Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

TỪ THỰC DÂN ĐẾN CỘNG SẢN

Nguyên tác Anh ngữ: Hoàng Văn Chí
Người dịch: Mạc Định

Phong trào Sô-Viết Nghệ An
Về tới Moscou, ông Hồ được đệ-tam Quốc-tế phái sang Berlin hoạt-động cho Liên-hiệp Phản-Ðế, nhưng chẳng bao lâu, ông lại được phái sang Bangkok là nơi đệ-tam Quốc-tế mới đặt trụ-sở Nam-Hải Vụ. Ông Hồ làm việc dưới sự chỉ huy của một đảng-viên cộng-sản Pháp tên là Hilaire Noulens. Ông phụ-trách tuyên truyền và tổ chức Việt-kiều ở mấy tỉnh đông-bắc nước Xiêm, gần biên giới Lào. Việt-kiều ở Xiêm khá đông và gồm có hai loại. Một loại gọi là "An-nam cũ" là con cháu những người theo chúa Nguyễn chạy sang Xiêm từ cuối thế-kỷ thứ 18. Loại thứ hai là "An-nam mới" gồm những người buôn bán ở Lào, có dịp sang Xiêm, rồi thấy ở Xiêm dễ sinh nhai, nên ở luôn bên ấy. Ngoài ra còn một số cách mạng trốn Pháp, chạy sang Lào rồi qua Xiêm. Nhiều người đã quên tiếng Việt và đã sinh hoạt in hệt người Thái, nhưng họ vẫn tha-thiết với quê hương đất tổ. Ðối với họ, ông Hồ lại tái diễn chiến lược của ông đã áp-dụng với Việt-kiều ở Tàu.

Một hôm ông Hồ đang hoạt-động ở miền đông-bắc nước Xiêm thì một người lái buôn cùng làng bắt gặp và nhận ra ông. Người này về kể chuyện lại với người làng và khi tin này đến tai nhóm cộng-sản ở Nghệ-An, họ bèn cử người sang tìm ông Hồ, khẩn khoản yêu cầu ông tìm cách giải-quyết vấn-đề chia rẽ nội bộ, hiện rất trầm trọng. Ông Hồ nhận lời, nhưng mãi một năm sau ông mới được Ðệ tam Quốc-tế cho phép.

 Một điều đáng chú-ý là ông Hồ đã từng hoạt-động ở Trung-Hoa mà nay lại phải đổi sang Xiêm, thuộc một khu vực văn hóa khác hẳn. Việc này cũng như nhiều việc khác chứng tỏ, sau khi thất bại thảm bại ở Trung-Hoa và nhất là sau khi Mao-Trạch-Ðông đi trái đường lối của Ðệ tam Quốc tế, Stalin đã tỏ ý chán ghét cộng-sản Tàu. Vì bỏ rơi Trung Cộng, nên Stalin cũng bỏ rơi luôn cả Việt-cộng mà Stalin coi là một chi nhánh. Nhận định rằng cộng-sản da trắng ngoan ngoãn hơn và trung thành hơn cộng-sản da vàng, Stalin đưa ra kế-hoạch "tập hậu" các đế-quốc tư-bản bằng cách ra lệnh cho các đảng cộng-sản Pháp, Anh, Hòa-lan tổ chức cộng-sản ở các thuộc-địa của mấy nước này ở Ðông Nam Á. Vì vậy nên Nam Hải Vụ càng ngày càng quan trọng hơn Ðông Á Vụ. Nhưng từ 1930 trở đi Stalin lại nhận thấy rằng cộng-sản không thể bành-trướng ở mấy thuộc-địa này, nếu không có sự tham gia của Hoa-kiều, vì hồi đó Hoa-kiều tương-đối giác ngộ chính-trị nhiều hơn dân địa phương. Trụ-sở liên lạc lại đưa trở về Thượng-hải, và sau này về Hồng-kông. Trong khi ấy thì Mao-Trạch-Ðông đã tiến dần về phía Tây, bỏ trống miền duyên-hải. Thấy không còn ảnh hưởng của họ Mao, Stalin lại để ý đến miền này vì là miền khá nhiều công-nghệ và công-nhân, và cử một phái đoàn tới Thượng-Hải để lo xây-dựng lại phong trào. Nhờ chủ trương mới này, ông Hồ mới có dịp trở về Hoa-Nam, gặp lại các đồng-chí cũ của ông mà trong mấy năm liền ông không được phép liên lạc.

 Ngày 6 tháng Giêng năm 1930, ông Hồ triệu-tập đại-biểu ba đảng Cộng-sản đến Hồng Kông, "đả-thông tư-tưởng" và hợp nhất ba đảng làm một lấy tên là "Việt-Nam Cộng-sản Ðảng", nhưng mười tháng sau đổi lại là "Ðông Dương Cộng-sản Ðảng", có ý bao gồm cả Lào và Cam-Bốt. Ðể đi sát với phong-trào, trụ-sở của Tổng-bộ cũng đưa về quốc-nội, đặt tại Hải-phòng. Sau công-tác này, ông Hồ được chỉ-định làm Vụ-trưởng Ðông-Á Vụ và giữ việc liên-lạc giữa Moscou và tất cả các cơ-quan hoạt-động của đệ-tam Quốc-tế tại Ðông và Ðông Nam Á-châu.

 Vì trách-nhiệm quá lớn, và bao biện nhiều việc nên ông Hồ phải ủy-thác phong-trào Việt-Nam cho các đồ-đệ của ông. Những người này đều là thanh-niên chưa chín chắn như ông Hồ, và vì phần đông đã được huấn-luyện bên Tàu nên họ dễ bị ảnh-hưởng của Cộng-sản Trung-Hoa. Vì được chứng-kiến vụ Quảng-châu Công-xã, vụ Nông-dân Bạo-động ở Hồ-nam, nên phấn-khởi muốn noi gương bạo động của Trung-cộng. Việc V.N.Q.D.Ð. bị thất-bại đau đớn năm 1930 cũng kích-thích họ muốn làm hơn phe Quốc-gia. Một mặt khác, nạn kinh-tế khủng-hoảng trên thế-giới đã tràn tới Việt-Nam và làm cho nông-dân Việt-Nam điêu đứng. Năm nào cũng được mùa thóc thừa thãi, nhưng gạo không xuất-cảng được khiến từ địa-chủ đến bần-cố-nông đều sống dở chết dở. Nông-thôn bị kiệt-quệ khiến thương-gia ở thành-thị cũng bị phá sản. Tất cả mọi từng lớp nhân-dân đều "méo mặt" duy chỉ có công-chức là, trái lại, phong lưu hơn trước. Vì lương vẫn y nguyên mà, vì nạn giảm-phát, giá-trị đồng bạc tăng lên 4, 5 lần. Công-nhân những xí-nghiệp lớn cũng được coi là may mắn vì số lương tuy có bị giảm ít nhiều, nhưng dù sao cũng còn "đồng ra đồng vào", không như các tầng lớp khác trong dân gian, không chạy đâu ra tiền đong gạo và đóng thuế.

 Vì công-nhân và công-chức tự thấy may mắn hơn người khác nên phải cố bám lấy việc làm. Vì vậy Việt-Cộng không thể vận-động họ đấu-tranh theo đúng chủ-trương của Đệ-tam Quốc-tế. Ngược lại, vì nông-dân mỗi ngày một điêu-đứng nên tình-hình nông-thôn sẵn-sàng bùng nổ. Họ chết đói trong khi gạo phải dùng để đốt "xúp-de". Ðứng trước tình-trạng ấy, Việt-cộng không kìm hãm nổi ý thích bắt chước Trung-cộng tổ-chức nông-dân khởi loạn. Nhân ngày 1-5-1930, họ huy-động nông-dân kéo đến huyện lỵ biểu-tình đông như kiến. Chính-phủ thuộc-địa dùng lính lê-dương đàn áp, nã liên-thanh vào đoàn người biểu-tình. Bị thất-bại, các lãnh-tụ cộng-sản ở Nghệ-An rút lui về một vài căn cứ và tuyên bố thành-lập chính-quyền Soviet, theo in hệt kế-hoạch của Mao-Trạch-Ðông đã từng áp-dụng ở Hồ-Nam từ bốn năm trước. Nhưng sở dĩ ông Mao còn duy-trì được phong trào vì ông đã tổ-chức Hồng-quân để kháng cự với quân-đội "Tàu-phù" của Tưởng-giới-Thạch, không lấy gì làm oai hùng lắm. Còn Việt-cộng thì hồi đó chưa hề tổ-chức dân-quân nên không thể nào chống cự nổi sự đàn-áp của lính lê-dương. Vài tháng sau phong trào Soviet Nghệ-An hoàn toàn tan vỡ và đến cuối năm 1931 tất cả các đảng-viên cộngsản đều bị Pháp bắt và đưa đi tù đày.

 Về phần ông Hồ thì ông bị người Anh bắt ở Hồng Kông cuối năm 1931. Ðược tha, có lẽ là vào khoảng năm 1932 (không có tài liệu đích xác về ngày ông đựợc tha) ông đi Singapore, bị bắt tại đấy rồi điệu trở về Hồng Kông. Vì bị bệnh lao, hoặc khai là vậy, ông được đưa về bệnh-viện rồi đột nhiên ông mất tích. Chính quyền Anh ở Hồng Kông không hề tuyên bố bề việc ông Hồ đã biến mất trong trường hợp như thế nào, nhưng có dư luận ngờ rằng ông đã bí-mật thỏa thuận với mật-thám Anh là nếu để ông thoát, ông sẽ giúp họ một việc quan trọng nào đó. Việc này cũng rất có thể vì trước kia ông Hồ đã từng thỏa thuận như vậy với mật thám Pháp (Xem Chương 2). Báo Daily Worker, cơ-quan của Ðảng Cộng-sản Anh đăng một tin vắn tắt, nói ông Hồ đã chết vì bệnh lao trong khám đường Hồng Kông nên cả mật thám Pháp lẫn Cộng-sản Việt-Nam đều tin là thực. Năm 1933, mật-thám Pháp ghi vào hồ-sơ Nguyễn-Ái-Quốc là đã chết ở Hồng Kông. Không ai biết ông Hồ đi đâu, nhưng có điều chắc là từ ngày ông biến khỏi Hồng Kông cho đến năm 1941 ông im hơi lặng tiếng trên trường chính-trị không hề liên-lạc với Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng.1

Ngoài ông Hồ và một số nhân viên cao cấp trong điện Kremlin, không ai có thể biết ông ở đâu và làm gì trong thời gian tám năm ông biệt tích. Ngay đến Nguyễn-Khánh-Toàn, dạy Việt văn ở Moscou từ 1927 cũng tin là ông Hồ đã chết thực. Sau khi về nước, Toàn có tâm sự với một số bạn bè về nỗi ngạc nhiên khi thình lình thấy ông Hồ tới nhà, vào đầu năm 1941. Ông Hồ đến để rủ Toàn về nước hoạt-động cách-mạng. Toàn đồng-ý và chỉ mấy ngày sau, giấy tờ làm xong hai người đáp tàu xuyên Si-bê-ri về Diên-An.

Toàn cũng tiết-lộ một câu chuyện về đời tư của ông Hồ. Toàn nói, mấy giờ sau khi hai người lên đường, một thiếu phụ người Nga đến gõ cửa, nói là để làm vợ ông Hồ trong khi ông lưu trú tại Moscou.

 Ðối với những người quá bí-mật như ông Hồ thì ai nói gì chúng ta hẵng biết làm vậy, không nên tin hẳn mà cũng không nên gạt hẳn. Nhưng xét cho cùng thì câu chuyện của Toàn cũng không phải hoàn toàn vô-lý vì chính ngay Toàn, đã có vợ Nga và có con ở Moscou, mà khi ghé qua Diên-An cũng "có" ngay một cô vợ Tàu, đẻ luôn hai con. Rồi khi về Việt-Nam năm 1946, lại về một mình và hai năm sau "chính thức" lấy một con gái điền-chủ mới 17 tuổi (Hồi ấy Toàn đã 50). Hình như Đệ-tam Quốc-tế có lệ cung-cấp "vợ giai-đoạn" cho những cán-bộ quốc-tế vì thường xuyên phải lưu-động và giữ tông-tích bí-mật nên không mang gia-đình theo được. Những "vợ" của các cán-bộ đi lại được "gán" cho các cán-bộ đến, thành một thứ "vợ luân chuyển". Việc Thiếu-tướng Nguyễn-Sơn sau khi bỏ vợ ở Diên-An về nước được Hội Phụ Nữ Cứu-Quốc gán hết nữ cán-bộ này đến nữ cán-bộ khác cho phép chúng ta ngờ rằng những việc "kiếm vợ" cho các cán-bộ lưu-động thuộc trách-nhiệm các đoàn-thể phụ-nữ địa-phương. Việc Toàn rất đỗi ngạc nhiên khi thấy ông Hồ đột nhiên đến nhà tăng thêm giá-trị, giả-thuyết ông Hồ đã bị "cấm cố" tại một địa-điểm nào đó trong nội-địa Liên-Xô từ 1933 đến 1941. Ðấy chỉ là một giả-thuyết, nhưng có một điều chắc chắn là năm 1941 ông đến Diên-An với Toàn là lần đầu tiên. Giả-thuyết ông bị Stalin đưa đi cấm cố cũng dựa trên một lý luận khác nữa. Hồi phong-trào Sô-viết Nghệ-An phát khởi, thái-độ của ông Hồ không được rõ rệt. Hình như ông không tán thành, nhưng ông không hề ngăn cản, hoặc ngăn cản không nổi. Trong khóa Chỉnh-Huấn năm 1953-54, Ðảng-ủy có giảng là ông Hồ bỏ phiếu chống việc phát-động nhân-dân bạo-động, theo kiểu Mao-Trạch-Ðông mà Stalin cho là phản lại đường lối Lenin, nhưng vì chỉ có một mình ông chống nên vì thiểu số, ông phải phục-tùng đa-số. Câu chuyện này cốt ý đề cao tinh thần phục tùng đa-số của ông Hồ. Dù ông Hồ không ngăn cản, hoặc ngăn cản không nổi, đấy cũng là lần đầu tiên ông phạm khuyết điểm về lãnh-đạo, và không làm tròn nhiệm-vụ Stalin và Ðệ tam Quốc-tế đã giao phó cho ông. Có lẽ vì ông Hồ phạm khuyết-điểm về phong-trào Soviet Nghệ-An nên Stalin mới quyết-định giao trách-nhiệm lãnh-đạo Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng lại cho Maurice Thorez, lãnh-tụ Cộng-sản Pháp. Stalin phải "đưa" ông Hồ đi khuất một chỗ, nếu không phải là để trừng phạt, thì cũng là để Thorez có điều kiện nắm trọn quyền, vì nếu ông Hồ còn lảng vảng ở Á-Ðông, thì rất có thể Việt-cộng vẫn tiếp tục nghe theo ông Hồ mà không chịu tuân lệnh Thorez. Vắng mặt ông Hồ, Ðảng Cộng-sản Pháp nghiễm nhiên làm trung-gian giữa Moscou và Việt-cộng. Thể thức này tồn tại trong mười năm, cho đến ngày Thế-Chiến thứ Hai cắt đứt mọi giao-thông giữa Pháp và Việt-Nam.

1 Ngày nay Việt Cộng nói ông Hồ ở Diên-An và có gửi bài về đăng báo Le Travail (1937) nhưng đấy là chuyện hoàn toàn bịa đặt.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét