDG cho rằng, nếu nắm bắt được những lý do nội tại của đưa đến sự phát triển của xiaoshuo và giá trị nội tại của tác phẩm hư cấu, người ta sẽ thấy rằng ý niệm sau này của xiaoshuo không những đã tiến triển từ cái tên đầu tiên mà còn kéo theo hàm ý nội tại riêng của nó, bất chấp những thay đổi của lịch sử, ý thức hệ và quan niệm thẩm mỹ (tr. 25). Bản chất nội tại của xiaoshuo, dù đó là chuyện nhỏ hay chuyện lớn,  là bịa đặt, tức là hư cấu. Và tính cách này khiến cho nó khác hẳn các loại khác như sử ký, thơ hay văn xuôi. Các chuyện bịa đặt như thế hình thành từ những chi tiết lặt vặt trong đời sống gia đình, xã hội hằng ngày, quan hệ giữa cha con, chồng vợ, bạn bè, ăn uống…Đặc tính của nó là đơn giản, dễ hiểu, dễ truyền đạt. Do đó mà được gọi là “tiểu thuyết”. Ngoài ra, MDG còn tìm ra một cách diễn tả khác của xiaoshuo, làm nổi rõ hơn điểm cốt lõi này, đó là shuohua, “thuyết thoại” (MDG dịch sang tiếng Anh là “speaking words” hay “storytelling”), nghĩa là kể chuyện. “Thuyết thoại”, một nghệ thuật kể chuyện bắt đầu từ đời Đường kéo dài cho tời đời nhà Minh, có thể xem như thể loại trung gian nối kết xiaoshuo ngày xưa với xiaoshuo hiện đại (tr. 35).

Hư cấu tính

Trong khi thảo luận về các hình thức văn chương, hư cấu dùng để chỉ truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài. Điểm chung giữa ba loại không phải ở chỗ chúng đều viết dưới hình thức văn xuôi, mà ở chỗ cả ba đều diễn tả những biến cố theo một cách có thể không đúng với các dữ kiện có thực, nhưng đúng với đời sống (not be true to facts but true to life). Hư cấu xét như một thể loại văn chương là loại văn xuôi tự sự, tường thuật những hành động và biến cố không nhất thiết đã xảy ra trong thực tế trước đó, nhưng lại vẫn phù hợp với quy luật trong cuộc sống, vì nó được sáng tạo ra một cách có chủ ý không nhằm truyền đạt thông tin mà chỉ để giải trí và đánh giá về mặt thẩm mỹ (tr. 46). Yếu tố chính của hư cấu, chính là “hư cấu tính” (fictionality). MDG cho hư cấu tính là cốt lõi về mặt ý niệm của xiaoshuo. Trong khảo sát văn chương nói chung, hư cấu tính được xem như là biểu hiện của cái không hiện hữu nhưng có thể hiện hữu qua trung gian của ngôn ngữ.

Tiếng Hán không có từ tương đương với hư cấu cho đến khi xuất hiện ý niệm hiện đại về “hư cấu tính” sau này. Tuy thế, theo GMD, có những cụm từ phổ thông Trung Hoa mô tả ý nghĩa tương đương. Chẳng hạn như “vô trung sinh hữu” (cái có phát sinh từ cái không), “bằng không tạo hoang” (dựa vào cái không để đặt chuyện), “bằng không niết tạo” (dựa vào cái không để nặn ra chuyện), hay “kính hoa thủy nguyệt” (hoa phản chiếu trong gương, trăng nằm dưới nước). Trong lúc lịch sử được viết theo truyền thống “thuật nhi bất tác” (tường thuật mà không sáng tác), thì hư cấu là chuyện bịa đặt.

Tuy thế, ngay cả trong lịch sử chính thức, hư cấu vẫn không hề vắng mặt vì các sử gia, trong khi dựa vào sự kiện, vẫn chế tác, thêm thắt trong một giới hạn cho phép. Đọc truyện Tàu, dù có rành về sử hay không, ít ai không nhận ra rằng chúng trộn lẫn giữa chuyện có thực và chuyện thêm thắt. Lỗ Tấn (Lu Xun) quả quyết rằng truyện “Tam quốc chí” chứa đựng 70 phần lịch sử và 30 phần hư cấu. Như thế, theo GMD, những truyện lịch sử - mà MDG còn gọi là “hư cấu lịch sử” (historical fiction) - đóng góp một phần quan trọng trong sự phát triển văn chương Trung Hoa. “Nhờ lịch sử, những bài viết xiaoshuo được cấp cho quyền hiện hữu”, MDG viết (tr. 47). Đồng thời, xiaoshuo phải chiến đấu với lịch sử để phát triển, để đạt được hư cấu tính toàn vẹn (full-fledged fictionality) của nó.

MDG gọi thứ hư cấu tính toàn vẹn này là “hư cấu thuần túy” (pure fiction). Hư cấu thuần túy là “một tác phẩm hư cấu không dựa trên bất cứ một thuật sự hay câu chuyện nào có trước để khởi đầu và sức mạnh thuật sự của nó chỉ dựa trên chính hư cấu tính của chính nó” (tr. 51). Bất chấp ưu thế của lịch sử trong sự phát triển của xiaoshuo, có một chuyển động rõ ràng của xiaoshuo đi từ hư cấu lịch sử đến hư cấu thuần túy. MDG khẳng định nỗ lực tiến đến hư cấu thuần túy là bước phát triển có tính chất quyết định nhất trong lịch sử xiaoshuo Trung Hoa (tr. 84). Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng và các tác phẩm hư cấu của Lỗ Tấn là ba thành tựu vĩ đại đưa xiaoshuo truyền thống đến hư cấu hiện đại (tr. 87).

MDG bác bỏ luận điểm cho rằng Trung Hoa không có truyện hư cấu cho đến khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc. Luận điểm này do Văn Nhất Đa (Wen Yiduo) đưa ra và được Victor Mair dùng lại qua một bài tiểu luận nhan đề là “The Narrative Revolution in Chinese Literature Ontological Presuppositions” (1983). Mair quả quyết sự truyền bá Phật Giáo và tư tưởng Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển biến nền văn hóa Trung Hoa. Riêng về phương diện văn chương, truyện hư cấu Trung quốc không thể xuất hiện nếu không có sự kích thích từ những vay mượn về triết lý và đề tài từ tư tưởng Ấn Độ. Mair khẳng định “Không có cái gì trước đời Đường xứng đáng gọi là truyện hư cấu” (tr. 44). Quan điểm của Mair, theo MDG, rất gần với cách nhìn của ngay những học giả Trung Hoa ngày xưa, chẳng hạn như Lưu Tri Kỷ (661-721) khi ông này cho rằng những loại “truyện ký tiểu thuyết” trước thời Đường như là kết quả của một lầm lẫn đáng tiếc được thực hiện bởi những kẻ mà ông gọi là “vọng giả” (người vô trách nhiệm), “tế giả” (người ngu dốt), “mậu giả” (người có quan điểm sai) và “ngu giả” (người điên) (8). Thực ra, theo MDG, đó là những truyện hư cấu đúng nghĩa.

Khác với Ấn Độ có một truyền thống sử thi và thiếu sử ký thì ngược lại, Trung Hoa có truyền thống sử ký. Năng lực sáng tạo của Trung Hoa tập trung vào việc viết sử, đưa đến hậu quả là các tác phẩm hư cấu phải bám vào sử ký để tồn tại. Nhiều chuyện kể về lịch sử, thực ra, là những tác phẩm hư cấu được ngụy trang, chẳng hạn như “Mục thiên tử truyện” (Mu Tianzi Zhuan) xuất hiện vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Hơn 1000 năm sau khi được phát hiện vào năm 279 (sau công nguyên), nó vẫn còn được xem như một tác phẩm lịch sử. Chỉ đến đời nhà Thanh, nó mới được Kỷ Quân (Ji Yun/1724-1805) xếp vào thể loại xiaoshuo.

Nói chung, từ lúc khởi đầu cho đến trước đời nhà Đường (618-917), xiaoshuo xuất phát từ ba nguồn: những câu chuyện thần thoại; các chuyện tầm phào do các viên tiểu quan sưu tập; và thuật chép sử. Có bốn loại được xem là hư cấu căn cứ trên các đặc tính của chúng:
- một số bài viết lịch sử
- các dụ ngôn triết lý
- huyền thoại, chuyện truyền kỳ
- chuyện kỳ lạ về người và vật

Những chuyện kỳ lạ về người và vật xuất hiện vào thời Lục Triều (9)  được gọi là “chí quái” (Zhiquai) và “chí nhân” (Zhiren), bị các nhà sử học loại ra, xem như là đồ thừa thải, vì cho rằng chúng có tính chất hư cấu, không ăn khớp với sử học chính thức. Theo MDG, một số trong chúng mang đặc tính hư cấu tương đương với các truyện ngắn hiện đại. Chẳng hạn như truyện “Mại phấn nhi” (Cô gái buôn phấn) trong “Sưu thần chí”. Đây là một câu chuyện khá thú vị, kể chuyện một chàng trai con nhà giàu yêu cô gái buôn phấn son, ngày nào cũng ra chợ mua phấn để được gặp nàng. Cảm động, cô gái đồng ý bí mật gặp chàng trai. Đêm đó, khi cô gái đến phòng ngủ nhà chàng trai theo lời hẹn ước thì chàng ta cảm động quá đến nỗi nằm lăn ra chết. Sợ quá, nhưng không biết làm sao, cô buôn phấn bỏ trốn về nhà. Hôm sau, khi chuẩn bị làm đám thì gia đình phát hiện hàng trăm gói phấn trong phòng chàng. Người mẹ mang phấn ra chợ, đem so với phấn của nàng thì thấy giống hệt nhau nên kiện nàng ra quan vì tội giết người. Nàng thành thật kể lại chuyện nhưng không ai tin. Trước khi bị đem ra xử, quan đồng ý cho cô gái được đến nhà chàng trai cầu nguyện trước xác chàng. Cầu nguyện xong, bỗng nhiên, chàng trai sống lại. Rồi hai người nên duyên chồng vợ và có con cái đầy đàn. Rõ ràng, khác hẳn với “Mục thiên tử truyện” đề cập ở trên, “Mại phấn nhi” là một truyện hư cấu đúng nghĩa, không pha trộn chi tiết lịch sử nào. Ngoại trừ việc sống lại của chàng thanh niên, các chi tiết khác đều sống động và gần gũi được viết với một kỹ thuật rất sắc sảo, theo MDG (tr. 40).

Một truyện khác khá thú vị là truyện “Dương Tiện thư sinh”. Truyện kể về một anh chàng tên là Xu Yan. Trên đường xách lồng ngỗng đi bán, chàng ta gặp một ông đồ nho. Than bị đau chân, ông đồ xin Xu cho ông được nhốt chung lồng với hai con ngỗng để Xu mang đi. Xu tưởng là chuyện đùa, nhưng ông đồ cứ chun vào lồng ở chung với ngỗng. Ngỗng ta không phiền mà Xu cũng chẳng thấy lồng nặng thêm. Khi Xu ngồi nghỉ, ông đồ chun ra khỏi lồng và đề nghị làm trò vui cho Xu. Từ trong miệng, ông nhổ ra một chiếc hộp bằng đồng đựng nhiều đồ ăn và rượu. Ăn uống xong, ông đồ phun ra một phụ nữ để cùng đi cho có bạn. Khi ông đồ say ngủ, mụ này phun ra một chàng trai nói là nhân tình của mụ. Thấy ông đồ sắp thức giấc, mụ phun ra một cái lều. Ông đồ đòi ngủ với mụ trong lều. Khi cả hai đều đã ngủ, chàng trai tiết lộ với Xu rằng chàng ta có một nhân tình bí mật và chàng nhổ ra một cô gái trẻ. Nàng ca hát cho hai người đàn ông nghe trong khi họ ăn uống nhậu nhẹt. Khi nghe tiếng ông đồ trở mình trong lều, chàng ta bèn nuốt cô gái vào trong miệng. Sau đó, người phụ nữ bước ra và nuốt chàng trai. Khi ông đồ thức dậy, ông lên tiếng chào tạm biệt Xu và nuốt hết người phụ nữ này cùng tất cả các thứ khác, chỉ chừa lại chiếc dĩa đồng cho Xu làm kỷ niệm.

Đây là một truyện khá lạ. MDG cho rằng, truyện không chỉ đề cập đến mơ mộng viễn vông và những ước muốn ẩn giấu, mà còn là ẩn dụ về nghệ thuật kể chuyện. Việc nhổ ra và nuốt vào người và vật ý ám chỉ sự chế tạo các yếu tố hư cấu xuyên qua việc sử dụng ngôn ngữ. Qua truyện này, MDG nhận xét người viết xiaoshuo dường như đã hiểu biết về khả năng tự-quy chiếu (self-referentiality) của ngôn ngữ, vốn  là một khái niệm hậu hiện đại. (tr. 41) 

Những truyện như thế cho thấy, nói chung, xiaoshuo đã hiện diện từ trước đời nhà Đường. Nhưng vì bị hạn chế bởi sự chi phối của cách viết sử mà ông gọi là sự “chuyên chế của lịch sử” (tyranny of history) (38), nên phải đợi đến đời nhà Đường thì xiaoshuo mới thực sự tạo được một chỗ đứng vững chắc cho sự phát triển về sau, hướng đến hư cấu thuần túy. Đời Đường là giai đoạn thuận lợi cho giới viết lách. Trí thức thời đó được giải phóng ra khỏi những quy định nghiêm ngặt Khổng giáo, ít bị câu thúc về mặt luân lý như cha ông. Họ hưởng thụ đời sống và bằng tưởng tượng, họ dành thì giờ viết ra những chuyện này chuyện nọ, thay thế cho thơ và văn đang lưu hành rồi khi gặp nhau, kể cho nhau nghe. Viết không để chỉ dạy dỗ như lời răn bảo của Khổng Tử mà còn là phương tiện để giải trí. Các điều kiện thuận lợi đó này làm tăng tốc sự chuyển biến xiaoshuo, từ những chuyện kỳ quái thời Lục Triều đến truyện “truyền kỳ” (chuanqi) là hình thức truyện rất phổ biến vào thời đó.

Về mặt nội dung, từ đời nhà Đường, nhà văn bắt đầu diễn tả thế giới bên trong của nhân vật, đưa ra những đề tài về quan hệ nam nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Đó là nguyên nhân chính khiến cho lần đầu tiên, có sự bùng nổ về dục tính, đưa đến nhiều xiaoshuo tình dục như “Lý Oa truyện” (Truyện nàng Lý Oa), “Hoắc Tiểu Ngọc truyện” (Truyện Hoắc Tiểu Ngọc) hay “Du tiên quật” (Đi chơi động tiên). “Du tiên quật” là một truyện dài với lối viết văn vẻ và lôi cuốn của Trương Văn Thành, kể chuyện một chàng trai lạc vào động tiên và được diễm phúc ăn nằm với các tiên nữ. Nhiều chuyện tình dục khác viết rất bạo, mô tả chi li những động tác ái ân y như chuyện “con heo” đời nay. Có chuyện bạo đến chỗ chứa đầy tình cách bệnh hoạn, làm chấn động giới nho gia đương thời. Như Liễu Hoàn Nguyên (773-819) với “Hà giản truyện” mô tả một thiếu phụ từ chỗ đức hạnh biến thành cuồng dâm.

Dù công nhận sự phát triển của xiaoshuo đời Đường, MDG không đồng ý với quan điểm của Lỗ Tấn và một số các học giả khác cho rằng các truyện thời Lục Triều thiếu ý thức sáng tạo của loại truyện truyền kỳ. MDG cho rằng, chuyện truyền kỳ chỉ hơn các truyện thời Lục Triều ở độ dài và sự sắc sảo. Kỳ dư, tất cả những yếu tố tạo thành tác phẩm hư cấu ở đời Đường đều có thể tìm thấy trong những xiaoshuo sáng tác trước đó. Tóm lại, không có cuộc cách mạng thuật sự (narrative revolution) nào ở đời Đường. Truyện truyền kỳ là thành quả tất nhiên của một quá trình tiến hóa bằng cách làm giàu và cải tiến truyền thống thuật sự có từ thời Lục Triều (tr. 73). Trong lịch sử văn học Trung Hoa, cuộc cách mạng thực sự được mệnh danh là “cách mệnh tiểu thuyết” chỉ diễn ra vào đầu thế kỷ 20 do Lương Khải Siêu (Liang Qichao) và một số học giả đề xướng và được thực hành bởi Lỗ Tấn và nhiều nhà văn hiện đại khác (tr. 75).  

          Nọa tính lịch sử

Quan sát kỹ sự phát triển của xiaoshuo từ xưa đến nay, MDG nhận thấy có một sự bám víu sáng tạo vào lịch sử. Lịch sử như một cây gậy cho xiaoshuo dựa vào và khi dùng quá lâu, cây gậy đó biến thành một thứ chân giả mà người ta không thể nào bỏ ra được. Đến nỗi nó trở thành một cái nợ. Có thể nói xiaoshuo Trung Hoa nợ sự phát triển của mình ở sử tính. Hơn thế nữa, trong khi chấp nhận cho xiaoshuo tồn tại, lịch sử lại bắt giữ xiaoshuo, cầm nó làm con tin, như là nô lệ. MDG gọi hiện tượng lạ thường đó là “nọa tính lịch sử” (historical inertia) hay “nọa tính tự sự” (narrative inertia). Nọa tính đó khống chế sự sáng tạo và đầu óc tưởng tượng của người viết xiaoshuo mãi cho đến giờ vẫn chưa khắc phục được. Bám víu vào lịch sử làm cho không gian hư cấu bị giới hạn lại, chủ đề và hình thức sáng tác không thoát ra khỏi khuôn khổ. Do đó, nọa tính không còn mang tính lịch sử nữa mà trở thành “nọa tính sáng tạo” (creative inertia) (tr. 65). Tại sao lại có nọa tính này? Đó là sự tôn trọng ý nghĩa lịch sử, tinh thần “thuật nhi bất tác”, sự nhấn mạnh quá đáng trên nghệ thuật mô phỏng, tình cảm khoái trá về những gì được lập lại của người Trung Hoa. Kim Thánh Thán có lẽ là người đầu tiên nhìn ra nhược điểm đó của xiaoshuo. Theo ông, khi dựa vào lịch sử, tác giả ít vận dụng óc tưởng tượng, ít sáng tạo, kéo lê ngòi bút theo nhân vật và biến cố đã xảy ra, chỉ thay đổi đôi chút. Rốt cuộc, tác giả hành động như một người phụ tá, chỉ biết truyền đi những thông điệp có sẵn.

          Tiểu thuyết lịch sử đạt đến đỉnh cao vào cuối đời Nguyên đến đời Minh rồi Thanh với sự ra đời của “tiểu thuyết chương hồi” (zhanghui xiaoshuo/chaptered novels) mà điển hình là những bộ truyện lừng danh như Tam Quốc Diễn Nghĩa (Sanguo Yanyi), Thủy Hử truyện (Shuihui Zhuan). Dấu vết lịch sử vẫn không mất đất đứng ngay cả trong những tác phẩm hư cấu đúng nghĩa như Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng, Nho Lâm ngoại sử (Rulin Waishi) và tiếp tục chế ngự cho đến thời hiện đại, trong các tác phẩm của Lỗ Tấn và cả trong nền văn chương thời Cộng Sản. Sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976), nhiều tiểu thuyết lịch sử lại xuất hiện trở lại ở Trung Cộng.

          Ảnh hưởng của lịch sử còn chi phối cả trên lãnh vực phê bình văn học. Hiện tượng này được gọi là thuật viết sử hư cấu (fictional historiography), theo đó, người ta dùng các sự kiện lịch sử để phân tích văn chương. Có nhà nghiên cứu còn săm soi đi tìm lai lịch của nhân vật. Chẳng hạn Trần Dần Khác (Chen Yinke), một sử gia hiện đại nổi tiếng, phát hiện ra rằng nhân vật Oanh Oanh trong “Oanh Oanh truyện” - một xiaoshuo thời Lục Triều - không phải là một cô gái xuất thân từ gia đình quý phái nhà lành (như truyện mô tả) mà là một ả đào. Một học giả khác, theo chân họ Trần, quả quyết thêm rằng đó là một gái làng chơi ngoại quốc (tr. 64).

          “Nọa tính lịch sử” hàm chứa một nghịch lý: một mặt, xiaoshuo phát triển nhờ bám vào lịch sử, nhưng mặt khác, nó phải chiến đấu chống lại ân nhân của mình để đạt đến cùng đích là hư cấu thuần túy. Đó là cuộc tranh đấu giữa nọa tính lịch sử và năng động sáng tạo. MDG quả quyết: nọa tính lịch sử được phản ảnh trong lý thuyết về hư cấu Trung Hoa (tr. 63).

          Tính thơ trong xiaoshuo

          MDG dành một phần khá dài đề bàn về bản chất thi ca trong hư cấu Trung Hoa.

          Trong truyền thống văn chương Trung Hoa, thơ chiếm địa vị sang cả trong lúc văn xuôi nói chung chỉ đóng một vai trò khiêm nhường như một cô hầu. Trong phần bàn về xiaoshuo, Ban Cố gợi ý cho biết xiaoshuo và thơ đều cùng từ Kinh Thi (Shijin)/Book of Songs) mà ra. Cả hai đều là sản phẩm do sự bộc phát tình cảm con người rồi được các viên tiểu quan triều đình sưu tập. Nhưng Khổng Tử và môn đệ ca tụng thơ và rẻ rúng xiaoshuo, đẩy nó vào hàng thứ yếu, xem nó như là một hình thức văn chương không nghiêm túc. Điều này, theo MDG, không khác gì với phương Tây. Mãi cho đến cuối thứ kỷ thứ 19, văn xuôi vẫn còn bị xem là đứa con ghẻ (tr. 102). Có lẽ vì thế, khi nghiên cứu văn chương Trung Hoa, người ta thường tách bạch thơ ra khỏi văn và bỏ quên một điều quan trọng: tương quan giữa văn và thơ trong sự tiến triển của xiaoshuo từ những chuyện đường phố đơn giản đến hình thức của hư cấu hiện đại.

          Tiến trình phát triển có ý nghĩa nhất và có tác động mạnh mẽ nhất trong văn chương Trung Hoa được MDG gọi là tiến trình thẩm mỹ hóa (aestheticization). Tiến trình này liên quan đến nhiều nghành khác nhau trong nghệ thuật Trung Hoa. Riêng về xiaoshuo, MDG nhấn mạnh đến ảnh hưởng lớn lao của thơ trữ tình trong tiến trình thẩm mỹ của nó. Khi nghiên cứu sự phát triển của hư cấu Trung Hoa, các học giả chỉ lưu tâm đến quan điểm “từ sử đến hư cấu” (history-to-fiction) cho rằng xiaoshuo phát triển chỉ từ sử ký. Nhiều học giả cho rằng, sử học có một ảnh hưởng hữu ích trên sự phát triển của xiaoshuo trong lúc ưu thế của thơ làm cho xiaoshuo trở nên còi cọc. MDG không phủ nhận vai trò của lịch sử, nhưng cho rằng chính sự quá lệ thuộc vào lịch sử tạo thành “nọa tính lịch sử”, làm ngăn trở sự phát triển. Trong lúc đó, thơ trữ tình bị trách là làm chậm sự phát triển của xiaoshuo, thì thực ra nó lại có một ảnh hưởng tích cực không ngờ. MDG quả quyết: trong khi tương quan thân hữu và hợp tác của xiaoshuo với lịch sử là không hoàn toàn tích cực thì tương quan không ổn định và thường căng thẳng với thi ca trữ tình không hoàn toàn tiêu cực. Tại sao? Tại vì thơ buộc xiaoshuo phải tranh chấp với áp lực của nó để tự mài sắc cảm quan thẩm mỹ của mình và cuối cùng, giúp xiaoshuo phát triển thành một nghệ thuật ngôn từ.

          MDG cho rằng một phần có ý nghĩa của quá trình thẩm mỹ hóa xiaoshuo là một chuyển động được hướng dẫn bởi những xung động vô thức thúc đẩy xiaoshuo vươn lên và tranh chấp với thơ. MDG mượn ý niệm về phân tâm học của Freud về ý thức và vô thức để hình dung tiến trình thẩm mỹ hóa xiaoshuo như sau:
-        ý thức hư cấu (fictinal conscious): xu hướng thẩm mỹ hướng về một loại hình văn chương riêng biệt, độc lập với thơ và lịch sử.
-        vô thức hay tiềm thức trữ tình (lyric unconscious or preconscious): khát vọng tranh chấp và vươn lên ngang với thơ trữ tình.
-        vô thức lịch sử (historical unconscious): sức mạnh quyết định thường xuyên ảnh hưởng lên các điều kiện thẩm mỹ của hư cấu.

Có thể nói hư cấu Trung Hoa được khai sinh do sự tương tác giữa ba sức mạnh sáng tạo đó. Lịch sử đưa ra những quy định có tính giáo điều để xiaoshuo tuân hành trong lúc thi ca trữ tình là mẫu mực lý tưởng để xiaoshuo tìm cách đồng hóa. (tr. 99)

Không có xung động thơ, xiaoshuo không thể phát triển thành một nghệ thuật ngôn từ. Điều đó tạo nên sự thay đổi mà MDG gọi là tiến trình thi hóa (poeticization), hay nói một cách khác là chuyển động thẩm mỹ hóa xiaoshuo dựa theo thơ trữ tình (tr. 98). Thi hóa đưa đến “hư cấu thơ” (poetic fiction). “Hư cấu thơ” là cụm từ MDG sáng tạo ra để chỉ loại văn xuôi hư cấu với đặc tính của thơ trữ tình. Đó là một cơ cấu nằm sâu bên trong xiaoshuo. “Hư cấu thơ” có thể tìm thấy trong một số xiaoshuo thời Lục Triều và ở đời nhà Đường. Nhưng nỗ lực cụ thể trong việc sáng tạo “hư cấu thơ” chính là bắt đầu ở Kim Bình Mai, đạt đến đỉnh cao ở Hồng Lâu Mộng mà ông gọi là một loại “truyện thơ” (poetic novel), rồi được tiếp nối bởi các tác phẩm của Lỗ Tấn và tiếp tục đến ngày nay. MDG quả quyết, nếu không có tiến trình thi hóa, sự chuyên chế của lịch sử sẽ không thể nào vượt qua và hư cấu thuần túy Trung Hoa sẽ không thể nào chín muồi vào thế kỷ thứ 16 (tr. 103).

          Trong điều kiện đó, các tác phẩm hư cấu Trung Hoa phát triển một kỹ thuật độc đáo mà MDG gọi là “poetic sandwiches” (bánh kẹp thơ). MDG dùng thuật ngữ này để diễn tả sự kiện truyện Tàu nào cũng có bài thơ mở đầu, bài thơ kết thúc cùng với một hay nhiều bài thơ ở giữa truyện. Không những thế, thơ còn được dùng ở đầu mỗi chương thay thế cho tựa đề. Trong những tác phẩm với phẩm chất nghệ thuật cao, tác giả không còn trích thơ của người khác mà sử dụng chính thơ mình và biến chúng thành một phần của tác phẩm. Những câu thơ như thế khi thì dùng để tả người và sự kiện khi thì chứa đựng ý kiến của tác giả khi thì tóm tắt chương trước và có khi là một lời bình phẩm luân lý. Chúng trông có vẻ như không quan trọng mấy đối với câu chuyện và thường được xem như là cách tác giả muốn đối sánh với nhà thơ, nhưng nhìn ở một góc cạnh khác, rõ ràng là chúng biểu lộ sự hiện diện của tiềm năng thơ trong việc sáng tác truyện hư cấu (tr. 107).          
   
          Cốt lõi của nghệ thuật hư cấu, theo MDG, là “một cấu trúc hình thức sản xuất ra được những ý nghĩa phụ trội nằm ngoài những ý nghĩa đã có sẵn” (tr. 122). Ý nghĩa phụ trội mà MDG đề cập ở đây, chính là cái mà ông gọi là “giá trị ý nghĩa thặng dư” (surplus signifying value), theo đó, một câu chuyện chỉ có thể trở thành nghệ thuật hư cấu nếu nó chứa đựng một cái gì vượt ra ngoài bản thân nó. Điều đó, theo MDG,  cho thấy mối liên quan mật thiết giữa xiaoshuo và thơ truyền thống Trung Hoa. Trong thơ truyền thống, giá trị thặng dư trong một diễn ngôn gọi là “gợi ý thẩm mỹ” (aesthetic suggestiveness) được diễn tả qua một số khái niệm phổ biến như: ý tại ngôn ngoại, huyền ngoại chi âm, tượng ngoại chi tượng, hàm súc.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét