Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

TỪ THỰC DÂN ĐẾN CỘNG SẢN

Nguyên tác Anh ngữ: Hoàng Văn Chí
Bản dịch: Mạc Định


Chương 10
KIỂM-THẢO

Từ năm 1946 đến năm 1950, Việt Cộng thường tổ chức những buổi "phê bình và tự phê bình" rất bí-mật và chỉ dành riêng cho đảng-viên. Hồi ấy Ðảng đã tự ý giải tán và rút lui vào bí-mật, bề ngoài vẫn có vẻ dân chủ. Vì chỉ giới hạn trong một số ít đảng-viên, và trước khi "phê và tự phê" bao giờ cũng điều-tra cặn kẽ, nên kết quả rất khả-quan. Nhiều khi đảng-viên bị "phê" thành thật nhận lỗi, không cần đến sự "bồi dưỡng" của tập thể. Nhưng từ 1950 trở đi, sau khi liên lạc trực tiếp với Trung Cộng, Việt Cộng thường tổ-chức những buổi kiểm-thảo cho cả đảng-viên lẫn cán-bộ ngoài đảng. Phương pháp này từ Hoa Nam, không phải từ Bắc-Kinh, tràn sang Việt-nam và "kịch-liệt" hơn phương-pháp "Phê và tự phê" nhiều lần. Người bị "phê" khoanh tay đứng trước hội-nghị trong khi mỗi người lần lượt đứng lên nêu khuyết-điểm của anh ta. Mọi người đã biên sẵn những khuyết-điểm nhận thấy nơi anh và dở sổ ra đọc. Sau đó hội-nghị phân tách và suy-luận để đạt tới kết luận là anh chàng bị "phê" quả có những tư-tưởng phản-động rồi dùng "áp-lực tập-thể" bắt anh ta phải thú-nhận khuyết điểm đã nêu ra.


Kiểm-thảo thường áp-dụng một số chiến-thuật rất đặc biệt mà nhân-dân đặt tên như sau:

1. - Chụp mũ nghĩa là dùng áp-lực hoặc đe dọa bắt buộc người bị "phê" phải nhận những tội lỗi mà anh ta không hề phạm, và anh ta không được phép tự bào chữa. Không khác gì một người không muốn đội mũ mà người khác cứ cầm mũ chụp đại lên đầu.

2. - Truy-kích nghĩa là chất vấn người bị phê theo kiểu công-an lấy cung một người bị can, càng chối càng hỏi vặn, không để cho thoát. Danh từ truy kích gợi ý nghĩa đuổi bắt một tư-tưởng phản-động như săn một thú dữ, hoặc đuổi bắt một tên sát nhân. Ðôi khi cuộc kiểm-thảo kéo dài đến mấy ngày liền vì đương sự "ngoan cố" không chịu nhận lỗi.

3. - Suy-luận xốt-xí nghĩa là căn cứ vào một hiện tượng rất nhỏ mọn rồi cứ suy-luận dần dần để kết thúc là người bị phê quả là một tên phản-động lợi hại. Sau đây là một tỷ dụ của lối suy-luận xốt-xít do một hiệu-trưởng trường trung-học kể lại:

Trong một buổi kiểm-thảo do học-sinh tổ-chức, một giáo-sư bị nêu "hiện-tượng" là đã cho một học-sinh một điểm quá cao. Bản kết án vị giáo-sư phạm tội đại khái như sau :

Hiện tượng : Anh chấm bài anh X và cho anh ấy một điểm quá cao.

Suy-luận : (1) Anh tâng bốc anh X để cốt ý gây chia rẽ giữa anh X và các học sinh khác trong lớp ; (2) học sinh đã chia rẽ thì chỉ lo cãi lộn, không chịu học hành ; (3) vì không lo học nên trình-độ kém ; (4) trình-độ học sinh kém thì phụ-huynh học sinh không bằng lòng ; (5) họ sẽ bảo giáo-dục dưới chế độ Cụ Hồ không bằng giáo-dục thời Pháp-thuộc ; (6) và họ sẽ cho rằng chế-độ thực-dân tốt hơn chế-độ dân-chủ cộng-hòa , (7) khi anh cho anh X một điểm quá cao, anh có dụng ý làm tay sai cho thực-dân Pháp.

Kết luận : Anh là tay sai đắc lực của thực-dân Pháp và của đế-quốc Mỹ.

Những cuộc sỉ-vả thầy giáo như vậy có thể nói là thường xuyên và không mấy thầy thoát khỏi.

Vì vậy nên hồi năm 1950-51 vô số giáo-sư bỏ hậu-phương chạy vào thành.

4. - Dao to búa lớn nghĩa là dùng những chữ rất thậm tệ và đôi khi rất tục tĩu để sỉ vả người bị phê, lấy cớ là để tiêu trừ những tư tưởng phản động nằm sâu trong đầu óc anh ta. Câu chuyện sau đây là một điển hình.

Một cơ-quan chính quyền mở cuộc kiểm thảo trong nhà một nông dân và hò hét om xòm. Bà chủ nhà thấy nhiều người to tiếng vội vã chạy vào, thấy một người lặng yên khoanh tay trong khi nhiều người khác đỏ mặt tía tai sỉ vả thậm tệ. Bà sợ họ có thể đánh nhau và không khéo xẩy ra án mạng nên bà ta ôn tồn can : "Xin các ông bớt giận làm lành, ai mà chả có điều không hay không phải. Cùng là đồng bào với nhau và cùng làm một sở cả, xin các ông chín bỏ làm mười cho nó vui vẻ cả !" Bà chủ nhà có ngờ đâu đấy chỉ là một cuộc kiểm thảo hàng tuần mà luân phiên mỗi người phải phê-bình và để người khác phê bình mình.

Cuộc đời thân ái, đề huề với anh em cùng sở trong suốt một tuần rồi lại một lần mắng mỏ nhau thậm tệ mang lại cho nhiều người cảm tưởng sống một lúc hai cuộc đời đại khái giống nhân vật trong phim quái-đản "Bác sĩ Jerkins và ông Hyde".

5. - Khóc đám ma. Ngay từ hồi đầu đã có lệ người bị kiểm-thảo rơm rớm nước mắt để tỏ cho hội-nghị biết là nhờ sự phê-bình của tập-thể mình đã giác-ngộ tội lỗi và vô cùng ân-hận. Nhưng đôi khi, thường xảy ra trong đám học-sinh, có người đã bộc lộ rồi nhưng cũng có mặt để "viện-trợ" anh em, bằng cách khóc nức nở. Phần đông họ là những thanh-niên mới "ngộ đạo" muốn truyền "đạo" cho kẻ khác để "cứu nhân độ thế". Họ có cảm tưởng là sứ mạng trên thế-gian sẽ không thành, nếu họ không cải hoán được một người theo chân lý Mác-xít. Vì vậy nên họ ráng sức làm cho những người phạm khuyết-điểm phải đấm ngực xưng tội và phải chấp nhận lời dạy của Bác Mao và Bác Hồ. Có lúc họ vừa khóc nức nở, vừa than thân trách phận là nhiệm vụ Ðảng đã giao phó mà làm không thành. Họ tiếc là Ðảng đã tận tình giáo-huấn mà nhiều người cứ như "nước đổ đầu vịt". Họ khóc một cách thiết tha vì hơi một chút là òa ra khóc vì tinh thần họ lúc nào cũng quá căn thẳng. Có lẽ thiếu thốn về sinh-lý và học-tập chính-trị suốt ngày đêm đã khiến những thanh-niên mới lớn lên dễ dàng xúc động và cuồng tín đến tột bực. Sự thực đã có nhiều người điên thực. Ở trường Chính-trị Quân-sự Việt Bắc, chỉ riêng một khóa 1952 đã có đến tám sinh viên hóa điên. Ngay bà Phạm-văn-Ðồng, mới hơn 20 tuổi và bị kẹt ở Khu Năm trong mấy năm, hồi ông Ðồng được triệu lên Việt Bắc làm thủ-tướng, cũng đã bị điên thực-sự.

Lúc đầu thì họa hoằn mới có người khóc, nhưng về sau khóc trở thành thông lệ của mọi cuộc kiểm-thảo. Có người nói là Ðảng có phép mầu nhiệm làm người lớn trở thành con nít trở lại. Sau cùng "khóc tập-đoàn" trở thành một phương-tiện, một áp lực tập-thể, để thúc đẩy người bị kiểm-thảo mau mau bộc-lộ. Có một lần nguyên cả một lớp học trường Nguyễn-thượng-Hiền kéo đến đông đủ để "viện trợ" một học sinh viết bản kiểm thảo, và vừa qua khỏi ngõ họ bắt đầu khóc "hu hu" từ ngoài vào khiến chủ nhà hoảng-hốt tưởng có chú học sinh nào tản cư chết trong nhà mình. Khóc theo lối "viếng đám tang" như vậy thực ra chẳng có hiệu quả chút nào và trông thấy không thể nhịn cười được; nhưng không ai dám cười trước mặt những người khóc vì trông thấy dáng điệu uy-nghiêm của họ, mọi người đều biết là họ đương "hành lễ" theo một tập-tục mới của họ. Cười trước mặt họ, có thể coi là "báng đạo" của họ. Mà cũng vì không ai dám cười, nên thông-lệ "khóc" kéo dài trong luôn mấy năm từ 1951 đến 1953.

Có hai giả-thuyết về vấn-đề phát sinh ra phương-pháp kiểm-thảo. Có người cho kiểm-thảo là một hình-thức sai lạc của chỉnh-huấn, hồi ấy đã áp-dụng ở Bắc-Kinh nhưng chưa phổ-biến xuống Hoa Nam. Theo hương-pháp của ông Mao thì mọi chính-sách mới đều phải phổ-biến từ từ, theo kiểu vết dầu loang. Như vậy có hơi chậm chạp nhưng lúc nào Ðảng cũng nắm vững tình hình và phương-pháp áp dụng có thể đồng đều cho cả nước. Vì vậy nên có người cho rằng trong khi phương-pháp kỳ-diệu của ông Mao chưa xuống đến Hoa-Nam đã có cán-bộ ở Hoa-Nam chỉ nghe nói đại khái đã hăng hái muốn áp-dụng ngay nên phát sinh ra phong-trào kiểm-thảo. Lại có thuyết nói rằng kiểm-thảo đích thực phát xuất ở Hoa Nam và đã được thịnh hành ở Hồ Nam hồi ông Mao mới dấy nghiệp ở đấy. Rồi từ Hoa Nam, phương-pháp kiểm thảo tràn qua Bắc-Việt, với hình-thức còn đang thô sơ và ấu-trĩ, trong khi ở Bắc-Kinh, Trung-cộng đã phát-triển một hình-thức mới, tinh-vi gấp bội vì đã được tu-sửa trong gần hai mươi năm ở Diên-An.

Kể ra thì chẳng biết giả-thuyết nào đúng, nhưng cũng có thể là trong khi nóng lòng chờ đợi phương-pháp tinh vi ở Bắc-Kinh, một số cựu cán-bộ ở Hoa-Nam đã tạm thời áp-dụng phương-pháp cổ-điển mà họ đã kinh-nghiệm từ ba mươi năm về trước. Kiểm-thảo và chỉnh-huấn thực ra chỉ khác nhau về phương diện kỹ-thuật và sự khác biệt giữ hai phương-pháp mới và cũ chứng tỏ Trung-cộng đã tiến bộ rất nhiều về tâm-lý nhân-dân trong vòng ba mươi năm. Họ tiến-bộ nhanh một phần cũng tại họ được thừa hưởng một nền văn-hóa sáng láng của tổ-tông đã để lại. Nhưng mặc dầu không biết giả-thuyết nào đúng và mặc dầu có nhiều khuyết-điểm, mọi người đều phải công nhận phong-trào kiểm-thảo đã thay đổi rất nhiều tính-chất của người Việt, trước kia niềm nở, cởi mở bao nhiêu thì bây giờ kín-đáo, dè dặt bấy nhiêu. Gặp nhau ở quán cơm hay ở nhà ăn công-cộng, mọi người cứ cúi mặt xuống, và nếu gặp nhau ngoài đường, chỉ liếc mắt mỉm cười. Có dư-luận cho rằng người Việt bây giờ "phớt hơn cả người Anh" và "kín đáo hơn người Nhật". Sự thực thì không khác người Anh và người Nhật, người Việt đã trở thành dân "đảo quốc", nhưng với ý-nghĩa là mỗi người tự coi mình như một hòn đảo, sống riêng trong "hòn đảo" của mình, không liên hệ với những "hòn đảo" chung quanh, tức là bạn-bè, hàng xóm láng giềng. Người nào cũng chỉ sống với nội-tâm và chỉ giao-thiệp với người khác trong trường-hợp bất-đắc-dĩ. Mọi người, ngay cả cán-bộ cao-cấp, đều phải kín-đáo xắp-xếp thân-thuộc, bạn-hữu, đồng-nghiệp thành hai loại: loại có thể tâm sự được vì dò dẫm trong một thời-gian thấy họ không mang những ý-kiến không chính-thống của mình hót với người khác, và một loại cần phải coi chừng. Trong trường-hợp bắt buộc phải phát-biểu ý-kiến trước công-chúng thì phương-pháp an-toàn nhất là cứ nói in hệt như Ðảng mới nói trong những số báo mới nhất. Chính vì vậy mà mặc dầu ai nấy đều túng thiếu, báo chí của Ðảng vẫn bán chạy như tôm tươi và cũng vì vậy mà ai nấy bận bịu suốt ngày, tối đến vẫn phải chịu khó đi họp, không dám sót một buổi. Hồi ấy mọi người cho rằng "bỏ một buổi họp là đủ lạc-hậu" nghĩa là có thể ăn nói sai với chính-sách mới nhất của Ðảng.

Phải thành-thực công nhận là ăn cơm nắm, muối vừng, không khổ, mà chỉ khổ nhất là phải phân chia bà con, bạn bè thành hai loại riêng biệt, phải nghiên cứu báo chí của Ðảng viết theo lối "chách chách vào rừng" (lời ông Hồ phê bình văn chương cộng-sản) và phải năng đi họp nghe thảo-luận chính-trị rức đầu rức óc, mà vẫn không hiểu cán-bộ nói lảm nhảm những gì.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét