Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

Phạm Thảo Nguyên - Đọc Thơ Đăng Bảo Đài Sơn của Vua Bụt Trần Nhân Tông

Phạm Thảo Nguyên

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau hai lần lãnh đạo quốc dân phá tan giặc Nguyên, lui về làm Thái Thượng Hoàng, nhừơng ngôi cho con là vua Anh Tông, tuy ngài còn giúp vua nhiều việc triều chính. Khi nhà Nguyên đã hết hẳn ý định xâm chiếm nước ta, ngài bỏ quyền thế nơi kinh thành, vào dẫy núi Yên Tử tỉnh Quảng Ninh, tu hạnh đầu đà tới đắc đạo. Ngài thành lập thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền thuần tuý Việt đầu tiên, trở thành Vua Bụt Sơ Tổ Trúc Lâm.


Ta hãy đọc bài thơ Đăng Bảo Đài Sơn của ngài dưới đây (theo bản của Hòa Thượng Thích Thanh Từ, trong Tam Tổ Trúc Lâm). Có thể nói bài này là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của thơ thiền Đại Việt.

登 寶 臺 山
地 僻 臺 逾 古 時 來 春 未 深
雲 山 襄 遠 近 花 逕 半 晴 陰
萬 事 水 流 水 百 年 心 語 心
倚 欗 橫 玉 笛 明 月 滿 胸 襟

Phiên âm: Đăng Bảo Đài Sơn

Địa tịch đài du cổ
Thời lai xuân vị thâm
Vân sơn tương viễn cận
Hoa kính bán tình âm
Vạn sự thuỷ lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm
Ỷ lan hoành ngọc địch
Minh nguyệt mãn hung khâm

Thơ dịch: Lên núi Bảo Đài

Đất hẹp đài cổ vượt lên
Theo mùa, xuân tiết mới nguyên vừa về
Ngõ hoa sáng, rợp hai bề
Mây vờn xa núi, mây kề cận bên
Việc đời nước chẩy, nước lên
Trăm năm lòng sáng biết thêm lòng tà
Tựa lan nâng sáo thổi ra
Đầy lòng đầy ngực ta là sáng trăng.

Bình chú:
僻 :tịch = eo hẹp
襄 : tương = giúp cho

Một đêm trăng sáng, trên ngọn Bảo Đài, trong dẫy núi Yên Tử, vua Bụt ngắm trăng, thổi sáo. Ngài viết bài thơ Lên Ngọn Bảo Đài, đẹp huyền diệu trong từng câu chữ:
Với trí tuệ của bậc liễu ngộ, mọi sự đều thấy theo nhiều khía cạnh khác nhau, diễn tả bằng hai lối nhìn đối kháng, không phiếm diện,một mặt:
Đài cổ trên đỉnh núi, vì ngọn núi thường ít đất nên trông như nổi cao hơn lên (so với chính nó)
Thời tiết luân chuyển mới vào đầu mùa xuân (vừa qua mùa đông)
Ngõ hoa có ánh trăng chiếu sáng là có bóng rợp đi theo.

Mây vờn quanh núi có lúc xa, mà cũng có lúc gần. Nói xa, gần là đối đãi, so sánh.

Mọi việc trên đời như dòng nước mới vừa trôi đi, là đã có nước khác tới. Cho nên không có hạnh phúc cũng như đau khổ dài lâu.

Trở lại tâm con người, vì có tâm thực nên mới biết có tâm vọng. Có lòng sáng, nên mới biết có lòng tà. Trăm năm cuộc đời tu chỗ đó.

Ngài nhìn chung quanh cảnh nào cũng nên thơ và đều thấm đẫm ý đạo, giúp thực chứng mà không cần đến ý niệm trừu tượng: Ta có thể tu bằng việc thực nghiệm cảm thọ trong cảm thọ. Bạn không tin ư? Xin đọc hai câu kết:
Hay thổi sáo lên đi ! Vừa thổi hết hơi ra là không khí, ánh trăng, ngoài kia tràn vào đầy lòng, phủ đầy ngực áo: Ta hoà mình vào cả vũ trụ mênh mông đầy ánh trăng đó.

Một hình tượng vô ngã vô cùng đẹp. Mà “Vô ngã là niết bàn”.

PTN

*Theo phong hoá Á Đông, nâng ngang sáo là để thổi. Cũng như người ta “Mời nâng ly” là mời uống rượu. Hơn nữa, vua Bụt là một vị Bụt, là người đắc đạo, người hằng giác, hằng sống trong chánh niệm, không bao giờ nâng sáo lên mà không thổi. Khi thổi sáo thì phải thổi ra rất mạnh thì sáo mới ngân lên tiếng nhạc. Hơi vừa thổi ra hết sức thì lập tức không khí được hút vào rất nhanh. Thổi sáo chính là thở ra thở vào khuếch đại.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét