Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

TAJ MAHAL (Tiếp theo và hết)

Ngự Thuyết
  
(Tiếp theo và hết)

Đến New Delhi, thủ đô của nước Ấn Độ mênh mông có trên một tỷ người, chúng tôi đành tạm hoãn lại công việc đi đây đi đó thăm viếng cái đã. Thời gian quá hạn hẹp mà Delhi thì quá lớn lao. Hãy chờ lần trở về sẽ ghé lại New Delhi lâu hơn để thăm các nơi nổi tiếng như Pháo Đài Đỏ (The Red Fort), Cửa Ngõ Ấn Độ (India Gate), Đền Hoa Sen (Lotus Temple), Đài Kỷ Niệm Akshardham, Đài Tưởng Niệm Thánh Gandhi, Bảo Tàng Viện Quốc Gia Ấn Độ, vân vân...

Rời New Delhi, chúng tôi vội vàng đáp xe lửa đi Agra thuộc tiểu bang Uttar Pradesh nơi đó có Taj Mahal. Tôi từng nghe tiếng tăm lớn của Taj Mahal. Đó là một trong những đền đài nổi tiếng nhất của loài người, được sắp hạng một trong bảy kỳ quan hiện đại của thế giới. Đó là một giấc mơ bằng cẩm thạch (A dream in marble) như ý kiến của nhiều khách đến viếng thăm, hay nói như thi hào Tagore, một giọt lệ trên khuôn mặt của thiên thu (A tear in the face of the eternity).

Chiều hôm ấy, xuống xe đi bộ một quãng ngắn, thấy Taj Mahal đằng kia, tôi bỡ ngỡ. Từ xa trông nó nguy nga đồ sộ nhưng hình như nó không giống Taj Mahal trong những tấm ảnh tôi có. Đến gần hơn mới biết mình nhầm. Đó không phải là Taj Mahal, mà chỉ là cái cổng vào. Cổng vào mà đã thế! Bỗng dưng tôi nhớ mang máng đến một bài thơ tiếng Anh trong cuốn L’Anglais Vivant của Carpentier Phialip, cuốn dành cho lớp đệ tứ (nay là lớp 9), bài đọc thêm. Bài thơ nói lên nỗi lòng của một chiến sĩ trong đêm trước một trận đánh vô cùng ác liệt, một sống một còn, sẽ diễn ra vào ngày hôm sau. Đêm ấy anh không thể nào ngủ được. Anh nhớ người yêu. Anh nhớ từ con mắt, vầng trán, mái tóc, thân hình của nàng. Nhớ luôn cái tà áo, cái mép ghế mà tà áo vướng vào. Rồi nhớ cả cô hầu thường tiếp anh trước khi anh được gặp người yêu, mà cô hầu cũng đẹp lắm. Thì ở đây cũng thế, cái cổng vào đúng là cô hầu ấy rồi, và cô chủ đang chờ chúng tôi ở trong kia.

Bước vào khỏi cổng chúng tôi phải dừng lại khá lâu trước khu kiểm soát. Chúng tôi được khám xét cẩn thận xem có mang vũ khí hoặc chất nổ hay không. Xong đâu đấy lính bảo vệ mặc sắc phục kaki vàng vai mang súng, tay cầm đèn bấm đưa chúng tôi theo con đường nhỏ đi đến ngôi đền. Lúc ấy đã gần tối, đèn điện tù mù, leo lét. Xế xế chân trời mảnh trăng thượng tuần trông như hình chiếc lưỡi liềm treo nghiêng. Trời lác đác sao. Và đây rồi, Taj Mahal đứng lồng lộng. Lồng lộng và cô đơn.

Nhìn vào bản đồ Ấn Độ, nếu thấy nó na ná như một phần hình nửa người đang dang rộng cánh tay trái thì thành phố Agra nằm hơi nghiêng về phía ngực trái và Taj Mahal là quả tim – tôi thấy như thế. Taj Mahal, quả tim Ấn Độ, tôi thì thầm nói cho tôi nghe. Đó là một kiến trúc khá đồ sộ, cao hơn một ngôi nhà mười tầng kể từ mặt đất lên đến đỉnh của cái vòm chính. Cái vòm này đứng ngay giữa khuôn viên hình vuông có bốn trụ cao ở bốn góc và được bao quanh bởi bốn vòm phụ thấp hơn. Lối kiến trúc này trông khá quen thuộc tại Ấn Độ mà tôi đã gặp ở những nơi khác, đó là mẫu kiến trúc mang ảnh hưởng Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng Taj Mahal trông thật nhịp nhàng, cân đối, lộng lẫy hơn tất cả những đền đài cùng một kiểu mẫu.

Cái vòm chính giữa cao vút ấy của Taj Mahal uốn cong thành giọt lệ như lời thơ Tagore chăng? Và dưới khung trời mờ ảo, giọt nước mắt ấy trông rưng rưng nhưng không rơi xuống, trái lại như muốn bay bổng lên cao để đi sâu vào trong lòng vũ trụ. Nó gợi nên cảnh chia ly, nó xui ta nghĩ đến cái bơ vơ của kiếp người ngắn ngủi, dù người đó là ông vua si tình, là hoàng hậu thủy chung.

Hoàng đế Shah Jahan bắt đầu cho xây ngôi đền vào năm 1631, một năm sau cái chết của Hoàng hậu Mumtaz Mahal, người đã chia ngọt sẻ bùi với nhà vua trong 19 năm trời, có với nhau 14 đứa con, sống êm đềm trong nhung lụa của chốn đế đô cũng như dạn dày gian nguy ngoài trận tiền. Lúc hoàng hậu mới 39 tuổi, bụng mang dạ chửa, hạ sinh đứa con thứ 14 thì từ trần khi bà theo chồng đánh đông dẹp bắc tại vùng cao nguyên Deccan rộng mênh mông. Vua Shah Jahan là một trong những vị vua anh hùng nhất trong lịch sử Ấn Độ, và thời đại của ông cũng là thời đại vinh quang, thịnh trị nhất. Để nhớ người vợ yêu quý, nhà vua cho xây ngôi đền, 20 năm mới hoàn thành, với số nhân lực lên đến 20 ngàn người. Thường người ta cứ cho rằng những mối tình thơ mộng dang dở của những Tristan - Isolde, Romeo - Juliet, Phạm Thái - Trương Quỳnh Như, vân vân, mới đáng nhớ, đáng làm đau lòng người, để được thương tiếc, khóc than, để được ghi lại thành những thiên tình sử bi thảm của loài người, để được xây dựng thành tượng đài, lăng miếu. Nhưng ở đây hoàn toàn khác. Thì ra tình nghĩa vợ chồng thủy chung cũng da diết lắm. 

Giọt lệ thiên thu ấy làm cho đêm tháng ba đã lạnh càng lạnh lẽo thêm. Nhưng nước mắt của ai đấy? Nước mắt thương tiếc của nhà vua chăng? Hay là nước mắt của hoàng hậu – toàn bộ kiến trúc mang một vẻ trang nghiêm nhưng sầu muộn, thơ mộng nhưng ảo não, dịu dàng nhưng thổn thức. Đầy nữ tính. Thế thì đó là nước mắt của hoàng hậu. Hay cũng có thể là nước mắt của trời, của trăng nhỏ xuống trần gian như lời của nhà vua trong một bài thơ ngắn được dịch ra tiếng Anh. Tôi xin trích hai câu:
The sight of this mansion creates sorrowing sights

And the sun and the moon shed tears from their eyes.

Tạm dịch:  
Nỗi thương đau hiện lên khi nhìn nhìn thấy ngôi đền này                  
Và trời và trăng cũng không ngăn được dòng lệ.

Đọc hai câu thơ trên, tôi không thể không nghĩ đến vua Tự Đức. Ba vị vua triều Nguyễn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, “đều là những bậc hay chữ và có thi tập cả” (Dương Quảng Hàm - Việt Nam Văn Học Sử Yếu), trong đó vua Tự Đức nổi bật hơn hết. Ông để lại hai tập thơ chữ Hán gồm 18 quyển, và một số thơ chữ Nôm như Thập Điều, Tự Học Diễn Ca, Luận Ngữ Diễn Ca v.v... Quả là một tài sản văn chương vô cùng phong phú chưa được giới nghiên cứu văn học quan tâm đúng mức. Những bài thơ Nôm được truyền tụng nhiều là bài Ngẫu Cảm (Khôn dại cùng chung ba thước đất/Giàu sang chưa chín một nồi kê...) và bài Khóc Thị Bằng Phi

Thử tưởng tượng một người yêu “bé bỏng” quấn quýt bên đấng quân vương không rời nửa bước. Bên hàng hiên, dưới chái nhà, lúc mưa, lúc nắng, giọng oanh vàng của người đẹp vẫn thủ thỉ bên tai nghe như điệu ru êm ái của muôn đời. Buổi sáng tinh sương, buổi trưa nắng chói, cái bóng dáng thanh tân yểu điệu lúc đứng ngoài ngõ, lúc ngồi trong sân, làm duyên, làm  nũng, ẻo lả, e ấp. Bỗng dưng hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm (Lời Phạm Thái khóc Quỳnh Như), giai nhân tức tưởi lìa bỏ cõi trần khiến nhà vua thương tiếc không nguôi, có khi như điên như cuồng đập vỡ chiếc gương nàng từng soi mong tìm lại hình ảnh cũ, hay cất kỹ y phục nàng từng mặc mong giữ lại chút hương xưa:

Mưa hè nắng chái oanh ăn nói
Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàng  y lại để dành hơi

Khác hẳn lời lẽ khá cường điệu trong hai câu thơ của vua Shah Jahan trích dẫn trên kia, Khóc Thị Bằng Phi của vua Tự Đức thấm đẫm tình người,  đầy ắp tiếc thương. Nó tha thiết, âu yếm và ngân lên như tiếng thở dài của thời gian. Tôi lại lan man liên tưởng đến bài trường ca nổi tiếng của Trịnh Công Sơn, Đóa Hoa Vô Thường trong đó có một câu thật đẹp: Có tôi trong dáng em ngồi trước sân. Dường như tiếng ngân của câu thơ “Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi” có chút vang vọng đến người nhạc sĩ tài hoa ấy. 

Lặng nhìn cái vòm cao lồng lộng giữa đêm trăng tháng ba đầu mùa xuân còn khá lạnh, trời sao lác đác, mờ mịt, xa xa những hàng cây đen, những ánh đèn leo lét không đủ sức xuyên thủng lớp sương mù không biết đã dâng lên từ lúc nào, dần dần tôi thấy Taj Mahal như đang rung động. Nó đang biến hình. Nó không còn là giọt nước mắt như lời thơ của Tagore nữa. Nó biến thành cái bầu vú, và đỉnh cao là núm vú. Và mãi đến giây phút ấy thính giác của tôi mới chịu hoạt động, tôi nghe thấy một cái gì đây. Hay đó chỉ là ảo giác. Tôi nghe một thứ âm thanh rờn rợn. Phải chăng đó là tiếng gió rít, gió siết mạnh và cuốn quanh cái bầu vú ấy theo hình xoáy ốc từ dưới lên đến đỉnh để cuối cùng bật ra thành tiếng kêu cao vút, nhọn sắc, thảng thốt. Tôi nghĩ đến bàn tay tuyệt vọng của nhà vua. Bỗng nhiên tôi lại nghe, lần này rõ ràng hơn, tiếng rì rào, thì thầm, miên man, than vãn như từ trong lòng ngôi mộ thoát ra. Hay, nói như Hàn Mạc Tử, đó là “Những lời năn nỉ của hư vô”. Tôi định thần lại cho tỉnh táo để lắng nghe cho kỹ. Lạ quá, âm thanh này dường như có thực. Tôi nghi ngờ giác quan của tôi.

Thời gian qua nhanh, người lính bảo vệ cho biết đã hết giờ thăm, ban đêm giờ thăm chỉ kéo dài nửa tiếng, ban ngày thì tha hồ. Chúng tôi đành giã từ Taj Mahal, hẹn ngày mai trở lại. Tôi đã được cho biết, cũng giống như Grand Canyon của Mỹ, Taj Mahal hiện lên dưới nhiều màu sắc, hình tượng khác nhau tùy theo mùa này mùa nọ trong năm, tùy theo thời khắc trong ngày, trong đêm, tùy theo trời nắng cháy hay mưa gió hay tạnh ráo, tùy theo giông tố bão bùng. Hoặc nếu “Trời không nắng cũng không mưa/Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ thương”, Taj Mahal cũng hiện ra dưới một khuôn mặt khác để dành riêng cho Hồ Dzếnh chăng. Cho nên ngày hôm sau chúng tôi trở lại, như thế ít nhất chúng tôi cũng có thể chiêm ngưỡng ngôi đền này trong hai thời khắc ngày và đêm.  

Ngôi đền bằng cẩm thạch màu trắng, lấp lánh hồng nhờ lớp gạch đỏ và mỏng khảm vào, hiện lên lung linh, tráng lệ, giữa nắng trưa rực rỡ. Một hồ nước hình chữ nhật hẹp và dài nằm thẳng góc với mặt chính diện của ngôi đền, hai bên hồ là hai lối đi lát đá với những thảm cỏ xanh và hàng cây nhỏ chạy song song. Đằng sau ngôi đền, một dòng sông khá rộng uốn mình, muà xuân nước trong xanh, sóng lấp lánh, chảy nhè nhẹ. Tôi nhớ lại đêm hôm qua. Thì ra trong những âm thanh đầy mê hoặc có tiếng sông trôi mà tôi nghĩ là tiếng than vãn phát ra từ lòng mộ. Sông chảy hay sông trôi, tôi tự hỏi. Đó là con sông Yamuna khá dài, một nhánh của sông Hằng chảy qua thủ đô Delhi và thành phố Agra.    

Chúng tôi đi chầm chậm trên con đường nhỏ bên phải song song với hồ nước, bên trái của hồ cũng có một con đường như thế, rồi bước lên nhiều bậc tam cấp để vào trong ngôi đền. Chúng tôi bị choáng ngợp vì vẻ đẹp của nó. Đâu đâu cũng toàn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tinh vi, lộng lẫy - dưới sàn, trên trần, dọc những hành lang, trên từng bức tường, trên những mảnh đá quý. Đủ thứ ngọc ngà, châu báu ẩn hiện trên những pho tượng, những phù điêu, những chùm đèn, những hàng cột ... Giữa lòng ngôi đền là nấm mộ của hoàng hậu Mumtaz Mahal, bên cạnh có một nấm mộ nhỏ hơn nằm song song, mộ vua Shah Jahan. Theo sử Ấn Độ, vào gần cuối đời, nhà vua lâm bệnh trong một thời gian, nhân đó bị người con trai đoạt ngôi, và  bị giam giữ trong một lâu đài không xa Taj Mahal bao nhiêu để từ lâu đài ấy nhà vua có thể ngày ngày nhìn vọng về ngôi mộ của người vợ yêu quý. Tám năm sau, vua Shah Jahan qua đời. Nghĩa tử nghĩa tận, người con đã cho xây nấm mộ cha bên cạnh mộ hoàng hậu.   

Chúng tôi không thể ở mãi với ngôi đền Taj Mahal này. Dù bữa tiệc của màu sắc, đường nét, hình tượng, chen với ngưỡng mộ lẫn cảm xúc rất phong phú, rất ê hề mà chúng tôi ham hố ăn mãi vẫn muốn ăn thêm, cuối cùng chúng tôi cũng đành phải giã từ. Đi một quãng xa tôi quay lại nhìn để được thấy toàn cảnh. Giữa ban ngày cũng thế, Taj Mahal lộng lẫy nhưng vẫn mang một nét buồn vời vợi khó tả. Tại sao thế? Tôi cố tìm câu trả lời. Thì nấm mộ nào, nghĩa trang nào, đền tưởng niệm nào mà lại có thể mỉm được một nụ cười tươi thắm để trao cho khách viếng thăm làm quà, huống là Taj Mahal vốn sầu muộn này. Thôi, hãy quên chuyện tử biệt sinh ly muôn đời để tìm cái thanh thản mà sống miên man như cây như cỏ. 


 10/2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét