Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

ĐỌC “CA KHÚC TƯỞNG NIỆM” (REQUIEM) CỦA ANNA AKHMATOVA

Nguyễn Minh Cần


Requiem (Ca khúc Tưởng niệm) là một trong những sáng tác nổi bậc nhất của nhà thơ A. Akhmatova. Bà đã phải gánh chịu biết bao khổ nạn trong những năm khủng khiếp dưới chế độ độc tài toàn trị. Requiem là tiếng khóc thảm thiết của người vợ, người mẹ, bị tước đoạt mất chồng, mất con -  tiếng khóc không chỉ riêng cho nhà thơ, mà cho tất cả mọi bà mẹ, mọi bà vợ, mọi ông bố, mọi người con, mọi người yêu có người thân đang bị đày đọa oan uổng trong các nhà tù của chế độ bất nhân. 

 Tranh của họa sĩ N.Altman vẽ A,Akhmatova. Năm 1914



Trong mấy câu “Thay lời nói đầu”, nhà thơ nhắc đến  “những năm khủng khiếp thời Ezhov”, tức là cái thời đen tối nhất ở trên đất nước vĩ đại có tên gọi là Liên Xô dưới sự cai trị tàn bạo của Stalin, nơi đã diễn ra nạn diệt chủng của những kẻ cầm quyền đối với nhân dân nước mình. 



Thời Akhmatova làm bài trường ca này là vô cùng khắc nghiệt, cho nên lắm khi bà phải nói bóng gió. Chẳng hạn, trong “Thay lời nói đầu” ta thấy có một câu hầu như không ăn nhập gì lắm với đề tài: “Một bận, có ai đó “nhận ra” tôi”, nhưng nếu chú ý đến hai chữ “nhận ra”  bà đặt trong ngoặc kép thì có thể hiểu nhà thơ ngầm ý là có kẻ mật thám nào đó theo dõi, nhận  biết được bà. Điều này nói lên thân phận khốn khổ của nhà thơ – ngay cả khi đứng xếp hàng cạnh nhà tù để chờ đến giờ thăm nuôi con, bà cũng bị “người ta” theo dõi, kiểm soát! Mặc dù vậy, nhiều khi nỗi đau quá sức chịu đựng, cảm xúc quá mạnh, bà không thể kìm được mình thì bà vẫn bộc lộ tâm tư thẳng thừng, không còn biết sợ là gì nữa.

Trong bốn câu thơ nhập đề, Akhmatova nói rõ là cả cuộc đời mình, bà luôn luôn gắn bó với số phận của nhân dân và đất nước thân yêu ngay cả trong những thời kỳ khủng khiếp nhất:
“Không, tôi không đứng dưới bầu trời khác lạ,
Không một cánh chim khác lạ nào che chở,
Hồi đó, tôi đã cùng với nhân dân tôi
Ở nơi mà nhân dân tôi, khốn thay, đã từng ở.”

Chính vì thế bà đã khóc mà không chút e sợ cho số phận của “nước Nga vô tội” và nhân dân Nga dưới chế độ cực quyền:
“Còn nước Nga vô tội thì quằn quại
Dưới những chiếc ủng đẫm máu
Và dưới những bánh xe tang đen ngòm.”

,,, “Tôi luôn luôn nhớ đến họ khắp nơi khắp chốn,
Cả trong cơn hoạn nạn mới tôi cũng sẽ không quên họ.
Và nếu người ta bóp miệng khốn khổ của tôi,
Nơi qua đó cả trăm triệu người đang gào thét.”

Mấy chữ “cả trăm triệu người” là nhà thơ ngụ ý toàn dân Nga (vì theo số liệu điều tra dân số Liên Xô năm 1939, toàn Liên Xô có 170 triệu 557093 người, riêng nước Nga có 99 triệu 591520 người). 

Trước mắt nhà thơ luôn luôn hiện lại hình ảnh những bà mẹ, bà vợ, anh chị em, người yêu... của các tù nhân đang cùng với bà đứng rục cẳng xếp hàng dài vô tận cạnh nhà tù Krestư ở Leningrad để chờ đến giờ thăm nuôi. Cái khổ nhục này được mô tả trong mấy câu thơ bà tự nói với mình:
“Giá mà chỉ cho mày xem, hỡi cô gái tinh nghịch,
Được tất cả bạn bè đều mến thương,
Nữ chúa bày trò vui nhộn ở Hoàng thôn,
Điều gì đã xảy đến trong đời mày.
Là người xếp hàng thứ ba trăm với giỏ nuôi tù
Mày sẽ đứng rục cẳng dưới khu Thánh giá,
Đôi mắt tràn lệ nóng bỏng của mày
Làm băng giá đầu năm tan chảy.”

Trong bài trường ca, tội ác của chế độ độc tài bất nhân đã bị bóc trần không chút ngần ngại trong những câu thơ đầy chua xót:
“Trước nỗi đau khổ lớn lao này,
Núi cao gập mình, sông dài ngừng chảy,
Nhưng những then cửa nhà tù vẫn chốt chặt.
Còn sau cánh cửa là những “hang tù”
Và nỗi buồn đứt ruột.”

“Hồi đó, chỉ có người chết mỉm cười
Vui mừng được yên ổn.
Leningrad như một vật thừa vô dụng
Đung đưa cạnh những nhà tù.” 

 Anna Akhmatova thời thanh xuân

Nỗi buồn của những cuộc biệt ly với chồng, con, người thân, với tâm trạng vô vọng rằng sẽ có ngày tái ngộ, với cảm giác bị tách ra, bị cô lập khỏi mọi người, lạnh lẽo, cô đơn, côi cút được phản ánh rõ nét trong những câu thơ vang lên rất thê thảm làm người đọc khó cầm được nước mắt:
 “Sông Đon yên tĩnh chảy êm đềm, 
Ánh trăng vàng nhợt lọt vào nhà,
Đội mũ lệch, trăng lưỡi liềm
Vào thấy một chiếc bóng chơ vơ.
Người đàn bà này ốm đau khốn khổ,
Người đàn bà này quạnh quẽ đơn côi.
Chồng nằm dưới mộ, con ngồi trong tù.
Xin hãy cầu nguyện cho tôi.”

Trong bài Đề tặng” mô tả tâm trạng, tình cảm và cảm xúc của những người xếp hàng mệt mỏi đứng chờ hàng ngày cạnh nhà tù với cảm giác không lối thoát, vô vọng, cho dù chỉ một tý xíu hy vọng cỏn con cũng không dám nghĩ đến. Cả cuộc đời họ chỉ còn phụ thuộc vào... án quyết sắp được tuyên bố đối với người thân yêu của mình!  Mà án quyết đó chắc chắn sẽ mãi mãi tách rời những người thân yêu đó khỏi tổ ấm gia đình, khỏi bố mẹ, vợ con, người yêu... Nhà thơ đã đưa ra một hình ảnh tương phản để diễn đạt tâm trạng của mình cũng như của những người đang cùng bà đứng xếp hàng chờ đợi:
“Vì ai gió mát hắt hiu?
Vì ai mơn trớn ráng chiều hoàng hôn?
-       Chúng tôi nào có biết!
Khắp nơi chỉ nghe tiếng khóa tù đáng ghét
Rít lên ken két
Và bước chân nặng trịch của lính canh.”

“Gió mát hắt hiu” cũng như “ráng chiều mơn trớn” là những niềm hạnh phúc cỏn con, những giây phút tự do mong manh mà thiên nhiên hiến tặng cho con người. Nhưng những thứ hạnh phúc, tự do đó, dĩ nhiên, không thể nào đến được với những người đang bị đày đọa trong tù, mà cũng không đến được với những người đang rục cẳng đứng chờ ở ngoài  nhà tù, nóng lòng muốn được vào thăm nuôi người thân hay hồi hộp đợi chờ án quyết. Những người này chỉ nghe thấy những âm thanh khó chịu, “đáng ghét” của “tiếng khóa tù” “rít lên ken két”“những bước chân nặng trịch của lính canh” mà thôi.
Còn khi án quyết đã tuyên bố:
“Án quyết vừa tuyên... Tức thì dòng lệ trào lên,
Tôi đã bị tách khỏi mọi người,
Như thể sự sống bị rút ra từ con tim đau đớn,
Như thể bị quật nhào ngã nằm sấp mặt,
Nhưng vẫn đi... lảo đảo... cô đơn...”

Anna Akhmatova, con người mảnh mai, xinh đẹp và tài hoa như thế mà phải chịu đựng biết bao khổ nạn dưới chế độ toàn trị! Đọc những câu thơ của bà, độc giả cảm thấy dường như nhà thơ tự đặt cho mình câu hỏi: Làm sao một đất nước vĩ đại, như nước Nga, mà có thể cho phép một chế độ quỷ quái, mất nhân tính như thế tồn tại được? 

Và nỗi khổ đau cho cái riêng của nhà thơ xoắn quyện với nỗi đau cho cái chung của cả dân tộc.
“Họ bắt con đi vào lúc rạng sáng,
Mẹ đi theo con như bước theo quan tài.
Trong buồng tối lũ trẻ khóc lóc,
Ngọn nến lụi dần trên bàn thờ Đức Mẹ,
Môi con đặt lên tượng thánh giá lạnh,
Trán con đầm đìa mồ hôi chết chóc...
Trời ơi, mẹ không thể nào quên được!”

Nỗi khổ nạn đã lên đến điểm đỉnh, người đàn bà dường như không còn nhận thấy gì quanh mình được nữa. Cuộc đời bà đã trở thành một cơn ác mộng bất tận, và những câu thơ sau nói lên tâm trạng đó của bà:
“Không, không phải tôi, mà là ai khác đang đau khổ.
Tôi không thể chịu được như thế, còn những gì đã xảy ra 
Xin hãy đậy kín lại dưới những tấm dạ đen
Và hãy cất đi những chiếc đèn...
                                                     Đêm. ” 

Người đọc tự hỏi: Có thể nào một con người bình thường gánh chịu nổi những khổ nạn mà số phận đã giáng xuống cho bà? Chỉ một phần nhỏ những khổ nạn đó có khi cũng đủ làm cho người ta suy sụp, điên lên và muốn chết. Nhưng bà vẫn sống... Bà tưởng nhớ lại thời thanh xuân khi bà còn xinh tươi, vui vẻ, sống hồn nhiên, vô tư lự, và bà nói chuyện với chính mình... Nhưng sự ly biệt với cậu con trai độc nhất, những nỗi lo âu cho con mình, những ký ức về chồng, con lâm nạn làm cho bà không chịu được nữa. Bà muốn “giết chết hẳn trí nhớ” để nó không còn giày vò, không còn đè nặng lên trái tim của bà...

“Hôm nay mẹ có nhiều việc phải làm:
Mẹ phải giết chết hẳn trí nhớ,
Phải làm sao cho tâm hồn hóa đá,
Và phải học lại cách sống”.

Những khổ đau quá lớn đã tước mất ở bà lòng mong muốn tự nhiên nhất của con người là muốn sống. Trong tình trạng thảm hại hiện hữu của bà thì cuộc sống đối với bà không còn ý nghĩa gì nữa. Bởi thế nhà thơ cầu xin Thần Chết “tới ngay bây giờ”, vì nghĩ rằng cái chết sẽ giải phóng cho bà mọi khổ đau.
“Trước sau gì ngươi cũng tới. Sao không tới ngay bây giờ?
Ta đang chờ ngươi đây. Ta đau đớn lắm rồi.
Ta đã tắt đèn và mở toang cửa cho ngươi,
Ngươi thật giản dị và tuyệt vời.”

Nhưng Thần Chết không tới mà “cơn điên dại” lại đang tới gần... Trong thâm tâm, nhà thơ cảm thấy “cơn điên dại” sẽ đoạt lấy tất cả những gì trước đây là quý báu nhất của bà, nhưng trong hoàn cảnh này thì dường như nó sẽ giúp bà quên đi cái thực tại độc ác, mất hết tình người đã ập xuống và đè nặng trên số phận của bà.

“Cơn điên dại đã phủ cánh
Lên một nửa tâm hồn tôi,
Vừa chuốc rượu nồng cháy,
Vừa quyến rũ tôi xuống thung lũng đen ngòm.”

 Anna Akhmatova (1889-1966)


Nỗi khổ đau vô hạn của con người dưới chế độ mất nhân tính được biểu hiện rõ nét trong những câu thơ cao nhã, tuyệt vời của Akhmatova. Vì thế, có thể nói trường ca Requiem mãi mãi là bản cáo trạng đối với các chế độ dựa trên bạo lực và thú tính trên trần gian đầy tội ác này. Dù vậy, toàn bài trường ca vẫn toát lên tình yêu thương nồng thắm và sự cảm thông chân thành giữa những con người khổ đau cùng chung số phận, mà không hề có chút bóng dáng nào của lòng căm thù và nỗi uất hận. 

“Và mẹ cầu nguyện chẳng riêng gì cho mẹ,
Mà cho tất cả những ai cùng xếp hàng với mẹ cạnh nhà tù
Cả trong giá buốt mùa đông, cả trong nồng nực mùa hè
Dưới bức tường đỏ rực chói chang.”

Thơ của Akhmatova giản dị nhưng có một sức mạnh lạ thường dường như xoáy sâu vào lòng người đọc làm con tim thắt lại, tâm hồn rung động, và người đọc không thể dửng dưng, vô cảm được. Nỗi đau lớn lao và những khổ nạn ê chề của nhà thơ làm người đọc thấm thía sâu sắc toàn bộ tính bi kịch của của cuộc sống con người dưới chế độ độc tài toàn trị./.

Moskva, mùa đông 2011
Nguyễn Minh Cần



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét