Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

TỪ THỰC DÂN ĐẾN CỘNG SẢN


Nguyên tác tiếng Anh của Hoàng Văn Chí
Người dịch: Mạc Định

Chương 4

CỘNG-SẢN XUẤT HIỆN

Lịch trình phát triển của Cộng-sản ở Việt-Nam, kể từ ngày có những tiểu tổ Cộng-sản đầu tiên trên đất Việt cho đến ngày toàn thể Bắc Việt nằm dưới chế độ vô sản chuyên chính, có thể tạm chia làm sáu giai đoạn, mỗi giai đoạn là một phong trào đấu tranh thuận theo hoàn cảnh và tình hình lúc bấy giờ.

Vì vậy nên mỗi phong trào có một khẩu hiệu, một chương-trình giai-đoạn và một chiến lược khác nhau. Việc điều khiển từ bên ngoài cũng thay đổi mỗi thời kỳ một khác. Có khi Việt Cộng trực tiếp nhận huấn thị từ Moscou hoặc Bắc-Kinh, có khi phải thông qua một trạm liên lạc đặt ở Quảng-châu, Thượng-hải, Bangkok, hoặc Paris. Ðại để thì sau mỗi cuộc đấu tranh rầm rộ, hoặc bị khủng bố quá nặng nề, hoặc vì chia rẽ nội bộ, phong trào lại tạm lắng yên trong một thời gian. Sáu phong trào chính, đáng nêu lên là :
1. Phong trào Thanh-niên (1925 - 1929)
2. Phong trào Sô Viết Nghệ An (1930 - 1932)
3. Phong trào Mặt Trận Bình Dân (1936 - 1937)
4. Phong trào Việt Minh (1941 - 1946)
5. Phong trào Kháng chiến (1946 - 1954)
6. Phong trào Cải Cách Ruộng Ðất (1953 - 1956)

 Mục đích của phong trào Cải Cách Ruộng Ðất là thiết lập nền "vô-sản chuyên chính". Sự thực thì phong trào này đã được bố trí từ năm 1951 bằng đạo luật Ban bố Thuế Nông-Nghiệp và cuộc đấu tranh chính trị (xem Chương 7). Trong chương này chúng tôi chỉ kể qua năm phong trào đầu với mục đích làm sáng tỏ phong trào thứ sáu mà chúng tôi sẽ trình bày cặn kẽ trong các chương sau, vì phong trào thứ sáu này mới thực sự áp dụng chiến-thuật Mao-Trạch-Ðông để thiết lập chế độ cộng sản ở Việt-Nam.

 PHONG TRÀO THANH-NIÊN

 Chỉ mấy tháng sau khi ông Hồ được Ðệ Tam Quốc Tế phái sang Quảng-châu, năm 1925, là ông tổ chức ngay Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội. Giả dạng là người Tàu, ông Hồ theo chân phái bộ Nga sang Quảng-Châu với chức vụ công khai là thông dịch viên cho phái bộ, nhưng kỳ thực ông không có trách nhiệm nào khác là tìm cách truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào nội địa Việt Nam. Ông mang thông hành Tàu, ghi tên là Lý Thụy, nhưng đối với một số Việt kiều ở Quảng-châu ông nói thực ông là người Việt. Ông lấy bí danh là Vương-sơn-Nhi nên nhiều người thường gọi ông là ông Vương. Có một điều đáng chú ý là thuở ấy, vì mới bắt đầu hoạt động cách mạng, nên ông Hồ còn phạm khuyết điểm về việc dấu kín tung tích. Khi ông lấy bí hiệu là Vương-sơn-Nhi ông đã dùng lối "triết tự" vì ba chữ Vương-Sơn-Nhi gộp lại thành chữ Thụy. Vì vậy nên những người Việt có học chữ nho biết ngay Vương-Sơn-Nhi với Lý-Thụy chỉ là một. Cũng vì sơ hở nên chẳng bao lâu mọi người đều biết ông là Nguyễn-Ái-Quốc, một cán bộ cộng sản đã từng nổi tiếng ở Pháp. 15 năm sau, ông trở lại vùng này với một tên khác là Hồ-Chí-Minh, nhưng ông hết sức bí mật nên không ai đoán được tông tích của ông, kể cả ông Nguyễn-Tường-Tam cùng bị giam trong một nhà tù.

 Quảng-Châu là trung tâm cách-mạng của Tôn-Dật-Tiên và hồi ấy hãy còn là thủ đô chính trị và hành chánh của chính phủ Quốc Dân Ðảng. Việc thiết lập trường Trung Ương Quân Sự Chính Trị ở Hoàng-phố, gần đấy, biến Quảng-châu thành một trung tâm phản-đế thu hút một số đông thanh niên ở khắp Ðông Nam Á, tới đấy để nghiên cứu chính trị và luyện tập quân sự. Việt-Nam chiếm đa số trong nhóm này.

 Tới Quảng-châu vào đầu năm 1925, ông Hồ bắt đầu tổ chức Việt-Nam Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội để tuyên truyền chủ-nghĩa cộng-sản. Nhưng vì những người Việt-Nam lưu vong ở Quảng-châu đã có chân trong các đoàn-thể quốc-gia có sẵn từ trước, nên ông Hồ phải tự nhận là quốc-gia, làm thân với mấy lãnh-tụ quốc-gia với mục-đích thu hút những đảng-viên thanh-niên trong mấy tổ-chức này.

Ông Hồ biết rõ những người Việt lớn tuổi đã có căn bản Nho-giáo vững chắc, khó lòng tin theo chủ-nghĩa Mác-xít, nên ông chỉ chú trọng đến những phần-tử thanh-niên, cựu học sinh các trường Pháp-Việt và do đó đã hấp thụ được ít nhiều tây học. Rất may mắn cho ông là chỉ một năm sau, hàng trăm thanh-niên bãi khóa năm 1925, bị khủng-bố, chạy trốn sang Tàu. Trong số những thanh-niên mới xuất ngoại này, ông Phặm Văn Ðồng, hiện nay làm thủ-tướng Bắc Việt là người học cao nhất. Ông Ðồng đang học trường Bưởi, sửa soạn thi tú tài thì bãi-khóa và bị đuổi. Những thanh-niên khác đều học ở các lớp dưới, nhưng tất cả đều có một điểm giống nhau: họ không có lấy một chút nho học, mặc dầu họ đều xuất thân trong các gia-đình nho học.

 Ông Hồ giảng dạy cho các đồng-chí Thanh-niên của ông một số bài về Cách Mạng Nga, lý-thuyết Mác-xít về đấu tranh giai-cấp và một vài tác-động cách mạng. Ông dạy họ cách in truyền đơn bằng thạch, cách vận động dân chúng biểu tình, xúi dục công nhân đình công, v. v... Chương-trình huấn-luyện của ông chỉ có sáu tháng là xong. Cuối năm 1925, ông đã huấn luyện xong một khóa, tuyển lựa những người xuất sắc vào ban lãnh-đạo Thanh-niên còn những người khác thì phải về Việt-Nam tuyên truyền tôn chỉ của Hội và bí-mật tuyển mộ thêm hội-viên. Trụ-sở của Hội đặt ở Quảng-châu. Ban Trung-ương phụ trách xuất bản tờ báo lấy tên là Thanh-Niên và phiên dịch những tài-liệu cộng-sản từ chữ Tàu sang tiếng Việt.

 Những loạt tài-liệu đầu tiên này thường dịch không sát nghĩa, vì ngay những người Tàu dịch từ nguyên bản tiếng Nga hoặc tiến Ðức sang tiếng Tàu đã dịch sai rồi, đến khi dịch từ tiếng Tàu sang tiếng Việt lại sai thêm một lần nữa. Có nhiều danh-từ người Tàu dịch sai như Cộng-sản (của chung) hoặc vô-sản (không có của) vẫn còn dùng cho đến ngày nay, nhưng dùng mãi nên quen. Vì dịch không đúng nên hồi ấy các tài-liệu nói về chủ-nghĩa Mác-xít rất khó hiểu. Mãi mấy năm sau, khi có những tài liệu cộng sản xuất bản ở Pháp sang tới Việt-Nam, nhiều người mới có dịp nghiên cứu cặn kẽ chủ-nghĩa Mác-xít.

 Vì ông Hồ đã được huấn luyện chính-trị ở Moscou trong những năm Stalin mới cầm quyền nên ông hết sức tin tưởng hai nguyên tắc căn bản của lý-thuyết Stalin-nít :
 1 - Muốn thành lập vô-sản chuyên chính nhất thiết phải trải qua hai giai-đoạn: một cuộc cách mạng tư-sản dân-quyền trước, rồi một cuộc cách-mạng vô-sản sau. Cách mạng tư-sản dân-quyền dọn đường cho cách-mạng vô-sản.
 2 - Chỉ có giai-cấp công-nhân mới có đủ tài đức để lãnh đạo cách mạng. Giai-cấp nông-dân, vì bản-chất hẹp hòi hám lợi, nên chỉ có thể coi là "bạn lâu dài" của cách mạng.

 Vì gắn bó với nguyên tắc thứ nhất, nên trong thời kỳ đầu ông Hồ trông chờ một phần nào ở sự thành công của phe Quốc-gia, ông đợi họ bắc một nhịp cầu để ông bước qua tiến tới cách mạng vô-sản, in hệt như Lênin đã thực hiện ở Nga. Vì vậy nên ông coi những phần tử quốc-gia như "bạn giai-đoạn", mặc dầu ông vẫn tìm hết cách để lấn át. Thực-dân Pháp trông thấy cộng-sản tranh chấp với quốc-gia và nhiều lần phản-bội phe quốc-gia, nên nhẹ tay một phần nào với cộng-sản. Pháp trông thấy ở cộng-sản một địch thủ lợi hại đối với quốc-gia và hy vọng cộng-sản sẽ tiêu hủy phe quốc-gia mà Pháp ghét nhất vì Pháp cho họ là những phần-tử "cực-đoan chống Pháp". Tuy những khẩu hiệu của cộng-sản cũng chống đối thực dân, nhưng tương đối không dữ dội bằng khẩu hiệu của phe quốc-gia.
 Vì tin ở nguyên tắc thứ hai nên trong thời-kỳ đầu, ông Hồ chú trọng tuyên truyền và tổ chức công-nhân, nhiều hơn nông-dân. Ông chủ-trương huấn-luyện chủ-nghĩa Mác-xít cho một số trí-thức nửa mùa rồi dùng họ để tuyên truyền và tổ chức công nhân ở mấy trung-tâm kỹ-nghệ, thành lập những tiểu tổ cộng-sản.

 Chương trình của ông Hồ và của đệ-tam Quốc-tế là như vậy. Nhưng có nhiều biến-cố xảy ra khiến cộng-sản mất uy-tín đối với nhân dân và đưa lại những hậu-quả không tính trước. Việc đầu tiên là các tiểu tổ cộng-sản thiếu tiền để hoạt-động, và muốn "kinh tài", họ tổ chức "tống tiền" các nhà giàu. Vì chỉ mới được huấn-luyện qua loa nên những đảng viên cộng-sản đầu tiên coi bất cứ người khá giả cũng là "kẻ thù" của "vô-sản". Giới tư-sản lúc đầu có cảm-tình với cộng-sản, nhưng sau vì bị tống tiền nhiều quá nên hết tín nhiệm.

 Vì cộng-sản tống tiền khắp nơi, nên chính-quyền thuộc địa cũng được dịp khép cán-bộ cộng-sản vào tội "cướp của giết người" và giam họ cùng với thường phạm.

Việc thứ hai là vụ ông Hồ chủ-trương bắt cụ Phan Bội Châu nộp cho Pháp khiến cho phe quốc-gia bắt đầu ngờ vực và cắt đứt mọi liên lạc.

 Việc không ngờ thứ ba là năm 1927, đột nhiên Tưởng-giới-Thạch trở tay "phản cộng", bất thình lình tiêu diệt đồng-minh cộng-sản đương cộng-tác với ông trong cuộc hành quân Bắc Phạt. Việc "trở mặt" của họ Tưởng chặn đứng công cuộc vận động của Nga ở Trung-Hoa và ở khắp Á-Ðông. Trưởng phái-bộ Nga là Michael Borodin đã từng làm cố vấn chính-trị cho Trung-Hoa Quốc-dân-đảng từ thời ông Tôn-Văn phải vội vã rời khỏi Trung-Hoa, mang theo tất cả nhân-viên phái-bộ, trong số có ông Hồ.
 Hôm Tưởng-Giới-Thạch ra lệnh giết Cộng thì ông Hồ đang huấn luyện chính-trị các đảng-viên Thanh-niên. Ông đình ngay lớp học và khuyến cáo các đảng-viên ai nấy nên tìm cách thoát thân về nước.

 Hôm sau, một đảng-viên gặp ông ở Quảng-châu, tỏ ý lo ngại và vấn kế ông. Ông Hồ lấy bút chì viết vào mảnh giấy bốn chữ "Tuế hàn tùng bá" và trao cho anh ta. Ý ông Hồ muốn nói là trong cơn khủng-bố những người cách mạng phải giữ vững tinh thần và chỉ có những lúc cách mạng điêu đứng mới rõ ai là người vững tinh thần cũng như mùa đông rét mướt mới thấy rõ cây tùng và cây bá vẫn giữ được mầu xanh, lâu hơn các cây khác.

 Từ Quảng-châu Borodin chạy lên Hán-Khẩu để hội-đàm với Uông-Tinh-Vệ, vì họ Uông cũng chống với Tưởng và chiếm cứ Hán-Khẩu, thành lập chính-phủ Vũ-Hán. Borodin hứa Liên-xô sẽ giúp Uông chống Tưởng đến cùng, nên Uông bằng lòng thực-hiện cải-cách ruộng-đất để lôi kéo nông-dân.

Nhưng rốt cuộc, Uông không nghe lời Borodin và đầu hàng Tưởng. Sau đó toàn thể phái đoàn Nga, trong số đó có ông Hồ phải lên đường về Moscou. Từ ngày ấy trở đi, phong trào cộng-sản Á-châu chuyển một hướng mới, không theo ý muốn của đệ-tam Quốc-tế.

 Trước khi lên đường về Nga, ông Hồ chọn người lớn tuổi nhất trong Thanh-niên, tức là ông Hồ-Tùng-Mậu, để thay thế ông điều khiển Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội. Ông Mậu là người rất xứng đáng vì ông cũng khôn ngoan và cẩn thận như ông Hồ. Ông Hồ dặn ông Mậu nhất thiết phải bám sát đường lối đã vạch sẵn, nghĩa là tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác dưới hình thức chống thực-dân. Ông Hồ cũng dặn là nên tránh những khẩu hiệu quá khích, có tính cách đấu-tranh giai cấp và có thể gây ảnh hưởng xấu đối với giai cấp tư-sản Việt-Nam mà cộng-sản còn đang cần sự ủng-hộ. Ông Mậu theo đúng lời ông Hồ dặn nhưng chẳng may chỉ một năm sau, ông Mậu bị Quốc-Dân-Ðảng Tàu bắt. Người thay thế ông Mậu là Lâm-Đức-Thụ và tư cách ông Lâm-Đức-Thụ như thế nào chúng ta đã thấy rõ trong Chương 2.

 Tháng 5, 1927, Thụ triệu-tập toàn quốc đại-hội tại Hong-Kong. Trong nước phái đại-biểu sang dư, nhưng ba đại biểu tỏ ý bất bình vì nhận thấy Thụ sinh sống một cách quá xa-hoa. Hắn ở một khách sạn vào bực sang nhất, uống rượu whisky và hút xi-gà Manila loại hảo hạng. Họ trông rõ Tổng-bộ ở Hồng-kông đã "hủ hóa" và "hữu khuynh" nên khi họ đề nghị bỏ Thanh-niên, lập Cộng-sản, và đề-nghị của họ bị Thụ bác bỏ, họ đập cửa ra về. Về tới quốc-nội, họ tự động thành lập một đảng Cộng-sản, mệnh danh là Ðông-Dương Cộng-sản Ðảng. Thấy đảng này phát-triển mạnh, Thụ thấy cần phải đổi Thanh-Niên Cách-mệnh Ðồng Chí-hội thành một đảng Cộng-sản khác, mà Thụ đặt tên là An-Nam Cộng-sản Ðảng. Cùng lúc ấy, một số đảng-viên Tân-việt tả khuynh cũng lập một đảng cộng-sản thứ ba, lấy tên là Ðông-Dương Cộng-sản Liên-Ðoàn. Như vậy là cùng một lúc, trong nước có đến ba đảng cộng-sản tranh chấp với nhau. Pháp được dịp đàn áp và không bao lâu hầu hết các đảng viên ba đảng đều bị bắt, và phong-trào cộng-sản hoàn toàn xuy xụp.

 (Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét